HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN
KHU VỰC DUYÊN HẢI & ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
LẦN THỨ VIII
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
Người thực hiện: Nguyễn Tấn Ái
Đơn vị: Trường THPT Chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm - tỉnh Quảng
Nam.
1
Quảng Nam, tháng 8 năm 2015
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
1.1. Sự cần thiết của kiểu bài nghị luận xã hội trong nhà trường:
Mọi hoạt động giáo dục đều hướng đến một mục đích lớn là giáo dục,
đào tạo con người thành công dân ưu tú trong xã hội - khi mà người học thật
sự nhập cuộc vào cuộc sống lớn ngoài kia (nơi cuộc sống muôn màu từng
được thu nhỏ như một mô hình giản đơn ở nhà trường). Sự thành công của
sự nghiệp giáo dục, vì vậy, phần nào phụ thuộc vào tính tương thích của mô
hình giáo dục trong nhà trường và hiện thực cuộc sống vĩ đại nguyên khối
mà giáo dục hướng đến. Xác định mục đích hướng đến cuộc sống để đào tạo
con người, Tổ chức UNESCO từng đề xướng ý tưởng: “ học để biết, học để
làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”.
Hướng đến nguyên lý và mục đích giáo dục ấy, phân môn làm văn với
kiểu bài nghị luận xã hội tỏ rõ tính tiên phong của nó trong việc rèn luyện
2.1. Nhìn chung về góc độ lý luận làm văn cho kiểu bài nghị luận xã hội
trong nhà trường, những mặt đạt được và những hạn chế:
Như đã trình bày, việc dạy kiểu bài nghị luận xã hội trong nhà trường phổ
thông đã được xác định là quan trọng và là nội dung giảng dạy căn bản, song
bản thân việc dạy và học không khỏi còn một vài bất cập dẫn đến thực tế
giảng dạy kiểu bài này nhìn chung là chưa đạt được hiệu quả như mong
muốn. Chúng ta thử tìm hiểu nguyên nhân vấn đề ở vài phương diện.
Người trình bày chuyên đề xin đưa ra một quan sát về phân bố giảng dạy
kiểu bài nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông qua một cấp học, cấp
THPT, cấp học có mối quan hệ trực tiếp đến kỳ thi lớn có tính bước ngoặt
trong đời người học sinh. Mặt bằng thống kê như sau:
Trong PPCT Ngữ văn cơ bản dùng cho cấp THPT có các bài liên quan
đến NLXH như sau:
- Chương trình ngữ văn 10: Không có bài riêng cho NLXH, chỉ có các
bài luyện tập thao tác có liên quan đến NLXH.
Tổng số tiết học làm văn: 30 tiết.
- Chương trình ngữ văn 11:
a. Về lí thuyết:
Có các bài: Phân tích đề, lập dàn ý cho bài NL và các bài luyện tập thao
tác.
b.Về thực hành:
Bài viết số 1, số 5.
Tổng số tiết học làm văn: 28 tiết
- Chương trình ngữ văn 12:
a.Về lí thuyết:
Có các bài: Nghị luận về tư tưởng đạo lí; nghị luận về hiện tượng đời
sống; chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận; rèn luyện mở bài kết bài trong
văn nghị luận; diễn đạt trong văn nghị luận.
b.Về thực hành:
Bài viết số 1, số 2.
+ Ngữ văn 12 tỉ lệ ngữ liệu NLXH trên tổng số ngữ liệu được dùng là
7/46 đơn vị ngữ liệu. Số liệu này ở Ngữ văn 12 sách nâng cao là 11/29 đơn
vị ngữ liệu.
