Hội thảo Duyên Hải Bắc Bộ - Môn Ngữ Văn
Năm học 2014 – 2015
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
NHÓM TÁC GIẢ: Nhóm Văn chuyên
Trường THPT…………………………………..
………………….., tháng 08.2015
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích của đề tài
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Lý thuyết
1. Khái niệm
1.1. Nghị luận
1.2. Nghị luận xã hội
1.3. Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
2. Các dạng đề
2.1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
2.2. Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học
2.3. Dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học
3. Kỹ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
3.1. Tìm hiểu đề và tìm ý
3.1.1. Tìm hiểu đề
4
5
7
7
8
9
10
10
10
10
11
11
12
12
13
13
14
14
14
14
19
24
24
29
34
34
40
52
53
71
dễ lẫn với bài nghị luận văn học vì buộc phải đi qua khâu tìm hiểu, phân tích tác phẩm
để xác định vấn đề cần nghị luận. Nhưng nếu yêu cầu của nghị luận văn học là bàn bạc,
phân tích để đánh giá những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của văn bản tác phẩm; thì
yêu cầu của dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là nhằm
rút ra và làm sáng tỏ vấn đề xã hội được đặt ra ở tác phẩm đó trước khi tiến hành nghị
luận ở phần chính. Vì thế, nếu khi làm bài nghị luận văn học, người viết cần cắt nghĩa,
phẩm bình cái hay, cái đẹp của các yếu tố của văn bản như ngôn ngữ, hình tượng về cả
hai phương diện nội dung ý nghĩa và hình thức nghệ thuật; thì khi làm bài nghị luận xã
hội, người viết chỉ cần chú ý đến mặt nội dung, cụ thể là những tư tưởng, đạo lý, hiện
tượng đời sống, những bài học cuộc sống quý giá… được tác giả gửi gắm qua tác phẩm.
Có thể nói, đây là dạng đề đắc dụng trong công tác kiểm tra, tuyển lựa và bồi
dưỡng học sinh giỏi, góp phần mài sắc tư duy tổng hợp và kiến thức văn học, đặc biệt là
kiến thức đời sống của học sinh. Rèn luyện dạng đề này là một công tác vô cùng quan
trọng và cần thiết để bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp.
II. Mục đích của đề tài
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là dạng đề thường
xuyên xuất hiện trong các đề thi chọn học sinh giỏi và có thể là trong các đề thi tuyển
sinh Đại học những năm tới; nhưng đôi khi, nó còn chưa được chú trọng trong nhà
4
trường THPT. Vì vậy, với đề tài này, chúng tôi muốn nhấn mạnh vai trò quan trọng
cũng như đưa ra các kỹ năng cần thiết nhằm giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và triển khai
dạng đề nghị luận vốn mang tính thử thách cao ngay cả với học sinh giỏi quốc gia này.
Thông qua việc rèn luyện kỹ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học, chúng tôi cũng muốn đòi hỏi ở học sinh năng lực tích hợp kiến thức, tư
duy tổng hợp, khả năng phân tích, khái quát cụ thể. Trên thực tế, năng lực văn học của
học sinh biểu hiện chủ yếu ở ba phương diện: nhận thức (bao gồm các cấp độ: biết,
hiểu, ứng dụng, phân tích tổng hợp, đánh giá) một hiện tượng, một sự kiện văn học, xã
hội; qua đó bộc lộ cá tính, tình cảm, thái độ, quan niệm của người viết trước đối tượng
6
của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của
suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Như vậy, làm văn nghị luận là một
cơ hội để học sinh bộc lộ được rõ nét nhất, tập trung nhất vốn hiểu biết về nhiều mặt
cùng những phẩm chất và năng lực của mình, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, năng
lực hoạt động ngôn ngữ.
