Chuyên đề:
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA
TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
Tổ Ngữ văn- Trường THPT Chuyên Lam Sơn- Thanh Hóa
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Ngày nay, trước những yêu cầu bức thiết của xã hội, mục tiêu của
việc dạy học môn Ngữ văn cũng có nhiều thay đổi. Giáo viên dạy
học các tác phẩm văn học trong nhà trường không chỉ hướng dẫn học sinh cảm
nhận, thưởng thức văn chương mà còn phải khơi dậy ở học sinh tình yêu đối với
cái đẹp, lòng nhân ái, khát khao lí tưởng cũng như những hiểu biết về thế giới,
về xã hội và nhất là về con người.Vì thế dạng bài nghị luận một vấn đề xã hội
trong tác phẩm văn học là một dạng bài góp phần gắn chặt mối quan hệ giữa
dạy đọc - hiểu văn bản văn học với thực tế cuộc sống, giúp cho học sinh sau
khi học tác phẩm văn học còn biết liên hệ đến các vấn đề xã hội đang diễn ra
xung quanh, có khả năng tự định hướng và lựa chọn một lối sống tích cực . Đây
chính là một trong những mục tiêu lớn của việc dạy học Ngữ văn trong nhà
trường phổ thông hiện nay.
2. Trong yêu cầu học văn hiện nay, học sinh vừa phải có kĩ năng đọc hiểu
tác phẩm văn học (có kiến thức về tác phẩm văn học), vừa phải biết vận dụng
những kiến thức đó để bày tỏ quan điểm, lập trường của mình về một vấn đề
xã hội có liên quan đến vấn đề trong tác phẩm văn học. Điều này được thể hiện
rõ trong yêu cầu ở một số đề thi vài năm gần đây. Chẳng hạn trong đề thi tốt
nghiệp năm 2014 ở câu 5 điểm có yêu cầu: Phân tích khát vọng của nhân vật
Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó nêu suy nghĩ của anh, chị về vấn đề
con người cần được sống là chính mình. Tiếp đến ở đề thi THPT Quốc gia năm
2015 ở phần đọc hiểu có câu hỏi là: Đoạn thơ đã gợi cho anh, chị tình cảm gì
đối với người lính đảo. Đặc biệt đề thi chọn học sinh giỏi của các các tỉnh, ở câu
nghị luận xã hội rất hay ra ở kiểu bài này. Như vậy, việc rèn luyện cho học sinh
1
XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
1.1 Đặc điểm, mục đích yêu cầu của kiểu bài
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một
dạng bài thuộc nghị luận xã hội, đối tượng nghị luận của nó là bàn về một
vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học cụ thể. Đặc điểm của dạng bài này là
dựa vào một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm
văn học, yêu cầu người viết phát biểu, bàn bạc về ý nghĩa của vấn đề đó. Khi
nhận định về kiểu bài này, sách giáo viên Ngữ văn 12 (Nâng cao) có cho
rằng: “Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: Từ tác phẩm văn
học đã học trong chương trình. Từ một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn
học ngắn gọn mà học sinh chưa được học.”
Có thể thấy dạng đề này có liên quan đến tác phẩm văn học, buộc phải
có khâu phân tích tác phẩm để xác định vấn đề cần nghị luận, nhưng yêu cầu
không phải là nghị luận văn học như nhiều người đã nhầm tưởng. Mục đích
của nghị luận văn học là bàn bạc, phân tích, để đánh giá giá trị nội dung- nghệ
thuật. Còn với nghị luận xã hội, việc đọc hiểu văn bản chỉ là phương tiện, là
thao tác đầu tiên khởi đầu cho một quá trình sau đó. Trong trường hợp này,
tác phẩm văn học chỉ là “cái cớ”, chỉ được khai thác về giá trị nội dung tư
tưởng, rút ra ý nghĩa xã hội khái quát của tác phẩm ấy. Mục đích chính của
dạng đề này vẫn là yêu cầu người viết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề
xã hội, đạo lí, tư tưởng, nhân sinh..v..v. Nghĩa là nhân vấn đề đặt ra trong
tác phẩm văn học đó mà luận bàn, kiến giải.