Từ thực tế quan sát cho phép có những kết luận sau:
a. Lý luận dạy học làm văn trong nhà trường phổ thông cấp trung học đã
chú trọng cung cấp những nguyên tắc cơ bản khi xử lý dàn ý cho từng kiểu
bài nghị luận xã hội (nghị luận về một tư tưởng đạo lý, nghị luận về một
hiện tượng đời sống ).
b. Lý luận dạy học cũng đã chú trọng cung cấp ngữ liệu vận dụng cho bài
làm văn nghị luận xã hội.
c. Sự cung cấp có tính định hướng về kiểu bài, cách xử lý, về ngữ liệu
tham khảo là cần thiết song còn chưa đủ, chưa đảm bảo so với nhu cầu thực
tế của người học: số tiết thực hành ít, người học thiếu tư liệu tham khảo
hoàn chỉnh như là một bài văn mẫu mà chỉ có những đoạn ngữ liệu ngắn,
không hoàn chỉnh (trong khi số lượng bài mẫu có tính hoàn chỉnh, giải quyết
một vấn đề trọn vẹn cho kiểu bài NLVH lại khá nhiều). Điều này giải thích
vì sao người học ít hứng thú với kiểu bài NLXH so với kiểu bài NLVH và
chất lượng bài viết ở kiểu bài NLXH cũng kém hơn so với chất lượng bài
làm học sinh ở kiểu bài NLVH.
4
2.2 Lịch sử đề thi nghị luận xã hội trong truyền thống qua một số đề bài
mẫu:
Trong truyền thống thi cử đã lâu và cả những năm gần đây, bài làm văn
NLXH có tính bắt buộc và chiếm một tỷ lệ đáng kể về điểm số toàn bài thi,
thông thường là 3 điểm NLXH /10 toàn bài.
Xin lấy đề thi TNTH phổ thông năm 2012 phần NLXH làm mẫu để trao
đổi:
- Đòi hỏi độ hàm súc cao bởi sự giới hạn số từ trong một bài làm (khoảng
400 từ).
5
- Có thể thấy chưa có sự tích hợp giữa nội dung NLXH và nội dung
NLVH trong đề thi. Mặt khác, do yêu cầu hàm súc nên việc đạt điểm tối đa
cho câu NLXH là rất khó và hiếm.
2.3. Có gì mới trong hướng ra đề nghị luận những năm gần đây và xu
hướng sắp đến:
Xu thế chung theo hướng dạy học tích hợp, làm văn trong nhà trường sẽ
không phân tuyến rạch ròi thành bài làm NLVH và NLXH mà tích hợp, sẽ
tiến đến yêu cầu bài luận văn của người học sẽ là một tổng thể hoàn chỉnh
như một phát biểu hoàn chỉnh của mình về các vấn đề đặt ra trong văn học
và trong cuộc sống. Có lẽ điều này là một đổi mới so với cách thức kiểm tra
truyền thống và cũng là tất yếu mang tính bản chất của học văn: văn học
luôn song hành cùng đời sống xã hội.
Bản thân việc đổi mới phương pháp kiểm tra cũng như nội dung đề ra
còn là một vấn đề nghiên cứu lớn mang tầm vĩ mô, cần nhiều nhà khoa học
tầm cỡ và uy tín tham gia - mà có lẽ trước hết là những thầy cô giáo đang
trực tiếp đứng lớp. Họ là những nhà thi công với năng lực quan sát thực tế sẽ
cung cấp những dữ liệu cùng kinh nghiệm hữu ích cho những tổng công
trình sư của ngành giáo dục. Và đó cũng chính là nội dung nghiên cứu chủ
yếu của chuyên luận này.
6
PHẦN NỘI DUNG
Đề 3: Trong truyện ngắn Mùa lạc, nhà văn Nguyễn Khải đã tự sự: “Ở
đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là
phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”.
Anh chị hãy bàn luận về quan điểm trên.
7
Đề 4: Trong trường ca Mặt đường khát vọng, nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm tâm sự:
Em ơi em
Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời.
( Trích Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm)
Từ gợi ý trên, hãy trình bày về vai trò và trách nhiệm của thanh niên đối
với đất nước.
c.Loại bài kết hợp vừa bàn luận về một vấn đề văn học, lại vừa bàn
luận về các vấn đề xã hội nảy sinh trong tác phẩm.