Dựa vào phạm vi vấn đề được bàn bạc trong bài văn, có thể phân loại hai dạng
bài văn nghị luận: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
1.2. Nghị luận xã hội
Nghị luận xã hội là một dạng bài trong văn nghị luận, dùng lí lẽ và dẫn chứng để
bàn bạc về một vấn đề xã hội nhằm thể hiện quan điểm, tư tưởng, lập trường của người
viết. Nghị luận xã hội không chỉ mang những đặc điểm chung của văn nghị luận mà còn
có những đặc trưng riêng. Trước hết, đề tài của dạng bài nghị luận xã hội hết sức rộng
mở gắn liền với đời sống thực tiễn phong phú đa diện đa chiều. Nó gồm tất cả những
vấn đề về tư tưởng, đạo lí, lối sống, quan niệm sống hay một hiện tượng tích cực hoặc
tiêu cực đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó, có thể nói, nghị luận xã
hội là dạng bài văn ghi đậm dấu ấn cá nhân của người viết nhất. Trước các vấn đề xã
hội, người viết có quyền bộc lộ thẳng thắn suy nghĩ, quan điểm của mình, có quyền
đồng tình hoặc không đồng tình, bảo vệ quan điểm của mình hoặc phản bác những ý
kiến đi ngược lại với nhận thức của bản thân.
Văn nghị luận xã hội được phân loại thành các dạng sau: nghị luận về hiện tượng
đời sống, nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học.
1.3. Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một dạng bài của
nghị luận xã hội, cũng là dạng bài khó nhất. Ở dạng bài này, học sinh bày tỏ suy nghĩ
quan điểm của mình về một vấn dề xã hội, nhưng vấn đề đó lại được rút ra từ ý nghĩa
của tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học được đưa ra trong đề bài dạng này thường từ
Cũng nhằm lựa chọn Học sinh giỏi cấp tỉnh, câu 1 trong đề thi của Sở giáo dục và
đào tạo tỉnh Bắc Giang môn Ngữ văn lớp 12 năm học 2012-2013, là:
Hai biển hồ
Người ta bảo ở bên Pa-le-xtin có hai biển hồ… Biển hồ thứ nhất gọi là biển
Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ
này. Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi. Ai ai cũng đều không
muốn sống gần đó. Biển hồ thứ hai là Ga-li-lê. Đây là biển hồ thu hút khách du lịch
nhiều nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống
8
được mà cá cũng có thể sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn
cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này.
Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông
Gioóc-đăng. Nước sông Gioóc-đăng chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại
riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ
Ga-li-lê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Gioóc-đăng rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ
và sông lạch, nhờ vậy nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối,
muông thú và con người.
(Theo Quà tặng cuộc sống)
Theo anh/chị, bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện trên là gì?
Còn trong đề thi của Sở giáo dục và đào tạo Hải Dương trong kì thi chọn Học
sinh giỏi tỉnh lớp 12 năm học 2013-2014, câu 1 cũng thuộc dạng đề này:
Câu chuyện của hai hạt mầm
Có hai hạt mầm nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ. Hạt mầm thứ nhất
nói: Tôi muốn lớn lên thật nhanh. Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy
lộc xuyên qua lớp đất cứng phía trên...
Tôi muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân...
Tôi muốn cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai
đọng trên cành lá.
tưởng, đạo lí đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà
chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gần gũi với đời sống hàng ngày của
các em học sinh. Kiểu đề này tạo cơ hội cho học sinh được bày tỏ chính kiến của mình
về quan niệm sống, về các vấn đề đạo đức… để từ đó hướng đến việc bồi đắp nhân cách
cho thế hệ trẻ.
Các tác phẩm văn học với chức năng giáo dục cũng thường hướng đến việc thể
hiện một bài học nhân sinh, một thông điệp về lối sống của con người. Trong quá trình
đọc hiểu tác phẩm văn học, học sinh không chỉ tiếp nhận nội dung, cái hay cái đẹp của
bản thân tác phẩm mà còn có thể có những suy ngẫm sâu sắc về vấn đề tư tưởng đạo lí
được đặt ra trong đó. Do đó, đối với học sinh THPT đặc biệt là học sinh giỏi văn, cần
bồi dưỡng dạng đề nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí rút ra từ một tác phẩm văn
học. Dạng đề này giúp học sinh “kết nối” tác phẩm nghệ thụât với những vấn đề cuộc
sống, vừa bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học vừa định hướng tư tưởng, đạo lý đúng
đắn cho học sinh.
Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí trong tác phẩm văn học không xuất
hiện trong các kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học (trước đây) cũng như kì thi
THPT Quốc gia năm 2015. Bởi lẽ đây là dạng đề tổng hợp tương đối khó, chủ yếu dành
10
cho đối tượng học sinh giỏi. Các tác phẩm được sử dụng trong dạng đề này có thể là các
tác phẩm đã học trong chương trình nhưng cũng có thể là các truyện ngụ ngôn, truyện
cực ngắn, truyện ngắn… học sinh lần đầu tiên tiếp cận. Theo tìm hiểu của chúng tôi,
dạng đề nghị luận một tư tưởng đạo lí trong tác phẩm văn học thường xuất hiện trong
các đề thi chọn học sinh giỏi của các tỉnh. Do đó, việc rèn luyện kĩ năng làm dạng đề
này là rất cần thiết.
Tuy nhiên đây cũng là một nhiệm vụ rất khó khăn. Bởi vì, đây là dạng đề mở chủ
yếu dành cho đối tượng học sinh giỏi. Khi làm dạng bài này, các em bày tỏ suy nghĩ
riêng của mình theo nhiều hướng khác nhau. Nhưng để làm tốt điều đó, học sinh cần
nắm chắc các kĩ năng cơ bản khi tìm hiểu đề, tìm ý, xây dựng dàn ý, huy động vốn kiến
đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học, từ khóa thường là ý nghĩa, bài học cuộc sống). Đây
thực sự là một dạng đề khó, người giáo viên vừa phải rèn năng lực cảm thụ để học sinh
thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học, vừa phải hướng dẫn học sinh biết cách
bàn luận về những hiện tượng đời sống đa dạng, phức tạp, mang tính thời sự diễn ra
quanh ta. Chính từ ý nghĩa và yêu cầu trên, dạng đề này có khả năng chọn lựa những
học sinh vừa có kiến thức phong phú, sâu rộng, lại vừa có tư duy sắc sảo và tâm hồn
giàu cảm xúc. Thiết nghĩ, dạng đề này cần tiếp tục được chú trọng trong các kì thi học
sinh giỏi thành phố, học sinh giỏi quốc gia.
2.3. Dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học
Xuất phát từ một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng nhất của văn học –
văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống, một tác phẩm văn học có thể đặt ra rất nhiều
các vấn đề xã hội, cả về tư tưởng đạo lý và hiện tượng đời sống, truyền tải những bài
học cuộc sống sâu sắc tới người tiếp nhận. Các thông điệp mà nhà văn gửi gắm có thể
được đan cài rất sâu trong tác phẩm, đòi hòi người viết phải suy nghĩ thận trọng, rút ra
những vấn đề xã hội phức tạp ẩn chứa bên trong.
Cũng giống như hai dạng đề đã trình bày ở trên, dạng đề nghị luận về nhiều vấn
đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học cũng có cấu tạo hai phần. Phần thứ nhất nêu một
hoặc nhiều tác phẩm, hoặc trích dẫn một phần văn bản tác phẩm. Phần thứ hai là câu
lệnh yêu cầu suy nghĩ về các vấn đề rút ra từ tác phẩm đã nêu. Điểm khác biệt của đề
bài dạng này là trong câu lệnh của đề thường không gọi trực tiếp vấn đề xã hội cần nghị
luận mà đưa những câu hỏi có tính gợi mở cho người đọc tự tư duy, khám phá, tìm hiểu.
Ví dụ như: Suy nghĩ của anh/chị được gợi ra từ câu chuyện trên; hay Anh/chị rút ra
những bài học gì từ tác phẩm này?... Các tác phẩm được lựa chọn nêu trong phần một
thường là những văn bản có nhiều tầng ý nghĩa, gợi mở nhiều vấn đề xã hội. Có thể nói,
đây là dạng đề khó nhất trong các dạng đề nghị luận xã hội, đòi hỏi học sinh tư duy tổng
hợp cao, có khả năng nắm bắt, lựa chọn, phân tích vấn đề, biết cách triển khai các luận
điểm một cách hợp lý, tránh lan man, dàn trải, thiếu tập trung hoặc tham kiến thức.
