BÁO cáo hội THẢORÈN LUYỆN kĩ NĂNG NGHỊ LUẬN về vấn đề xã hội đặt RA TRONG tác PHẨM văn học - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƯỜNG PT VÙNG CAO VIỆT BẮC

CHUYÊN ĐỀ:
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015


A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Môn Ngữ Văn là một môn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị
trí quan trọng trong các môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học
sinh.
Trong trường THPT việc rèn kĩ năng viết văn có vai trò rất quan trọng. Các bài
viết văn không chỉ đánh giá học sinh về mặt điểm số mà còn rèn luyện tính kiên nhẫn,
cách nói năng, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh.
Trong chương trình giảng dạy mới, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so
với trước đây, nhằm mục đích tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội,
tạo cho học sinh năng lực chủ động đề xuất, phát biểu những suy nghĩ của chính mình
trước nhiều vấn đề trong cuộc sống.
Thể văn nghị luận xã hội được đưa vào chương trình học tập từ trung học cơ sở. Các
em đã được học lí thuyết về phương pháp làm các dạng bài nghị luận xã hội và cũng
được viết nhiều bài làm văn thực hành. Tuy nhiên ở cả ba dạng bài nghị luận xã hội
(nghị luận về một hiện tượng đời sống, nghị luận về một tư tưởng - đạo lí, nghị luận
về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học) các vấn đề nêu ra để yêu cầu
nghị luận vô cùng phong phú, rộng lớn. Muốn làm tốt các dạng bài này, các em phải
nắm chắc phương pháp nghị luận nói chung và cách viết từng dạng bài cụ thể, mặt
khác các em phải có vốn kiến thức xã hội, văn hóa cần thiết để làm bài. Điều này phụ
thuộc rất nhiều vào quá trình học tập, quá trình tự tích lũy, bồi dưỡng kiến thức của


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Các khái niệm:
1. Nghị luận: Bàn bạc và đánh giá một vấn đề. (theo Từ điển tiếng Việt- Hoàng
Phê)
2. Văn nghị luận
3


- Văn nghị luận : là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc người nghe
một tư tưởng, quan điểm nào đó .(Ngữ văn lớp 7 tập 2).
- Văn nghị luận: thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn đề. (theo Từ điển
tiếng Việt- Hoàng Phê )
- Văn nghị luận : là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ý
kiến của mình bằng cách dùng lý luận bao gồm cả lý lẽ và dẫn chứng để làm rõ một
vấn đề thuộc về chân lý nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình với
những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất. (theo Bảo
Quyến – Rèn luyện làm văn nghị luận – NXB Giáo dục, 2003)
3. Văn nghị luận xã hội
- Văn nghị luận xã hội hiểu đơn giản là những bài nghị luận về một hiện tượng
đời sống hoặc một tư tưởng đạo lí. (theo Thanh Vân – Nghị luận xưa nhưng không cũ
– Web: phongdiep.net)
- Nghị luận xã hội là kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội ( – Rèn luyện làm
văn nghị luận – NXB Giáo dục, 2003)
Khái niệm xã hội được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề thuộc mọi
quan hệ, mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vựcđời sống xã hội như chính
trị, kinh tế, giáo dục, môi trường, dân số v.v…
Nghị luận xã hội có thể đề cập tới rất nhiều mặt của đời sống xã hội. Từ những
vấn đề có tầm nhân loại như chiến tranh hòa bình, tình trạng ô nhiễm môi trường,