Ví dụ:
Đề 5: Phân tích nguyên nhân bi kịch mất nước của An Dương Vương
trong truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy. Từ đó, hãy
bình luận về những nguyên nhân làm nên một đất nước hùng cường, thịnh
vượng.
Đề 6: Cảm nhận vẻ đẹp người mẹ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài
xa của Nguyễn Minh Châu. Từ đó, hãy suy nghĩ về thiên chức người mẹ.
d.Loại đề nghị bàn luận về một vấn đề xã hội trong một tác phẩm có
thể học sinh chưa được tiếp cận.
Đề 7: Trong Những người khốn khổ của Vích-to Huy-gô, sau khi gặp
ra đề theo kiểu truyền thống vì nhận thấy giữa kiểu đề mới đang hướng đến
và kiểu đề truyền thống có một mối quan hệ thừa tiếp, chưa tháo gỡ những
khó khăn khi giải quyết kiểu đề cũ thì đó cũng sẽ là khó khăn của kiểu đề
mới. Đồng thời những kinh nghiệm tựu thành từ giải quyết kiểu đề cũ cũng
sẽ là kinh nghiệm cần được vận dụng trong giải quyết kiểu đề mới.
Những khó khăn chung khi làm kiểu bài NLXH mà học sinh gặp phải
thường tập trung vào một vài khâu chính yếu:
- Kỹ năng phân tích đề - lập dàn ý:
- Kỹ năng đặt vấn đề, kết thúc vấn đề.
- Kỹ năng hành văn.
Xin được phân tích và đề xuất kinh nghiệm khắc phục những khó
khăn trên.
4.1 Rèn tập kỹ năng phân tích đề:
Yêu cầu chủ yếu của phân tích đề là xác định yêu cầu nội dung (luận
đề), xác định yêu cầu về hình thức, xác định yêu cầu tư liệu.
Trong ba yêu cầu này, cần tập trung xác định yêu cầu về nội dung.
Điểm hạn chế thường gặp ở học sinh là nhầm lẫn giữa luận đề, tức chủ đề
chính cần bàn luận, và lời dẫn trong đề ra. Cần rèn cho học sinh tư duy phát
hiện ý khái quát của đề ra.
Ví dụ:
Với đề bài Tuần lễ của người chăm có bảy ngày, tuần lễ của anh lười
có bảy ngày mai thì luận đề là ứng xử với thời gian.
Với đề bài Từ truyện cười Tam đại con gà, anh/chị hãy trình bày về
ứng xử đối với tri thức thì luận đề là Tri thức thật.
Có thể cho học sinh luyện tập rút ra luận đề bằng hệ thống các câu hỏi
sau:
a. Vấn đề đem ra bàn luận được tổ chức thành mấy vế (mấy mệnh
đề)?
b. Các vế cùng tập trung nói lên điều gì?
c. Ý khái quát của đề ra là gì?
thống ý như sau:
1.Vấn đề đặt ra là gì?
2. Đức hạnh là gì?
3. Tại sao nói mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động?
4. Có hành động không xuất phát từ đức hạnh không? Vậy ý nghĩa
phản biện của câu nói là gi?
5. Bài học nhận thức rút ra là gì?
Bước 3: Học sinh hoàn thành bài viết (có thể tham khảo thêm tư liệu
về cùng vấn đề do thầy cô cung cấp).
Chẳng hạn:
Đề 1: Bình luận về tác hại của tự ti và tự phụ.
1. Câu chuyện thứ nhất:
10
Hạt thóc đi học phép lạ. Khi thành tài, nó xuống núi hành hiệp. Gặp
con gà, nó co cẳng chạy về mách cùng sư phụ. Sư phụ phì cười: Với tài phép
của con, con nay đã là con hổ rồi, đâu còn phải sợ gà nữa. Hạt thóc vẫn lắc
đầu nguầy nguậy: Nhưng con gà cứ nhất quyết bảo con là hạt thóc thì sao?
