BÁO cáo CHUYÊN đề rèn LUYỆN kĩ NĂNG NGHỊ LUẬN về vấn đề xã hội đặt RA TRONG tác PHẨM văn học - Pdf 33

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NINH BÌNH
----------------*****----------------

CHUYÊN ĐỀ
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

Người thực hiện: Tạ Anh Ngọc
Đơn vị: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy

Ninh Bình, tháng 7 năm 2015


RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT, đặc biệt là giảng dạy môn chuyên
và bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài việc trang bị kiến thức thì việc rèn kĩ năng nghị
luận có vai trò vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng và hiệu quả của
công tác giảng dạy. Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng nghị luận cho học sinh là
phương pháp giúp học sinh có khả năng vận dụng tri thức, hiểu biết về các vấn đề của
văn học và đời sống vào giải quyết các yêu cầu thực tế của các dạng đề nghị luận.
Công việc này cả ba phân môn cùng đảm nhận, trong đó Làm văn giữ vai trò chủ đạo.
Phân môn này giúp học sinh hình thành một hệ thống kỹ năng đảm bảo cho quá trình
tạo lập văn bản có hiệu quả, từ kỹ năng phân tích tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý cho
đến lập luận… Trên cơ sở những kỹ năng cơ bản đó, đối với yêu cầu của mỗi dạng
nghị luận, học sinh cần được hình thành những kỹ năng riêng trong đó có tầm quan
trọng của việc rèn luyện kỹ năng nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học.
1.2. Nhìn vào hệ thống chương trình Ngữ văn THPT, chúng ta thấy nghị luận xã hội

một số giải pháp mà chúng tôi đã vận dụng, coi đó là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
giảng dạy với mong muốn nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của việc giảng
dạy môn Ngữ văn ở trường chuyên.
2. Mục đích của đề tài
- Trong chuyên đề này, chúng tôi tập trung vào vấn đề rèn kĩ năng nghị luận về
một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, đưa ra các giải pháp, cách làm để
rèn kĩ năng viết văn nghị luận nói chung cho học sinh, đồng thời trang bị cho các em
kĩ năng phân tích đề, tìm ý, xây dựng hệ thống ý, lập luận để có thể tạo lập tốt văn
bản nghị luận đáp ứng yêu cầu cụ thể của dạng đề này.
- Viết về vấn đề này, chúng tôi mong muốn được chia sẻ, học hỏi cách làm,
kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy
môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện nay.

3


- Để thực hiện được mục tiêu đề ra, chúng tôi vận dụng một số phương pháp
nghiên cứu khoa học như khái quát, so sánh, thống kê, phân tích, từ những vấn đề lí
thuyết đi vào vận dụng thực hành qua một số dạng đề cụ thể.
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Khái lược về văn nghị luận
Tạo lập một văn bản nghị luận là công việc mà học sinh thực hiện thường
xuyên trong suốt quá trình học tập ở nhà trường. Vì thế, việc trang bị cho các em
những tri thức cơ bản về đặc điểm của văn bản này là cần thiết. Văn nghị luận trong
bảng phân loại văn, thuộc một loại hình lớn, một kiểu văn bản phân biệt với văn tự
sự, văn trữ tình và văn thuyết minh, có vai trò to lớn và rất phổ biến trong đời sống.
Xét về phương thức biểu đạt, văn nghị luận là văn thuyết lí, biện luận, giàu tính chất
lí trí. Nó vận dụng các phương thức logic như phán đoán, suy lí để xây dựng các tư
tưởng, quan niệm, khái niệm, nâng cao năng lực nhận thức lí tính cho con người.
Văn nghị luận là thể loại văn viết về những vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực đời

nêu suy nghĩ về ý nghĩa của vấn đề đó. Vì vậy, đề đòi hỏi người viết phải có cả kiến
thức về văn học và kiến thức về đời sống xã hội cũng như những kĩ năng phân tích
văn học và kĩ năng phân tích, đánh giá các vấn đề xã hội. Vấn đề xã hội được nghị
luận có thể rút ra từ tác phẩm văn học đã học trong chương trình nhưng cũng có thể
từ một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà học sinh chưa được học.
Ví dụ:
Đề 1: Từ đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nêu
suy nghĩ của anh (chị) về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi
người.
Đề 2:
CÁC DẤU CHẤM CÂU
Có người đánh mất dấu phẩy, trở nên sợ sự phức tạp, cố tìm những câu đơn
giản. Đằng sau những cái đơn giản là những ý nghĩ đơn giản.
Sau đó anh ta đánh mất dấu chấm than và bắt đầu nói khe khẽ, không có ngữ
điệu. Chẳng còn gì làm anh ta sung sướng hay phẫn nộ. Anh ta thờ ơ với mọi chuyện.
Kế đó anh ta đánh mất dấu hỏi và chẳng bao giờ hỏi gì nữa. Mọi sự kiện bất kì xảy