Nghị luận về một vấn đề kinh tế

-

Nghị luận về một vấn đề lịch sử

-

Nghị luận về một vấn đề địa lý, môi trường

SGK Làm văn lớp 12 (NXB GD-1999) thì chia ra thành 3 chủ đề lớn:
-

Bình luận chính trị

-

Bình luận vấn đề xã hội

-

Bình luận vấn đề tư tưởng văn hóa

Còn SGK Ngữ văn lớp 12 (NXB GD- 2008) lại chia thành 3 chủ đề lớn:
-

Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

-


nghị luận xã hội cũng yêu cầu những nhận định, đánh giá phải có căn cứ xác đáng;
những ý kiến, nhận xét cần phải được chứng minh
1. 5. Trong nhà trường, bài nghị luận xã hội đòi hỏi học sinh chẳng những có
hiểu biết cụ thể, trình bày rõ ràng, thuyết phục một vấn đề xã hội đem bàn luận mà
còn phải nêu được suy nghĩ riêng của mình. Học sinh phải biết vận dụng những kiến
thức trong thực tế đời sống hay trong sử sách để luận giải các vấn đề xã hội, đồng thời
phải có một ngôn ngữ sắc bén, chính xác, gợi cảm, có khả năng khơi động được tư
tưởng và tình cảm xã hội của người đọc.
2. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học.
Nghị luận xã hội là một dạng đề văn khó, nghị luận xã hội trong các tác phẩm
văn học càng khiến cho học sinh thêm khó khăn hơn, chính vì vậy với các vấn đề nghị
luận đều cần học sinh phải biết triển khai, tổng quát vấn đề, nhất là với dạng đề nghị
luận xã hội trong các tác phẩm văn học càng cần học sinh phải biết cách nhận thức,
tổng hợp để rút ra được vấn đề xã hội và nhìn nhận chúng thông qua các tác phẩm văn
học.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
6


I. Vai trò vị trí của văn nghị luận xã hội :
1. Trong đời sống
Nghị luận xã hội là loại văn được ứng dụng hết sức rộng rãi trong đời sống . Ta
có thể dễ dàng bắt gặp nó trên bất kỳ một một phương tiện thông tin đại chúng nào,
nằm dưới dạng các bài bình luận, xã luận về một vấn đề nào đó, một hiện tượng nào
đó thuộc lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v…hay những buổi trò chuyện, thuyết
giáo của các nhà giáo dục, bài giảng đạo đức của các mục sư, linh mục, … Dẫu tồn tại
dưới dạng nói hay dạng viết thì nghị luận xã hội luôn có một vị trí quan trọng trong
đời sống xã hội. Bởi nó giúp con người nhận thức một cách đầy đủ, cập nhật, khách
quan các vấn đề liên quan đến đời sống , để từ đó định hướng tốt cho sự phát triển

ở chương trình THPT
2. 2. Chương trình Trung học phổ thông (THPT)
Trong chương trình THPT, dạng nghị luận xã hội được thực hành khá kỹ, bắt
đầu từ lớp 11. Ngay bài viết số 1 ở đầu năm học lớp 11 đã được định hướng làm bài
NLXH, sau đó khi hướng dẫn häc sinh tiếp cận hàng loạt các thao tác lập luận như
phân tích, bác bỏ, bình luận, so sánh… và các ngữ liệu SGK đều lấy dạng NLXH.
Cụ thể:
- Bài :Thao tác lập luận phân tích có một đoạn ng÷ liệu viết về vấn đề dân số;
- Bài: Luyện tập thao tác lập luận phân tích có một đoạn ng÷ liệu viết về vấn
đề khoa học
- Bài :Thao tác lập luận bác bỏ có một đoạn ngữ liệu viết về vấn đề tiếng mẹ
đẻ, một đoạn viết về hút thuốc lá
- Bài :Thao tác lập luận bình luận: ngữ liệu luyện tập một đoạn bàn về giao
thông, một đoạn bàn về pháp luật
- Bài: Luyện tập thao tác lập luận bình luận : ngữ liệu một đoạn viết về lời
cảm ơn, một đoạn viết về vấn đề áo phao phòng chết đuối cho học sinh đi học qua
sông suối
- Bài viết số 6 lại tiếp tục được định hướng làm bài nghị luận xã hội.
Ở phần văn học cũng được tích hợp một số văn bản dạng NLXH như:
- Về luân lý xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)
8