Mặc dù xét về mặt nội dung dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội
đặt ra trong tác phẩm văn học có thể thuộc kiểu bài nghị luận về một tư tưởng
đạo lý hoặc nghị luận về một vấn đề đời sống xã hội. Tuy nhiên nó có những
đặc trưng và yêu cầu riêng.Vì vậy cần xét đến với vai trò là một dạng nghị
3
luận xã hội đặc biệt. Có thể nói đây là kiểu bài giao thoa giữa nghị luận văn
4
* Bước 2: Thực hiện các thao tác nghị luận (tùy thuộc vào vấn đề nghị luận là
một tư tưởng, đạo lí hay một hiện tượng đời sống HS áp dụng phương pháp làm
bài cụ thể).
- Giải thích vấn đề (nếu cần thiết)
- Phân tích – chứng minh:
+ Đối với vấn đề xã hội là vấn đề tư tưởng, đạo lí: Làm rõ các biểu
hiện của tư tưởng, đạo lí ở những phương diện khác nhau trong đời
sống…; dùng thực tế xã hội để chứng minh. Đặt câu hỏi để xác định ý:
Như thế nào? Ở đâu? Bao giờ? Người thật việc thật nào?….
+ Đối với vấn đề xã hội là một hiện tượng đời sống: Xác định đó là
hiện tượng tích cực hay tiêu cực, mô tả những biểu hiện của hiện tượng
đó….
- Bình luận: Bình luận, chỉ ra tầm quan trọng của vấn đề xã hội hiện nay
+ Đánh giá:
. Quan niệm, tư tưởng ấy đúng đắn, sâu sắc như thế nào? Ý nghĩa đối
với tâm hồn, nhân cách con người? (tư tưởng, đạo lí)
. Hiện tượng ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc sống con người
(Cần thể hiện thái độ đồng tình, biểu dương, trân trọng trước vấn đề xã
hội có ý nghĩa tích cực; phê phán những biểu hiện sai trái, suy nghĩ,
quan niệm lệch lạc so với quan niệm, tư tưởng, hiện tượng được nghị
luận)
+ Mở rộng: Xem xét vấn đề ở những phương diện, góc độ khác nhau
(phương pháp, góc nhìn, tính hai mặt của vấn đề nghị luận…)
* Bước 3: Rút ra bài học cho bản thân
- Về nhận thức: Vấn đề xã hội đó giúp ta hiểu sâu sắc về điều gì? Rút ra
được điều gì có ý nghĩa?
- Về hành động: Xác định hành động bản thân phải làm gì? Việc làm cụ
Trương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ). Từ đó nêu suy nghĩ của anh, chị về
vấn đề con người cần được sống là chính mình.
Đề 2:
Từ khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong trích đoạn kịch Hồn
Trương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ) anh, chị hãy viết bài văn bàn về vấn
đề con người cần được sống là chính mình.
So sánh hai đề học sinh phải nhận ra được ở hai đề có nhiều điểm giống nhau
6
như: đều có sự kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội, đều có cùng
phạm vi tư liệu kiến thức huy động nhưng vấn đề nghị luận, thao tác làm bài là
khác nhau. Nếu ở đề 1, vấn đề nghị luận văn học là chính, vấn đề nghị luận xã
hội chỉ là vấn đề phụ thì ở đề 2, vấn đề văn học chỉ là cái cớ khởi đầu còn vấn đề
nghị luận xã hội mới là vấn đề chính cần được phân tích, bàn luận, kiến giải sâu
sắc và thấu đáo.