Hạt thóc mang mầm bệnh TỰ TI.
Mẫu người tự ti luôn thấy mình yếu đuối, lo sợ sai lầm sẽ đến với
mình bất cứ lúc nào. Bệnh sợ kém cỏi làm cho họ thật sự trở thành kém cỏi,
và luôn trở nên vô dụng bạc nhược trước mọi công việc.
Có bao giờ đó là căn bệnh của bạn?
- Đi hát karaoke với bọn này đi.
- Thôi, tôi hát không hay.
- Họp mặt bạn bè nhé.
- Thôi, tôi chẳng thành đạt gì, thêm hổ thẹn.
- Bạn nhận hướng dẫn cuộc họp tối nay nhé.
- Mọi người làm đi, tôi không quen nói trước đám đông.
Phẩm chất cao nhất của con người trong tự nhiên là trí tuệ.
Mà phẩm chất người cao nhất trong xã hội con người là đức hạnh.
Cũng như những giá trị phát kiến là thước đo phẩm chất trí tuệ con
người trong mối quan hệ với tự nhiên, đức hạnh - phẩm chất cao quí nhất
của con người trong xã hội - cũng cần có thước đo của nó.
Và Xi xê rông phát biểu: Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành
động.
II.
1. Đức hạnh là gì? Là đạo đức, trí tuệ, tâm hồn?
Đúng, nhưng chưa đủ: Là trí tuệ, tâm hồn, đạo đức khi hướng đến cái
thiện.
2. Đức hạnh là cao quí, nên ai ai cũng ao ước đội cho mình vương
miện cao quí đó, nhưng không phải vương miện nào cũng thật.
Và sự thật là ở trong hành động.
Đức hạnh là cội nguồn sinh ra những hành động đẹp.
Phải từ tình yêu thì mới đem đến kết quả là sự hi sinh.
Tình yêu thương càng sâu thẳm thì kết quả của yêu thương càng sâu
thẳm, động lòng người, xé lòng trời.
3 .Và hành động là thực chứng cho sự hiện hữu của đức hạnh.
Cơ chế điều khiển của hành động là lí trí, và cơ chế điều khiển của
hành động đạo đức là đức hạnh.
Lá lành đùm lá rách là từ tâm.
Bầu ơi thương lấy bí cùng là đạo lí cội nguồn.
Bát cơm, manh áo sẻ chia cho những mảnh đời cơ nhỡ là tâm hồn xót
thương trăn trở với những cuộc đời chưa tròn trịa.
4. Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động.
Phát biểu ấy không chỉ là kết luận thẩm định về giá trị của đức hạnh,
mà còn là phản biện với những đạo đức giả.
Con người với bản chất người vốn ham thích vương miện: Khát làm
học giả, khát làm vĩ nhân, khát làm người hiền, và khát làm nhà đạo đức. Vì
nên làm và nên tránh và hướng vận dụng.
Tham khảo:
Đề 3: Bàn về hiện tượng giữa một vùng sỏi đá khô cằn vẫn có những
cây hoa mọc trên ghềnh đá.
Mở bài:
Người bộ hành lạc lối giữa sa mạc. Và nắng, và gió, và bão cát. Và
đói, và khát, và mỏi mệt. Như sắp sửa sụp xuống, như sẽ ngã quỵ, như hẳn
bỏ cuộc. Bỗng nơi xa cuối ánh mắt nhìn vẫn xanh tươi thắm hồng một bông
hoa mọc trên ghềnh đá, như mách bảo như nhủ khuyên rằng cuối con đường
kia vẫn cứ là sự sống.
Có lẽ người bộ hành kia đã không chịu bỏ cuộc, không nhắm mắt để
còn kể lại với chúng ta rằng giữa một vùng sa mạc khô cằn vẫn có một bông
hoa nở bên ghềnh đá. Và sự sống là bất diệt.