- Đọc thêm: Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An
Ninh)
- Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)
- Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng Ghen)
Các ngữ liệu trong bài: Phong cách ngôn ngữ chính luận cũng chọn dạng
NLXH:
- Cao trào chống Nhật cứu nước (Trường Chinh)

- Sau đó hướng dẫn các em các bước làm bài văn nghị luận xã hội đặt ra trong
tác phẩm văn học.
Theo chúng tôi nguyên nhân trọng yếu nhất là học sinh không biết cách nói ra
những điều mình có, nghĩa là học sinh thiếu hẳn phương pháp cách thức làm bài và
các kỹ năng làm văn nghị luận xã hội, đặc biệt là cách làm bài văn nghị luận về vấn
đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
CHƯƠNG III:
NHỮNG GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ
VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
I. Học sinh nắm một số lưu ý về văn nghị luận xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học
1. Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghị
luận xã hội không phải kiểu bài nghị luận văn học. Cần tránh tình trạng làm lạc đề
sang nghị luận văn học.
2. Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một tư tưởng, đạo lí hoặc
một hiện tượng đời sống.
3. Đề tài: Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm
văn học. Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học
trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà học
sinh chưa được học.
II. Học sinh nắm được các thao tác cơ bản
10


1. Giải thích:
1.1 Yêu cầu đặt ra :
Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung ý nghĩa
bên trong. Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề cho người đọc hiểu
được thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ.
1.2 Công việc cụ thể:

lịch sử rất phong phú, ta phải tìm và lựa chọn từ trong đó những dẫn chứng xác đáng
nhất, tiêu biểu, toàn diện nhất (nên chỉ cần vài ba cái để làm sáng tỏ điều cần CM).
Dẫn chứng phải thật sát với điều đang muốn làm sáng tỏ và kèm theo dẫn chứng phải
có lý lẽ phân tích - chỉ ra những nét, những điểm ta cần làm nổi bật trong các dẫn
chứng kia. Để dẫn chứng và lý lẽ có sức thuyết phục cao, ta phải sắp xếp chúng ->
một hệ thống mạch lạc và chặt chẽ: theo trình tự thời gian, không gian, từ xưa đến
nay, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong hoặc ngược lại...miễn sao hợp logic.
Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sống hôm nay để
đề xuất phương hướng nỗ lực. Chân lý chỉ giá trị khi soi rọi cho ta sống, làm việc tốt
hơn. Ta cần tránh công thức và rút ra kết luận cho thoả đáng, thích hợp với từng
người, hoàn cảnh, sự việc.
=> Từ những điều nói trên, ta rút ra một sơ đồ tổng quát theo ba bước:
- Làm rõ điều cần chứng minh trong luận đề được nêu lên.
- Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng minh.
- Rút ra kết luận về phương hướng nỗ lực.
3. Bình luận:
Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm cả công việc giải thích lẫn
chứng minh. Nên những yêu cầu của giải thích và chứng minh cũng là yêu cầu đối với
văn bình luận, nhưng giải thích và chứng minh sẽ được viết cô đọng, ngắn gọn hơn so
với chỉ một thao tác chứng minh hoặc giải thích để tập trung cho phần việc quan trọng
nhất là bình luận - phần mở rộng vấn đề.
Trước khi bình luận, ta thường phải bày tỏ thái độ, để khách quan và tránh
phiến diện, ta phải xem xét kĩ luận đề để từ đó có thái độ đúng đắn, có ba khả năng:
- Hoàn toàn nhất trí.
- Chỉ nhất trí một phần. (có giới hạn, có điều kiện)
12


- Không chấp nhận. (bác bỏ)
Sau đó, ta bình luận - mở rộng lời bàn để vấn đề được nhìn nhận sâu hơn, toàn

thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận.
1.1.1.5. Nội dung cơ bản của bài làm:
- Giới thiệu, giải thích tư tưởng đạo lý cần bàn
- Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến
vấn đề cần bàn
- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lý
1.2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy ra
trong đời sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích để tìm
ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá.
Đề tài bàn bạc gần gũi với đời sống, sát hợp với trình độ nhận thức của HS như
tai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử,
nạn bạo hành trong gia đình, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động
giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt,
1.2.1 Các thao tác lập luận cơ bản
Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giải
thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận.
1.2.2. Nội dung cơ bản
- Nêu rõ hiện tượng bàn luận và vấn đề đặt ra trong hiện tượng đời sống bàn
luận .
14