5


ra ở đâu, dù trên vũ trụ, trên mặt đất hay ngay trong nhà cũng không làm anh ta
quan tâm.
Một vài năm sau anh ta quên mất dấu hai chấm và không còn giải thích hành
vi của mình nữa. Cuối đời anh ta chỉ còn lại có dấu ngoặc kép mà thôi. Anh ta không
phát biểu ý kiến nào của riêng mình nữa, lúc nào cũng trích dẫn lời của người khác.
Thế là anh ta quên mất cách tư duy hoàn toàn.
Cứ như vậy anh ta đi cho tới dấu chấm hết.
(Theo báo Hà Nội mới, Chủ nhật 15-3-1993).
Câu chuyện trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì?
Dạng bài này rất dễ lẫn với bài nghị luận văn học vì buộc phải có khâu phân

kiến thức từ sách vở, kiến thức từ đời sống. Kiến thức từ sách vở được huy động chủ
yếu từ báo chí, sách tham khảo về các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ văn học, lịch
sử, khoa học, tôn giáo đến sách về gương người tốt việc tốt, " Hạt giống tâm hồn",
"Hạt giống hạnh phúc", "Suy nghĩ của những người trẻ",… Điều quan trọng là hướng
dẫn các em tìm và lựa chọn sách cần thiết, biết cách đọc, hệ thống hóa kiến thức thu
nhận được. Kiến thức từ đời sống được bồi đắp từ thói quen quan sát những hoạt
động, sự việc, những vấn đề của cuộc sống xung quanh, cập nhật thông tin và quan
trọng hơn là biết suy nghĩ, đánh giá những gì mình nghe được, quan sát được. Trên
cơ sở đó, các em hiểu và nắm bắt được bản chất các vấn đề của đời sống. Bên cạnh
đó, kiến thức có được từ những trải nghiệm sâu sắc của bản thân trong mọi tình
huống của cuộc sống sẽ là minh họa sống động, có sức thuyết phục cao nếu nó được
vận dụng vào bài văn một cách tự nhiên, chân thành.
* Kỹ năng nhận diện, phân tích đề:
Kĩ năng nhận diện, phân tích đề cho đúng và trúng là vô cùng quan trọng, có ý
nghĩa định hướng nội dung và phương pháp, góp phần quyết định thành công của bài
viết. Để nhận thức chính xác đề văn, học sinh cần đọc kĩ đề và trả lời một số câu hỏi
như: Thực chất đề bài nêu lên và buộc người viết bàn về vấn đề gì? Đề văn này thuộc
loại đề nào? Bài yêu cầu vận dụng những thao tác nghị luận, phương thức biểu đạt
nào? Phạm vi kiến thức cần huy động và làm sáng tỏ ở đây là gì?...
* Kĩ năng tìm ý và xây dựng hệ thống ý cho bài văn:
7


Nhận thức đề là cơ sở cho việc tìm ý và xây dựng hệ thống ý cho bài viết. Tư
tưởng trong bài văn được thể hiện thông qua hệ thống ý. Người viết phải xác định
được hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, phản ánh đúng bản chất
của vấn đề, phù hợp với đối tượng, chính xác, mạch lạc, lôgic thì bài văn mới đảm
bảo nội dung đúng, đủ, sâu sắc, có sức thuyết phục cao.
Trong quá trình xây dựng hệ thống ý cho bài viết, học sinh luôn phải biết tự đặt
ra các câu hỏi: Là gì? Như thế nào? Đúng hay sai? Tại sao lại như thế? Có ý nghĩa