Kết bài:
Tôi cũng đã gặp những nhàu nhò đau khổ và bỏ cuộc. Nhàu nhò đau
khổ hơn vì bỏ cuộc.
Chen lẫn một xót xa, một đau lòng, một yêu thương và trách cứ.
Rằng mệnh lệnh dành cho con người là phải Sống! Và sống bằng nghị
lực của con người.
13
Rằng cái còn lại sau một kiếp người không phải là sự sống, mà chính
là lẽ sống.
Chọn đúng lẽ sống cho mình, con người có thể không qua khỏi vùng
sa mạc tiền định, nhưng không sao, giữa một vùng sa mạc khô cằn hãy còn
có những bông hoa mọc trên ghềnh đá.
Đề 4: “ Các vĩ nhân cũng chỉ có 24 giờ trong một ngày” - Ngạn ngữ Mở bài:
Mỗi khi ngồi trước màn hình vi tính, nhìn chiếc đồng hồ cát di động
trên tay mình, tôi lại rùng mình với ý niệm thời gian.
- Nếu là trích dẫn thì luôn gắn với xuất xứ của trích dẫn.
14
- Nếu là đề xuất từ người ra đề thì thường gắn với nội dung tóm tắt
của tác phẩm.
- Cũng có thể vấn đề nghị luận xã hội lại là vấn đề thuộc nội dung tư
tưởng của tác phẩm.
5.2 Lưu ý các yêu cầu cơ bản khi giải quyết kiểu đề này:
Như đã trình bày ở trên, cần lưu ý học sinh các vấn đề cốt lõi sau đây:
- Vấn đề đặt ra để làm đối tượng nghị luận luôn gắn liền với đời sống
xã hội trong tác phẩm.
- Để bàn bạc thấu đáo vấn đề đặt ra, đòi hỏi người bàn luận phải hiểu
về tác phẩm văn học, quá trình bàn luận về vấn đề xã hội không thoát ly với
khí quyển văn học nảy sinh vấn đề.
- Không đem nội dung văn học thay thế cho nội dung xã hội của tác
phẩm.
5.3 Rèn luyện các kỹ năng:
Phần rèn luyện các kỹ năng cần kế thừa các kỹ năng đã được rèn tập
qua kiểu bài NLXH nói chung, tập trung tháo gỡ các khó khăn phát sinh do
đặc trưng nội dung của kiểu bài này. Do đó, phần chính yếu là xác định mối
liên quan giữa các vấn đề xã hội cần bàn luận và vấn đề văn học đặt ra
trong tác phẩm, điều tiết vừa mức các mối quan hệ sao cho không xa rời tác
phẩm văn học mà không đi vào bàn luận các vấn đề văn học.
Để định hướng rèn tập kỹ năng phần này, người viết xin được vận
dụng các đề đã đề xuất ở Mục 2. c, d.
Đề 5: Qua bi kịch mất nước của An Dương Vương trong truyền thuyết
An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy, nêu phán xét của em về các
nhân vật An Dương Vương, Mỵ Châu. Từ đó, hãy bình luận về những
nguyên nhân làm nên một đất nước hùng cường thịnh vượng.
đó.
- Bàn về nhân vật Mỵ Châu và bi kịch mất nước, chỉ ra trách nhiệm
của nhân vật và phán quyết.
- Bàn về những nguyên nhân làm nên một đất nước hùng cường thịnh
vượng xét ở hai phương diện chính: vai trò của người lãnh đạo đất nước, vai
trò của một công dân.
Phần kết bài:
- Bài học lịch sử cần được vận dụng cho đời sau.
Đề 6: Cảm nhận vẻ đẹp người phụ nữ trong tác phẩm Chiếc thuyền
ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Từ đó, hãy suy nghĩ về thiên chức người
mẹ.