12
qua khâu lập dàn ý. Do đó, giáo viên cần chú trọng rèn luyện kĩ năng này cho học trò.
Bởi lẽ, dàn ý giúp học sinh xác định các ý lớn cần có trong bài từ hình dung khái quát
13
về bài viết để bố trí dung lượng và thời lượng hợp lí. Điều này rất hữu ích vì khi làm bài
nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học học sinh có thể không “điều khiển”
được ngòi bút của mình, sa đà vào việc phân tích tác phẩm hoặc một khía cạnh của vấn
đề, không đảm bảo sự toàn diện, thấu đáo cho bài viết.
Việc lập dàn ý cho bài văn nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
được thực hiện cụ thể ở từng dạng đề, tùy thuộc vào vấn đề đặt ra là hiện tượng xã hội
hay vấn đề tư tưởng đạo lí, là một vấn đề hay nhiều vấn đề. Sau đây là các mô hình dàn
ý khái quát cho từng dạng đề mà giáo viên có thể cung cấp và giúp học sinh rèn luyện.
3.2.1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
Dạng bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý trong tác phẩm văn học có thể được
triển khai theo bố cục:
* Phân tích văn bản văn học để rút ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận:
- Giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn tác phẩm để chỉ ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận.
* Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí được nêu trong tác phẩm văn học:
- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư
tưởng, đạo lí này).
- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh; bác bỏ, phê phán những sai
lệch (nếu có).
- Bài học liên hệ: Học sinh rút ra bài học nhận thức và hành động từ vấn đề tư
tưởng đạo lí nêu trong tác phẩm.
3.2.2. Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học
Dạng bài nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống trong tác phẩm văn học thường được
triển khai theo bố cục như sau:
học.
- Trường hợp 3: Các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm có vấn đề thuộc hiện
tượng xã hội, có vấn đề thuộc tư tưởng đạo lý.
Làm theo mô hình dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống kết hợp với mô
hình dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học.
Chú ý: Cần lựa chọn vấn đề xã hội quan trọng nhất để ưu tiên bàn luận. Những
vấn đề khác có thể nêu và bàn luận lướt qua. Tránh viết lan man, thiếu tập trung dẫn
đến dàn trải.
3.3. Hướng dẫn viết bài và sửa chữa, đánh giá
3.3.1. Hướng dẫn viết bài
15
Sau khi tiến hành lập dàn ý để có định hướng cụ thể, học sinh tiến hành viết bài.
Ở khâu này, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản sau để không
chỉ có một bài viết đúng mà còn trúng và hay.
- Kĩ năng xây dựng luận điểm: Hệ thống luận điểm có vai trò lớn, giống như linh
hồn của bài văn. Kĩ năng tìm ý, lập dàn ý đã giúp học sinh tìm ra các luận điểm cần có
trong bài nhưng để triển khai hệ thống luận điểm đó thì học sinh cần phải đáp ứng nhiều
yêu cầu khác nữa. Luận điểm trong bài văn nghị luận cần được xây dựng sáng rõ, nổi
bật, nhờ luận điểm mà người đọc nhận thức sâu sắc vấn đề. Khi rèn kĩ năng xây dựng
luận điểm, giáo viên cần rèn kĩ cho các em việc cân nhắc đến vị trí, vai trò của mỗi luận
điểm, đặt chúng trong tương quan với nhau. Cụ thể ở dạng đề nghị luận về vấn đề xã
hội trong tác phẩm văn học thì luận điểm phân tích biểu hiện của vấn đề trong tác phẩm
sẽ có dung lượng ít hơn so với các luận điểm bàn luận về vấn đề đó. Bên cạnh đó, giáo
viên cần rèn cho học sinh kĩ năng vận dụng, kết hợp các thao tác nghị luận để triển khai
các luận điểm một cách hiệu quả. Trong phân phối chương trình, học sinh đã được học
về các thao tác lập luận và việc kết hợp chúng. Tuy nhiên với đối tượng học sinh giỏi,
có thể có thêm các giờ bài tập luyện tập sử dụng các thao tác lập luận, đặc biệt là các
đối tượng học sinh giỏi, đây là những kĩ năng cần có để các em rút kinh nghiệm, nâng
cao năng lực tạo lập văn bản. Giáo viên đóng vai trò người chỉ đường, học sinh cần vận
dụng các chỉ dẫn đó vào bài viết, tự mình đánh giá sản phẩm và sửa chữa lỗi sai. Kĩ
năng này cần được thực hiện trong sự tương tác chặt chẽ của giáo viên và học sinh.