Như vậy, nếu không tìm hiểu kĩ đề, không nhận diện đúng kiểu bài, bài viết
của các em sẽ đi không đúng hướng, dễ rơi vào lạc đề. Vì thế nên, để học sinh có
thể viết tốt bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học thì
việc rèn luyện kĩ năng nhận diện kiểu bài là hết sức cần thiết và quan trọng. Đây
là khâu đầu tiên để các em tiếp xúc với đề bài, từ đó có cơ sở để tiến hành các
bước tiếp theo. Các em nên đọc đề nhiều lần, khi đọc cần tập trung chú ý tới
các dữ kiện đề bài đưa ra và những yêu cầu mà đề bài đòi hỏi. Khi đọc kĩ đề bài,
đọc kĩ câu chữ sẽ hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu sâu các yêu cầu của đề bài. Trong
dạy học làm văn, đề văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn
học thường nhằm mục đích kiểm tra năng lực đọc hiểu, sự hiểu biết, cách đánh
giá của học sinh về các vấn đề xã hội có ý nghĩa được gửi gắm trong các tác
phẩm văn học. Để xác định được các yêu cầu của đề bài, học sinh cần trả lời
được các câu hỏi sau:
- Đề bài yêu cầu nghị luận về vấn đề gì?
cuộc đấu tranh giành lại hạnh phúc của cô Tấm. Trước yêu cầu này, trên cơ
sở những gì đã tìm hiểu và cảm nhận, bằng khả năng tư duy của mình nhiều
em đã đề xuất được một số vấn đề như:
. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái cái ác trong cuộc sống
. Hạnh phúc là khi biết đấu tranh với cái ác.
. Hạnh phúc bền vững là do chính mình tự tạo lập nên.
Hay như khi dạy truyện ngắn Chữ người tử tù ( Nguyễn Tuân), sau khi
hướng dẫn học sinh cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của nhân vật Huấn Cao, giáo
viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện bài tập sau:
Điền những từ thích hợp vào dấu ba chấm sau để hoàn thành mệnh đề:
Từ……………………của nhân vật Huấn Cao nghĩ về……………………….
8
Mục đích của bài tập này là yêu cầu học sinh chọn được một câu nói, hành
động của nhân vật, phân tích ý nghĩa của nó để rút ra được một lối sống, một
quan niệm sống, một vấn đề xã hội mang tính thời sự, hay một triết lí nhân
sinh được đề cập. Sau khi suy nghĩ và làm việc cá nhân, các em đã trình bày
được sự lựa chọn của mình theo các hướng như:
Từ hành động cho chữ của Huấn Cao nghĩ về cách sử dụng cái Tài của
mỗi người trong cuộc sống.
Từ câu nói “Thiếu chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ” của
nhân vật Huấn Cao nghĩ về thái độ sống biết trân trọng những tấm lòng.
Một ví dụ khác khi dạy xong bài thơ Đò Lèn ( Nguyễn Duy) ,giáo viên yêu
cầu học sinh trả lời câu hỏi: Theo anh, chị vấn đề xã hội mang tính thời sự
được gợi mở trong đoạn thơ sau là gì:
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng quan
bà đi gánh chè xanh Ba trại
Quán Cháo,Đồng Giao thập thững những đêm hàn
một số tiết sinh hoạt ngoại khóa với chuyên mục như Câu chuyện nhỏ - bài học
lớn, hay như về một bài thơ đã để lại cho anh/ chị bài học sống sâu sắc. Chúng
tôi thường yêu cầu các em chuẩn bị ở nhà trong khoảng một tuần và bốc thăm
trình bày trong giờ sinh hoạt lớp. Để tạo hứng thú, chúng tôi thường tổ chức theo
kiểu cuộc chơi, có dẫn chương trình, có giám khảo , có bình bầu và xếp giải. Với
hoạt động này, chúng tôi nhận thấy học sinh không chỉ được bồi đắp tình yêu với
văn chương , không chỉ biết gắn kết, liên hệ tác phẩm văn học với đời sống mà
còn được trau dồi, rèn luyện nhiều kĩ năng khác. Sau đây là một vài câu chuyện,
bài thơ mà các em đã sưu tầm, cảm nhận và rút ra ý nghĩa, bài học sống cho
mình.