Phân tích đề:
Đề bài có hai yêu cầu: Yêu cầu về văn học là cảm nhận về vẻ đẹp
người phụ nữ trong tác phẩm, yêu cầu xã hội là suy nghĩ về thiên chức người
mẹ nói chung. Do sự không trùng khít giữa các nội dung vẻ đẹp người phụ
nữ và thiên chức người mẹ mà có thể thấy mối tương quan về nội dung nghị
luận trong đề bài là không cân đối, có thể chia tỷ lệ 7/3 cho các yêu cầu nghị
luận văn học/nghị luận xã hội.
Bài làm cần đảm bảo được các ý sau:
Về nội dung văn học: Giới thiệu được nhân vật và hoàn cảnh nhân
vật; từ hoàn cảnh mà thấy ở người phụ nữ này các phương diện làm nên cái
đẹp như nhẫn nại chịu đựng trước hoàn cảnh, chịu khổ vì chồng, hy sinh cho
con. Đó là những vẻ đẹp truyền thống được lưu giữ ngay trong thời hiện đại.
Vẻ đẹp hiện đại của nhân vật người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa là sự
thấu suốt lẽ đời. Thấy được mối quan hệ giữa vẻ đẹp truyền thống và vẻ đẹp
hiện đại.
16
thương và tha thứ. Tuy nhiên, cần lưu ý xuất xứ của yêu cầu là từ một tác
phẩm văn học.
Bài làm cần đảm bảo được các ý sau:
Về nội dung văn học: Giới thiệu được về tác phẩm Những ngời khốn
khổ của V. Huy-gô, các nhân vật Giăng-van-giăng, Cô-dét và Ma-ry-uýt.
Hoàn cảnh xuất hiện lời khuyên nhủ.
Về nội dung nghị luận xã hội: Bàn được nội dung, giá trị của yêu
thương; nội dung, giá trị của tha thứ; mối quan hệ giữa yêu thương và tha
thứ; rút ra bài học nhận thức.
Từ đó có thể có dàn ý sau:
17
Mở bài: Giới thiệu tác giả V.Huy-gô, tác phẩm Những người khốn
khổ và vấn đề cần nghị luận.
Thân bài:
- Mối quan hệ giữa yêu thương và tha thứ.
- Giá trị của yêu thương
- Giá trị của tha thứ
- Ý nghĩa của yêu thương và tha thứ
Kết bài: Lời nhắn nhủ
Tham khảo:
YÊU THƯƠNG VÀ THA THỨ
I. Hết lòng hy sinh cầu tìm hạnh phúc cho đôi bạn trẻ, chỉ lùi xa, giữ
riêng mình một lặng lẽ cô đơn. Đến khi chàng trai Ma-ry-uýt và cô gái Côdét kịp hiểu ra, kịp tìm đến thì con người nhân hậu Giăng-van-giăng lại sắp
sửa làm cuộc lữ hành vĩnh viễn. Phút chia tay, người cha vĩ đại Giăng-vangiăng đã ân cần trao gửi trong tay đôi bạn trẻ quà tặng cuối cùng, một lời
khuyên, rằng: “Trên đời chỉ có một điều ấy thôi, là thương yêu nhau.”
Câu chuyện ấy của nhà văn V. Huy-gô cứ làm bạn đọc không thôi trăn
trở về giá trị của yêu thương và tha thứ.
II.
ngôi nhà của mình, tha thứ cũng sẽ làm cho con người ấm lòng, hồi sinh, tìm
lại ý nghĩa thật của sự sống.
Mỗi một lầm lạc được thứ tha, xã hội có thêm một con người có cơ
hội làm lại đời mình.
Yêu thương sinh ra cái đẹp.
Thì tha thứ là sự hồi sinh cái đẹp.
Mà sinh thành và tái tạo, nào ai biết rằng trọng rằng khinh?
III.Và bạn, và tôi còn ngần ngại so đo gì với lòng tư kỉ?
Ta hãy nhủ nhau đãi người bằng yêu thương và tha thứ!