II. Thực hành
1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
1.1. Một số đề minh họa
Đề 1. Bài học cuộc sống mà anh/chị rút ra được từ những vần thơ sau của Hồ Chí Minh:
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công
(Nghe tiếng giã gạo - Hồ Chí Minh)
Đề 2.
Người ăn xin
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái
nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có
gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy
bàn tay run rẩy của ông:
Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 22)
17
Câu chuyện trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tình người trong cuộc sống?
Đề 3. Từ quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn trích Đất nước
cuộc sống.
Đề 5.
Bóng nắng bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời, ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng chợt râm.
Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng:
- Sao nắng, râm đều phải vội?
Trời vẫn nắng, vẫn râm…
Mộ mẹ cỏ xanh con mới hiểu: Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
(Nguyễn Thiện Ý)
Từ câu chuyện trên, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về bài học cuộc sống “Đời, lúc
nào cũng phải nhanh lên”.
Đề 6. Từ truyện cổ tích Tấm Cám, hãy bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về triết lý “Ở hiền
gặp lành”, “Ác giả ác báo” của cha ông ta.
Đề 7. Đọc truyện cổ tích Chử Đồng Tử, anh/chị suy nghĩ gì về chữ Hiếu?
Đề 8. Từ bài thơ Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) và Nỗi lòng (Đặng Dung), hãy viết một bài
văn ngắn bộc lộ quan niệm của anh/chị về chí làm trai thời hiện đại.
Đề 9. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hãy bày tỏ suy nghĩ về triết lý sống
nhàn cũng như quan niệm về khôn và dại của anh/chị trong cuộc sống hiện đại ngày
nay.
Đề 10. Từ Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của tác giả Nguyễn Dữ, hãy bàn về
tinh thần dũng cảm, trọng công lý, “không nên kiêng sợ sự cứng cỏi” cần có của kẻ sĩ.
Đề 11. Đọc bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, anh/chị có suy nghĩ gì
về khí phách anh hùng mà mỗi thanh niên cần có để bảo vệ đất nước trong thời đại ngày
Rồi tất cả chín người đều khoác tay sánh vai nhau đi về đích. Tất cả khán giả trong
sân vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt.
Câu chuyện cảm động này đã lan truyền qua mỗi kỳ Thế vận hội về sau.
(Theo Quà tặng trái tim, NXB Trẻ 2003)
Từ câu chuyện trên, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về sự chiến thắng trong cuộc
sống.
Đề 20. Bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện dưới đây:
20
Leonardo DaVinci vẽ bức tranh Bữa tiệc ly mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Chúa
Jesus và 12 môn đệ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bị môn đệ Judas phản bội.
Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông mới chọn được
một chàng trai có gương mặt thánh thiện, một tính cách thanh khiết tuyệt đối làm người mẫu
vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng liền trước chàng trai và hình
ảnh Chúa Jesus đã hiện ra trên bức vẽ.
Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 11 vị môn đệ, chỉ còn có Judas, người môn đệ
đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên
sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ
sẵn sàng bán đi người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình… Cuộc tìm
kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy vẫn
chưa đủ để biểu lộ cái ác của Judas. Một hôm, Da Vinci được thông báo có một kẻ mà ngoại
hình có thể đáp ứng yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử
hình vì giết người và nhiều tội ác tày trời khác…
Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mặt ông là một gã đàn ông nước da đen
sạm với mái tóc dài bẩn thỉu xoã xuống gương mặt, một khuôn mặt xấu xa, hiểm ác, hiển hiện
rõ tính cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas !
Được sự cho phép đặc biệt của đức vua, người tù được đưa tới Milan, nơi bức tranh
đang vẽ dang dở. Mỗi ngày tên tù ngồi trước Da Vinci và người hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với
công việc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.
2. Nghị luận về vai trò của việc rèn luyện gian khổ lâu dài với mỗi người
- Con người cần có một quá trình gian nan rèn luyện mới đạt được thành công, bởi lẽ
trong cuộc sống để có những thành quả tốt đẹp là điều không dễ dàng.
- Trong thực tế đời sống có rất nhiều tấm gương bền bỉ kiên trì vượt qua gian nan thử
thách để đạt được thành công.
- Phê phán những kẻ nóng vội, lười biếng không chịu bỏ công sức mà chỉ chờ đợi thành
quả.
- Bài học nhận thức và hành động: Nhận thức được ý nghĩa của việc rèn luyện bản thân
để vươn lên đạt thành công trong cuộc sống. Cần chịu khó học hỏi, dám đương đầu với
khó khăn thử thách, năng động sáng tạo để vươn lên khẳng định mình.
Đề 2.
Người ăn xin
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái
nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có
gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy
bàn tay run rẩy của ông:
Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
22
-
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 22)
Câu chuyện trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tình người trong cuộc sống?
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của truyện “Người ăn xin”
+ A.Xô-cô-lốp: Từng là một người lính, bị chiến tranh cướp đi những người thân yêu
nhất, bản thân bị bắt, bị thương, phải chịu nhiều đọa đày, bất hạnh. Sau chiến tranh, anh
vẫn không thoát khỏi những ám ảnh nhưng đã kiên cường nuốt thầm những giọt lệ đau
buồn.
+ Bé Va-ni-a: Không nhà cửa, mẹ cha… Cũng bị chiến tranh cướp đi tất cả.
- Vẻ đẹp của những con người trong tác phẩm:
+ Gặp bé Va-ni-a, Xô-cô-lốp đã dồn hết tình yêu thương cho cậu bé, giấu đi nỗi khổ,
tránh cho cậu bé khỏi tổn thương.
+ Qua đây, ta thấy vẻ đẹp của tâm hồn anh là đức hy sinh, là ý chí, nghị lực phi thường,
là lòng nhân hậu bao dung.
2. Nghị luận về nghị lực và tuổi trẻ hôm nay
- Bàn về nghị lực:
+ Cuộc sống luôn đặt ra những thử thách đối với con người, thậm chí là những mất mát
đau thương. Điều giúp con người vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt ấy chính là nghị lực.
+ Nghị lực là sự nỗ lực, cố gắng vươn lên, đó là sức mạnh giúp ta đương đầu với những
khó khăn của cuộc sống. Nghị lực giúp con người cứng cỏi, mạnh mẽ, dám đối diện và
chinh phục thử thách.
- Bàn về tuổi trẻ hôm nay:
+ Tuổi trẻ hôm nay may mắn được sống hòa bình, nhưng cuộc sống phát triển đồng thời
đặt cho những người trẻ nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi họ phải có nghị lực để vượt
qua.
+ Tuổi trẻ hôm nay mang trong mình bầu nhiệt huyết khát khao chinh phục những đỉnh
cao, mong muốn được cống hiến, góp sức mình dựng xây Tổ quốc. (Nêu những tấm
gương thanh niên vượt lên hoàn cảnh số phận để học tập, lao động, chiếm lĩnh đỉnh cao
tri thức).
+ Phê phán một bộ phận thanh niên sống xuông xuôi, chạy theo những ý thích, ham
muốn tức thời, ngại khó, ngại khổ.
- Bài học nhận thức và hành động: Những người trẻ tuổi cần có nghị lực, ý chí vươn
lên. Chúng ta có thể thất vọng, đau buồn những không bao giờ được đầu hàng trước số
phận. Càng trong gian khó, con người càng cần khẳng định bản lĩnh và nghị lực, càng
riêng mình.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Sống có lý tưởng, mục đích sống, có khát vọng cao đẹp.
+ Biết yêu thương, cảm thông, sẻ chia.
+ Có nghị lực để sống trung thực với chính mình.
25