VD1: Câu chuyện về Sự bình yên
Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp
nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình. Nhà vua
10
ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một.
Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn
núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng
mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức
tranh bình yên thật hoàn hảo. Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng
những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ
mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt
trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào. Nhưng khi nhà vua
ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt
của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng
thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang bình thản đậu trên tổ của
mình... Bình yên thật sự. "Ta chấm bức tranh này!” - Nhà vua công bố.
Với câu chuyện này, học sinh đã biết phát hiện và bám sát vào phân tích một
số chi tiết để nhận ra ý nghĩa của câu chuyện : Hai bức tranh là hai bức vẽ khác
góp phần làm nổi bật vấn đề cần nghị luận. Chúng tôi thường hướng dẫn học
sinh viết mở bài cho kiểu bài này theo hai cách:
-Cách thứ nhất: dẫn dắt từ việc giới thiệu tác giả, tác phẩm để sau đó
nêu khái quát vấn đề cần nghị luận. Đặt vấn đề theo cá ch n à y dễ làm,
nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, tuy nhiên cần có cách giới thiệu hấp dẫn
tránh rơi vào viết quá kĩ lưỡng về tác giả, tác phẩm mà nhanh chóng bắt sang
nêu vấn đề cần nghị luận.
- Cách thứ hai : người viết dẫn dắt vào đề bằng những ý có liên quan đến
luận đề (vấn đề cần nghị luận) để gây sự chú ý cho người đọc sau đó mới bắt
sang luận đề. Mở bài theo cách này tạo được sự uyển chuyển, linh hoạt cho
bài viết, hấp dẫn người đọc, tuy nhiên kiểu mở bài này cần tránh sự lan man,
dài dòng.
Minh chứng vận dụng kĩ năng viết mở bài
Đề bài:
Từ khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong trích đoạn kịch Hồn
Trương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ) anh, chị hãy viết bài văn bàn về vấn
đề con người cần được sống là chính mình.
Mở bài theo cách thứ nhất:
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những tác phẩm thành công
nhất của nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ. Mượn cốt truyện dân gian, tác giả đã
khám phá, thể hiện được nhiều vấn đề cấp thiết của con người trong xã hội
12
hiện đại. Để lại ấn tượng sâu sắc nhất có lẽ là khát vọng về một cuộc sống thực
sự của nhân vật Trương Ba. Cảm nhận sâu sắc khát vọng đó của nhân vật đã
khiến mỗi người đọc chúng ta phải suy ngẫm nhiều về vấn đề con người cần
được sống là chính mình
(Bài viết của học sinh)
Mở bài theo cách thứ hai :
giáo viên thể yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Nhận xét của em về nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão trong hai câu thơ
cuối của bài thơ?
Câu 2: Tại sao trong cuộc sống con người ta cần phải biết thẹn?
Câu 3: Hãy lấy ví dụ về những nỗi thẹn đáng được trân trọng trong cuộc sống
mà em biết.
Một ví dụ khác, khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu quan niệm sống của nhà thơ
Xuân Diệu trong bài Vội vàng, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm câu trả
lời cho các câu hỏi sau:
Câu 1: Đoạn thơ cuối cùng của bài thơ Xuân Diệu đã gửi tới những người trẻ
tuổi, trẻ lòng quan niệm sống gì?
Câu 2: Theo anh (chị) quan niệm này mang tính tích cực hay tiêu cực?
Câu 3: Anh (chị) nghĩ sao khi vẫn có những người hiểu quan niệm này một
cách lệch lạc?
Câu 4: Làm thế nào để có quan điểm sống hài hòa trong xã hội hiện nay?
Như vậy thông qua phương pháp phát vấn đàm thoại GV giúp HS định hướng
kiến thức, phát huy được tính tích cực chủ động của mình và khơi dậy được
trong các em những suy nghĩ về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm.