- Phân tích mặt đúng mặt sai, mặt tích cực, mặt tiêu cực, mặt lợi mặt hại …của
hiện tượng đời sống .
- Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã
hội đó.
2. Diễn giải sơ đồ cấu trúc tổng quát cách làm cho dạng bài nghị luận về
một tư tưởng, đạo lí và về một hiện tượng đời sống.
Cách 1: Tìm ý và lập dàn ý dựa vào dàn ý khái quát.

- Nêu thực trạng của hiện tượng
- Xác định nguyên nhân của thực trạng hiện tượng
- Đánh giá, phân tích mặt tốt - xấu, tích cực – tiêu cực, lợi – hại…của vấn đề
- Đề xuất giải pháp cho vấn đề: phát huy, khắc phục…
c, Kết bài:
- Tóm tắt chốt lại vấn đề
- Rút ra bài học
- Nêu suy nghĩ và hướng hành động của bản thân đối với vân đề
Cách 2: Tìm ý và lập dàn ý theo khung câu hỏi
Đây là cách tìm ý và lập dàn ý rất phù hợp với năng lực của học sinh trung
bình, yếu vì nó có một hệ thống câu hỏi được lập thành một bộ khung; khung câu hỏi
này được xây dựng dựa trên cơ sở dàn bài khái quát, nhưng nó được cụ thể thành các
câu hỏi dễ hiểu, dễ trả lời. học sinh chỉ việc thuộc các câu hỏi này, khi tìm ý và lập
dàn ý chỉ cần trả lời các câu hỏi đó là tìm được ý, thậm chí viết thành văn bản luôn,
nếu là học sinh khá. Tuy nhiên nó hơi hạn chế về mặt sáng tạo. Học sinh đôi pkhi máy
móc, cứ cho rằng đây là “bảo bối” cho sẵn và dựa hẳn vào đó mà không suy nghĩ
thêm:

16


KHUNG CÂU HỎI TÌM Ý VÀ LẬP DÀN Ý
* Đối với nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí:
a. Mở bài:
- Vấn đề sắp trình bày là gì?
- Thái độ của xã hội nói chung đối với vấn đề như thế nào?
b. Thân bài :
- Vấn đề có ý nghĩa như thế nào?
- Vấn đề đúng hay sai, tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực…?
- Tình trạng của vấn đề đang diễn ra như thế nào trong xã hội?

a. Mở bài: Gợi – Đưa – Báo
+ Gợi : là Gợi ý ra vấn đề cần nghị luận;
+ Đưa : là Đưa vấn đề cần nghị luận ra;
+ Báo : là Báo phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận ( có tính chuyển ý )
b. Thân bài : Giải – Phân – Bác – Đánh
+ Giải: Giải thích rõ nội dung tư tưởng, đạo lí ( bằng cách giải thích các từ
ngữ,các khái niệm…)
+ Phân:Phân tích các mặt đúng của tư tưởng, đạo lí (dùng dẫn chứng từ cuộc
sống và văn học để chứng minh)
+ Bác: Bác bỏ những biểu hiện sai lệch liên quan đến tư tưởng, đạo lí (dùng
dẫn chứng từ cuộc sống và văn học để chứng minh)
+ Đánh: Đánh giá ý nghĩa tư tưởng, đạo lí đã nghị luận
c. Kết bài : Tóm – Rút – Phấn
+ Tóm : Tóm tắt, khái quát lại vấn đề đã nghị luận
+ Rút : Rút ra ý nghĩa, bài học nhận thức từ tư tưởng, đạo lí;
+ Phấn : Phấn đấu, suy nghĩ riêng của bản thân về vấn đề nghị luận;
* Đối với nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống : đặt Từ khóa cho 3
phần theo kết cấu của bài văn, như sau :
a. Mở bài: Gợi – Đưa – Báo
+ Gợi : là Gợi ý ra vấn đề cần nghị luận;
+ Đưa : sau khi gợi thì Đưa vấn đề cần nghị luận ra;
+ Báo : là Báo phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận ( có tính chuyển ý )
18