3.2. Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
Để làm tốt kiểu bài này, cần rèn cho học sinh các kĩ năng chung đáp ứng yêu
cầu của bài nghị luận: kĩ năng phân tích đề, tìm ý, xây dựng hệ thống ý, diễn đạt để
tạo lập một văn bản hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, cần trang bị cho các em những kĩ năng
phù hợp với đặc trưng riêng của dạng đề. Dưới đây là một số kĩ năng cần thiết:
3.2.1. Phân tích đề
- Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề, xác định yêu cầu về kiểu bài, xem đây là dạng đề
nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học đã học hay chưa học
trong chương trình.
- Nếu là tác phẩm đã được học thì đề thường nêu giới hạn phạm vi vấn đề nghị
luận để định hướng cho người viết vì dung lượng những tác phẩm này thường dài, nội
dung phong phú nên khó cho việc xác định vấn đề (Chẳng hạn: “Bài thơ Việt Bắc của
Tố Hữu và bài học: Sống cần có nghĩa, có tình thuỷ chung trọn vẹn”; hoặc “Qua Đời
thừa, nghĩ về ý nghĩa sự tồn tại của mỗi cá nhân trong gia đình và xã hội”; “Từ bài
viết Tiếng mẹ đẻ-nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của Nguyễn An Ninh, suy
nghĩ về hiện tượng thích dùng tiếng nước ngoài trong đời sống hiện nay”…)
- Nếu là văn bản chưa được học trong chương trình (một câu chuyện ngắn, một
bài thơ, một trích đoạn…), đề cũng có thể nêu giới hạn vấn đề nghị luận nhưng đa
phần chỉ hỏi: “nêu suy nghĩ của anh (chị) về câu chuyện…” hoặc “Câu chuyện đem
lại cho anh (chị) bài học nhân sinh nào”… thì việc xác định đúng và trúng vấn đề
nghị luận khó khăn hơn. Học sinh cần đọc thật kĩ văn bản để nắm bắt được tinh thần
chung và xác định vấn đề nghị luận, nội dung nghị luận, phạm vi tư liệu, các thao tác
nghị luận và các phương thức biểu đạt sẽ vận dụng.
9


3.2.2. Tìm ý
- Để tìm được ý cho một đề văn, một trong những cách tương đối có hiệu quả
là rèn cho học sinh thói quen đặt ra các câu hỏi và tìm cách trả lời các câu hỏi đó.
Việc đặt ra các câu hỏi thực chất là biết soi sáng đối tượng dưới nhiều góc độ, biết lật

khía cạnh gì? Tại sao? Có ý nghĩa như thế nào? Đem đến bài học nào?
+ Phần kết luận: Chốt lại vấn đề, nêu những suy nghĩ, bài học…
4. Vận dụng thực hành
4.1. Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đã học trong
chương trình.
Các tác phẩm được chọn đưa vào giảng dạy trong nhà trường đều mang ý
nghĩa xã hội, tính thẩm mĩ, tính giáo dục sâu sắc. Khi tiếp nhận văn bản là HS đi tìm
giá trị của nó cả về nghệ thuật và nội dung tư tưởng. Nhưng dạng đề này chỉ yêu cầu
HS khai thác khái quát giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, từ đó rút ra ý nghĩa xã
hội, vấn đề đạo lí, đạo đức, triết lí nhân sinh, bài học cuộc sống… của nó và nêu quan
điểm, ý kiến bàn bạc về vấn đề đó.
Ví dụ 1: Từ văn bản Cha tôi của Đặng Huy Trứ, anh (chị) hãy phát biểu quan niệm
của bản thân về việc đỗ - trượt trong thi cử.
* Tìm ý: Có thể đặt ra những câu hỏi tìm ý như sau:
+ Văn bản Cha tôi có nội dung gì?
+ Quan niệm về vấn đề đỗ - trượt của người cha trong câu chuyện có gì đáng
chú ý?
+ Quan niệm đó gợi cho ta suy nghĩ gì về vấn đề đỗ- trượt trong thi cử ngày
nay?
+ Có thể rút ra bài học gì về con đường thi cử, phấn đấu của bản thân?
* Dàn ý:
Mở bài: Giới thiệu khái quát nội dung chính của văn bản Cha tôi và quan niệm về
vấn đề đỗ- trượt được đặt ra trong văn bản.
Thân bài:
- Tóm lược nội dung câu chuyện và phân tích quan niệm đỗ trượt của thân phụ
Đặng Huy Trứ, chỉ rõ sự đặc biệt trong hành động thể hiện suy nghĩ, quan niệm khác
lẽ thường:
+ Thấy con hai lần thi đỗ: Lẽ thông thường thì phải hạnh phúc, vui mừng
nhưng người cha “ nước mắt ướt áo”, “rớt nước mắt” như gặp việc chẳng lành vì sợ
11