Đề 8: Nhà thơ Trang Thế Hy có bài thơ Lời nói dối nhân ái như sau:
Gió nói với chiếc lá úa
“Trong vòng tuần hoàn bất tận của chiếc lá
Màu vàng của mi trong khoảnh khắc này
Là sắc đẹp vĩnh hằng của nhan sắc mùa thu tàn phai nhanh;
Đừng buồn, cái đẹp nào cũng phù du vì chỉ có cái phù du mới đẹp”.
Lá biết gió nói dối nhưng vẫn vui vẻ bay vèo theo gió.
“Chàng thấy nàng đẹp rồi chàng mới yêu
Anh thì ngược lại yêu em trước rồi sau mới biết rằng em đẹp”
Lời nói dối ngược ngạo luật phản xạ của anh chồng làm ửng hồng đôi
má cô vợ trẻ
Cô gái nói với ông già
“Bố đẹp lão quá, hồi còn trai chắc bố có số đào hoa”
Ông già -héo queo như cây kiểng còi- uống lời nói dối cực kỳ khó tin
của cô gái như uống giọt nước thần có dược chất hồi xuân.
Tiếc thay! Những lời nói dối ta phải nghe hằng ngày lại là những lời
nói dối không nhân ái.
Bài thơ gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về sự ân hậu trong lời nói?
Phân tích đề:
Bài thơ có cấu trúc ý hai phần: Phần một là những lời nói dối từ động
cơ yêu thương đem lại cái đẹp trong cuộc sống, phần hai là trăn trở về những
Tham khảo:
LỜI NÓI DỐI NHÂN ÁI
Một người bạn giới thiệu với tôi về nhà thơ Trang Thế Hy, rằng đó là
con người ngạo mạn thách thức kiếp phận truân chuyên. Băn khoăn đi tìm
chân dung tâm hồn ấy, và tôi đã bị thuyết phục bởi một bài thơ, một trăn trở
về cuộc sống, dù đôi lúc cuộc sống ấy chưa thật là một bài thơ nên thơ trọn
vẹn: Bài thơ Lời nói dối nhân ái.
Lại là một phát biểu ngược ngạo mà chân lý, cái đích đến của bài thơ
không là thơ mà lại rất đời: cuộc đời cần những lời nhân ái để nên thơ.
Một vài câu chuyện thi thoảng hiện ra trong đời sống mà có khi vô
tình lơ đễnh hay vội vã cuống cuồng ta đã bỏ qua: người chồng lịch thiệp
tặng vợ lời yêu, cô cháu gái tặng ông già lời ngưỡng mộ. Cho hay đời sống
đôi khi thừa một cách thảm hại mà cũng thiếu một cách nghèo nàn. Những
cô gái trẻ tự biết mình được yêu thừa những lời khen có cánh, và bị ép uổng
nhận lãnh dù lạnh nhạt, những chàng trai hào hoa nhếch mép ngạo mạn mà
không xua đuổi hết những lời ngưỡng mộ. Ấy vậy là thiếu lắm lời an ủi với
20
anh lính cụt tay, với người góa phụ. Mới hay lời tỏ tình đâu chỉ cần cho mùa
xuân, mà mùa tiết nào lại không cần đến những tỏ tình? Câu chuyện xã hội
ấy đã trở thành trăn trở nơi nhà thơ:
“Chàng thấy nàng đẹp rồi chàng mới yêu
Anh thì ngược lại yêu em trước rồi sau mới biết rằng em đẹp”
Lời nói dối ngược ngạo luật phản xạ của anh chồng làm ửng hồng
đôi má cô vợ trẻ.
Biết nói lời lịch sự tế nhị là biểu hiện của yêu thương. Người ta nói
gia đình là bến đậu tâm hồn, ấy vậy mà có những vô tình làm ao hồ dậy
sóng. Hãy học nói yêu thương từ ngày trong mái nhà của bạn, với người vợ
yêu trẻ của bạn, và hãy kiên trì dù khi cô ấy không còn nhan sắc như xưa.