b. Thân bài : Thực – Nguyên – Hậu – Biện
+ Thực : nêu lên Thực trạng hiện tượng đời sống đưa ra nghị luận;
+ Nguyên nhân: là Nguyên nhân nào xảy ra hiện tượng đời sống đó ( nguyên
nhân khách quan và chủ quan )
+ Hậu : là Hậu quả của hiện tượng đời sống mang lại, gồm có hậu quả tốt và

mà tiến hành tìm ý, nếu có nhu cầu, khả năng sáng tạo thì cũng sáng tạo trên cơ sở đó.
Cũng giống như bố cục thông thường của một bài văn nghị luận, dạng bài
nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học triển khai bố cục ba phần :
Mở bài, Thân bài, Kết luận:
a. MỞ BÀI:
-Giới thiệu tác phẩm văn học
-Giới thiệu được vấn đề nghị luận ở dạng khái quát nhất và định hướng đi,
phạm vi của bài viết.
b. THÂN BÀI:
Bài viết cho dạng này, ở phần thân bài thường gồm hai nội dung lớn:
– Phần một:
Phân tích, giới thiệu và nêu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
+ Nếu đề văn nêu sẵn vấn đề rút ra từ một tác phẩm đã học, thì phân tích qua
vấn đề ấy đã được thể hiện như thế nào trong tác phẩm.
+ Nếu đề nêu một văn bản chưa học, không cho sẵn vấn đề, thì cần đọc hiểu,
phân tích để rút ra vấn đề xã hội và ý nghĩa của vấn đề trước khi vào phần hai.
– Phần hai (trọng tâm):
Nghị luận về vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện). Khi đã có
vấn đề (đề tài, chủ đề) cần bàn bạc rồi, thì mới bắt đầu làm bài nghị luận xã hội, nêu
lên suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề ấy. Tùy thuộc kiểu bài ( nghị luận về tư
tưởng đạo lí, hay nghị luận về hiện tượng xã hội ) mà xác định các bước làm bài phù
hợp.
c. KẾT BÀI:
Phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá vấn đề đặt ra ở mở bài và đã giải
quyết ở thân bài, góp phần tạo tính hoàn chỉnh, trọn vẹn cho bài văn.
4. Hướng dẫn tích lũy kiến thức xã hội
20


Thực ra kiến thức xã hội của học sinh không thể tích lũy một sớm một chiều có

Khả năng này đòi hỏi thời gian rèn luyện nhiều, số lượng “sản phẩm” được “sản xuất”
ra nhiều và đa dạng thì mới thành công được. Vì qua đó học sinh sẽ rút ra được rất
nhiều kinh nghiệm trong quá trình thực hành.
21