2.4.2 Vận dụng phương pháp nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp dạy học mà ở đó
GV là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều khiển HS phát hiện
vấn đề, học sinh tích cực, chủ động, tự giác giải quyết vấn đề thông qua đó
mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
14
Tình huống có vấn đề là tình huống mà ở đó gợi cho người học những
khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết phải vượt qua và có khả
năng vượt qua nhưng không phải ngay tức thời mà cần phải có quá trình tư
duy tích cực, vận dụng, liên hệ những tri thức cũ liên quan.
Qua việc đặt tình huống GV sẽ giúp HS bộc lộ được những suy nghĩ
của bản thân về hậu quả của việc sống nhờ , sống gửi, sống không được là
chính mình đồng thời đưa ra được những luận bàn , lí giải sâu sắc cho sự lựa
chọn của mình .
Tóm lại, từ việc vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực, giáo
viên sẽ tạo cơ hội để học sinh được phát huy sức sáng tạo, tìm ra nhiều sự khám
phá và lí giải khác nhau, tự tin chủ động bộc lộ suy nghĩ của bản thân trước các
vấn để xã hội đặt ra trong tác phẩm. Đây chính là cách thức hiệu quả rèn luyện
cho các em có thói quen trình bày chủ kiến của cá nhân trước những vấn đề xã
hội nói chung, trước vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học nói riêng. Trong
khi áp dụng những phương pháp này, giáo viên cần nắm vững kĩ năng sư phạm,
nhạy bén, xử lí tình huống hợp lí, có sự định hướng, nhận xét và đánh giá thỏa
đáng, điều chỉnh, uốn nắn những quan niệm, cách nghĩ, cách hiểu lệch lạc, sai
quỹ đạo chung, đồng thời, động viên khen ngợi, thưởng điểm cho những học sinh
đúng lúc sẽ giúp các em hứng thú, chủ động tích cực hơn trong việc học.
2.5.Hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập một số đề nghị luận vấn đề xã
hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
Trên đây là một số kĩ năng cụ thể, cơ bản cần thiết và quan trọng mà học
sinh phải được rèn luyện để viết tốt bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học . Tuy nhiên để học sinh biết sử dụng thuần thục, kết hợp,
phát huy được những kĩ năng này, đồng thời nắm vững được cách làm theo đúng
đặc trưng của kiểu bài, chúng tôi còn chú ý hướng dẫn học sinh luyện tập đề nghị
luận vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Biện pháp này được chúng tôi
thực hiện trong các giờ luyện tập kĩ năng làm văn ở buổi học thêm và thông qua
các bước sau:
-
Giáo viên ra đề bài để học sinh chuẩn bị ở nhà.
16
Hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Trong chuyến đi, giữa hai người có
xảy ra một cuộc tranh luận, và một người nổi nóng, không kiềm chế được mình
đã nặng lời miệt thị người kia. Cảm thấy bị xúc phạm, nhưng anh không nói gì,
chỉ viết lên cát: “Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã làm làm khác đi những
gì tôi nghĩ.”
Họ đi tiếp, tìm thấy một ốc đảo, và quyết định đi bơi. Người bị miệt thị lúc
nãy bây giờ bị sa lầy và lún dần xuống, và người bạn kia đã tìm cách cứu anh.
Thoát khỏi vũng lầy, anh lấy một miếng kim loại khắc lên đá: “Hôm nay người
bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi.”
Người kia hỏi: “Tại sao khi tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát, còn bây
giờ anh lại khắc lên đá?”
Anh ta trả lời: “Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xóa nhòa theo thời
gian, nhưng không ai có thể xóa được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên
đá, trong lòng người.”
( Dẫn theo Ngữ văn 9, tập một, NXB giáo dục, 2009, tr 160)
Hãy viết một bài văn khoảng 600 từ trình bày suy nghĩ về bài học cuộc sống mà
anh/ chị nhận được từ câu chuyện trên.
17
Dàn ý chung cho đề bài:
• Mở bài
-
Dẫn dắt từ những nhận định liên quan đến vấn đề cần bàn luận .