Biết nói lời tử tế và biết cảnh giác với lời tử tế âu cũng là hai mặt của
một kỹ năng. Mà đâu chỉ kỹ năng, mà là tấm lòng. Biết dùng chân tâm định
hướng, chân tâm làm thuẫn đỡ, chân tâm làm vũ khí thì cuộc sống sẽ tử tế
hơn, và quanh ta, lời dối trá sẽ lùi dần…
*
* *
Chúng ta dễ thống nhất với nhau quan điểm: nghị luận xã hội về một
vấn đề văn học là một vận dụng kiểu bài nghị luận xã hội nói chung vào nhà
trường sao cho phù hợp với đối tượng là học sinh, và không tách rời với nội
dung văn học được học ở nhà trường. Vì vậy cần kế thừa kinh nghiệm dạy
nghị luận nói chung vào kiểu bài này, và cần nhận diện điểm mới của kiểu
bài là gì, dự tính những khó khăn mà người học có khả năng gặp phải để
cùng trao đổi, tìm hướng giải quyết. Với định hướng đó, nội dung phần này
chỉ tập trung phân tích mối quan hệ giữa nội dung nghị luận văn học và nội
dung nghị luận các vấn đề xã hội trong một vài dạng đề, đồng thời đề xuất
hướng giải quyết. Kinh nghiệm cá nhân này cần được sự bổ túc của đồng
nghiệp để trọn vẹn hơn.
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện chuyên đề:
Nhận được phân công trách nhiệm viết báo cáo chuyên đề, tôi hiểu
đây là lòng tin của đồng nghiệp dành cho mình, càng thấy trách nhiệm thật
lớn lao.
Lao vào công việc, với hơn hai tháng làm việc, gặp phải vô vàn khó
khăn.
Trước hết là một đề tài quá mới, vùng trọng tâm là những khó khăn
cần giải quyết khi làm bài nghị luận xã hội đặt ra từ một tác phẩm văn học là
vấn đề chưa từng được bàn đến, dạng đề này hiện vẫn chưa được vận dụng
làm khoa học cũng chỉ là khoa học nghiệp dư, nên chuyên đề không tránh
khỏi những sai sót. Song tự đánh giá chuyên đề cũng đã đạt được vài kết
quả:
- Đã hệ thống được những kinh nghiệm giảng dạy kiểu bài nghị luận xã
hội trong nhà trường.
- Nhận diện nội dung chủ yếu của kiểu bài mới: nghị luận xã hội về một
vấn đề đặt ra từ tác phẩm văn học.
- Kế thừa kinh nghiệm làm bài nghị luận xã hội nói chung để giải quyết
khó khăn phát sinh khi giải quyết kiểu bài mới.
Những đề nghị:
Kính thưa các đồng nghiệp!
Với một lĩnh vực vừa khoa học vừa nghệ thuật như khoa học ngữ văn,
việc chiếm lĩnh tri thức bằng chiếc gậy kinh nghiệm quả là một cuộc dò
đường vừa khó khăn vừa vô cùng. Rất may chúng ta đã có những nhà khoa
học chuyên nghiệp đầy bản lĩnh và kinh nghiệm như các giáo sư của các
trường đại học mà mình không thôi học hỏi.
Vừa hy vọng chuyên đề góp phần cùng đồng nghiệp cả nước tháo gỡ
những khó khăn gặp phải trong quá trình đứng lớp, lại vừa tự biết giới hạn
tri thức của mình, chúng tôi chờ đợi những đóng góp ý kiến từ hội thảo.
23
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngữ văn 6, 7, 8, 9 sgk tập 1,2 NXB Giáo dục
2. Ngữ văn 6, 7, 8, 9 sgv tập 1,2 NXB Giáo dục
3. Ngữ văn 10, 11, 12 cơ bản sgk tập 1,2 NXB Giáo dục
4. Ngữ văn 10, 11, 12 cơ bản sgv tập 1,2 NXB Giáo dục