Nhận thức như vậy, chúng tôi đã đặt ra kế hoạch thực hành mỗi tuần giải quyết
1 đề bài, ra đề, làm bài, chấm chữa, trả.
Thời gian đầu tất cả các bước đều thực hiện tại lớp:
- Giáo viên và học sinh cùng nhau tìm hiểu đề, lập dàn ý tại lớp, học sinh thực
hành viết từng đoạn, từng phần.
- Giáo viên cho học sinh trình bày ngay tại lớp, tập thể lớp nghe, nhận xét,
đánh giá, sửa chữa. Có thể nói thao tác này rất hiệu quả đối với học sinh, các em tiến
bộ rất nhanh, vì rút kinh nghiệm ngay sau khi thực hành.
- Sau khi học sinh đã nắm bắt được một cách cơ bản kỹ năng viết bài NLXH thì
giáo viên ra đề cho học sinh tự làm ở nhà, sau 1 tuần thu lại, chấm, nhận xét cụ thể,
đề xuất phương án chữa cho từng em. Đầu tuần sau trả bài và giao đề mới. Thỉnh
thoảng cho học sinh đọc bài và tự nhận xét, chấm bài cho nhau. Cách làm này đòi hỏi
giáo viên phải kỳ công trong việc chấm chữa cho học sinh có những nhận xét đánh
giá cụ thể, xác đáng, để trên cơ sở đó học sinh rút kinh nghiệm, sửa chữa khi làm bài
sau.
6. Bài tập minh họa
Đề số 1:
Từ truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, anh/chị
hãy phát biểu suy nghĩ về nạn bạo hành gia đình
.a.

Mở bài:

- Khái quát thực trạng nạn bạo hành gia đình trong xã hội hiện nay.

và miền núi. Bạo hành xảy ra dưới nhiều hình thức: vợ chồng đánh đập nhau, cháu,
con chửi rủa ông bà, dùng những lời lẽ không tốt đẹp để nói về nhau...
+ Hậu quả của bạo hành gia đình: Bạo hành gia đình xảy ra để lại hậu quả đáng
thương, con mất mẹ, cháu mất ông bà, cha mẹ con cái từ nhau... gây ra biết bao tệ nạn
xã hội.
+ Nguyên nhân:
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa anh hàng chài vì phải lo toan, bươn chải
gánh nặng gia đình, vì đói vì nghèo mà đánh đập vợ con để giải tỏa tâm hồn. Thực tế
xã hội phức tạp hơn: Đó là do cái nghèo, cái khổ của cuộc sống xô bồ của xã hội, do ý
thức, đạo đức biến chất tha hóa của một bộ phận người trong xã hội.
23


+ Giải pháp:
Để giải quyết vấn đề bạo lực gia đình cần có sự kết hợp của các cơ quan đoàn
thể, các tổ chức trong xã hội...Đảng và nhà nước cần có biện pháp tích cực như tuyền
truyền vận động mọi người giáo dục mỗi công dân về hạnh phúc gia đình. Phải trừng
trị nghiêm khắc những kẻ có hành vi bạo lực gia đình. Đưa ra những chính sách bảo
vệ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
* Bước 3: Rút ra bài học cho bản thân
- Cần thẳng thắn lên án hành động bạo lực gia đình như nhân vật Phùng, Đẩu
trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
- Hãy sống chan hòa, đầm ấm để không có bạo hành gia đình.
c. Kết bài:
Đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội trong tác phẩm
Đề số 2: Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, tác giả Lưu Quang
Vũ đã để nhân vật Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình là: “Không thể
bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo được”.Anh chị suy nghĩ như thế nào về
quan niệm trên?
DÀN Ý THAM KHẢO

Phân tích, chứng minh ý nghĩa câu nói:
* Thực tế cuộc sống của Trương Ba:
- Bên trong: Gắn liền với phần hồn Trương Ba- một người làm vườn chăm chỉ,
cần cù, tinh tế đã nâng niu chăm sóc vườn cây, một con người mẫu mực, sống đạo
đức và giàu tình nghĩa với vợ con, với cháu nội, với láng giềng xung quanh. Đó là
những phẩm chất quý giá khiến Trương Ba được mọi người nể trọng, quý mến.
- Bên ngoài: Gắn liền với xác hàng thịt – một con người thô bạo, tham lam, coi
trọng sự hưởng thụ vật chất.
- Vì một sự nhầm lẫn nên cả hai con người này đã bị đẩy vào một tình huống éo
le: hồn Trương Ba phải sống nhờ trong xác anh hàng thịt. Vấn đề là ở chỗ: hồn
Trương Ba vẫn có những nhu cầu về tinh thần song lại không thể điều khiển xác anh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status