-
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
• Thân bài:
người đã mang lại cho mình những điều tốt đẹp.
18
- Cần phải được thể hiện sự tha thứ và lòng biết ơn của mình trên cả nhận
thức và hành động cụ thể.
• Kết bài: :
- Câu chuyện đã mang đến cho mỗi chúng ta một thông điệp sống sâu sắc về
sự tha thứ và lòng biết ơn trong cuộc sống của mỗi người.
Đề 2:
Từ ý nghĩa câu chuyện sau đây đến quan niệm của anh/chị về sự bình yên
trong cuộc sống:
Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất
về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình. Nhà vua ngắm
tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một. Một bức
tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao
chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn
màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh
bình yên thật hoàn hảo. Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn
núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút
kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức
tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào. Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông
thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá.
Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng thác trút xuống một
cách giận dữ, con chim mẹ đang bình thản đậu trên tổ của mình... Bình yên thật
sự. "Ta chấm bức tranh này!” - Nhà vua công bố.
(Dẫn theo nguồn từ Internet)
Dàn ý chung của đề bài:
1. Giải thích ý nghĩa câu chuyện
- Là ngọn nguồn của ý thức trách nhiệm công dân, không ngăn cản các
con lên đường nhập ngũ.
- Ý thức tự trọng đã chi phối nguyên tắc ứng xử của con người này
khiến bà luôn là mình mà cũng luôn được mọi người xung quanh nể phục.
* Bước 2: Bàn luận về lòng tự trọng của con người trong xã hội ngày hôm nay
- Giải thích lòng tự trọng
+ Tự trọng là tự tôn trọng bản thân, là biết yêu quý, trân trọng chính bản
thân mình. Tự trọng khác với tự kiêu và tự đại.
+ Người có lòng tự trọng luôn luôn suy nghĩ, nói năng hành động một cách
20
chuẩn mực và biết lắng nghe, tôn trọng người khác, đối xử công bằng với
những người xung quanh.
- Bàn luận , mở rộng
+ Ngợi ca những người có lòng tự trọng, phê phán những người đang
tự hạ thấp mình bằng những hành động cử chỉ thiếu văn hóa.
+ Lòng tự trọng không tự nhiên mà có. Nó được hình thành khi con
người biết tôn trọng bản thân mình, biết sống có trách nhiệm với chính bản
thân mình và ý thức được vị trí của mình trong xã hội, trong cuộc đời.
* Bước 3: Bài học nhận thức và hành động
- Cần nhận thức được lòng tự trọng chính là nền tảng nhân cách ở mỗi người.
- Trong xã hội ngày hôm nay con người cần phải có ý thức tự trọng trong học tập,
làm việc và trong cách ứng xử với mọi người xung quanh.
Kết bài
- Nhân cách tự trọng của nhân vật bà Hiền trong truyện ngắn đã để lại cho ta
nhiều suy ngẫm sâu sắc về lòng tự trọng trong cuộc sống hôm nay.
PHẦN III: KẾT LUẬN
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là dạng bài yêu
(2008), Phương pháp dạy học văn, Nxb Quốc Gia Hà Nội.
3. Phan Trọng Luận (2009) , Thiết kế bài giảng Ngữ Văn (tập 1) Nxb Giáo Dục.
4. Hoàng Thị Mai (chủ biên) (2009), Phương pháp dạy học văn nghị luận ở
nhà trường phổ thông, Nxb Giáo Dục Việt Nam.
5. Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
6. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nguyễn Thanh Huyền)(2010), Dạy và học
nghị luận xã hội, NXB Giáo Dục VN.1.
7. Đỗ Ngọc Thống (2005),Vai trò của lập luận trong văn nghị luận, Văn học
và tuổi trẻ
8. Sách giáo khoa Ngữ Văn (tập 1, tập 2), (2010) Nxb Giáo Dục Việt Nam.
9. Sách giáo viên Ngữ Văn (tập 1, tập 2), (2010) Nxb Giáo Dục Việt Nam.
23
24
25