Mỗi người nên có quan niệm đúng đắn về chuyện thi cử, đỗ- trượt và rộng hơn,
cần có cách nhìn đúng về thành công và thất bại trong cuộc sống. Cần nỗ lực phấn
12


đấu trong học tập, lao động để vượt qua những cuộc thi của trường đời. Câu chuyện
của người xưa đến nay vẫn còn ý nghĩa.
Ví dụ 2: Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu trong Xuất dương lưu biệt có
ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống của lớp trẻ ngày nay?
Mở bài: Giới thiệu tác phẩm, nêu vấn đề nghị luận.
Thân bài:
1. Quan niệm về chí làm trai thể hiện trong bài thơ:
Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu thể hiện như thế nào trong bài thơ?
- Nam nhi chí là một quan niệm nhân sinh tích cực thời phong kiến, thể hiện ý
thức của cái tôi tự nhiệm, gánh vác trọng trách, sứ mạng với cuộc đời.
- Phan Bội Châu khẳng định đã sinh ra làm trai thì phải làm được điều “hi kì”,
điều phi thường, kiệt xuất. Đó là phải ghi dấu ấn cá nhân vào càn khôn vũ trụ, phải
chủ động xoay chuyển trời đất chứ không để trời đất xoay chuyển; phải ghi dấu ấn
của mình vào thời gian lịch sử vĩnh hằng, vào cõi nhân sinh; phải có cái nhìn đúng
đắn với nền học vấn đã lỗi thời; từ nhận thức phải chuyển thành hành động thiết thực,
cụ thể ( vượt biển Đông du tìm đường cứu nước….)
- Đây là một quan niệm sống nhập thế tích cực của một chí sĩ cách mạng hồi
đầu thế kỉ XX, thể hiện ý thức cá nhân sâu sắc, khẳng định một cách sống chói lọi, có
ích cho dân cho nước, có ý nghĩa sâu sắc, mang tầm vóc thời đại.
2. Bàn luận vấn đề:
Quan niệm đó có ý nghĩa như thế nào đối với lớp trẻ hiện nay? Những biểu
hiện cụ thể của nó như thế nào? Quan niệm này có phải chỉ đúng với nam giới
không?
- Đối với lớp trẻ hiện nay, quan niệm sống này vẫn còn nguyên giá trị tích cực,
nó cổ vũ một lối sống có lí tưởng cao đẹp, đầy bản lĩnh, khát khao khẳng định mình

- Tác phẩm Một người Hà Nội: đề cao vai trò của truyền thống và nền nếp, gia
phong qua câu chuyện về một gia đình Hà Nội (gia đình bà Hiền), qua việc dạy dỗ
con cái, xây dựng nếp nhà và nếp người của nhân vật bà Hiền.
- Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa: qua câu chuyện của một gia đình hàng chài
với những số phận bất hạnh sống cuộc đời lam lũ, nghèo đói, thất học, bế tắc…, tác
giả trực tiếp cảnh báo vấn đề bạo hành trong gia đình đã gây ra hậu quả xấu, tạo nên

14


nỗi đau trong tâm hồn các thành viên (sự tổn thương trong tâm hồn người vợ, những
đứa con, sự hằn thù của đứa trẻ (thằng Phác) với bố mình…).
- Cả hai tác phẩm qua những câu chuyện khác nhau cùng đặt ra vấn đề vai trò
của gia đình và ý nghĩa của nó đối với những buồn vui, ấm lạnh của mỗi cuộc đời, số
phận; ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần, tư tưởng, sự phát triển và hoàn
thiện nhân cách của mỗi con người.
2. Suy nghĩ về vai trò của gia đình trong đời sống của mỗi người.
- Gia đình là mái ấm để yêu thương, để con người sống và trưởng thành.
+ Trong nếp sống truyền thống của người Á Đông, gia đình có vai trò vô cùng
quan trọng trong việc bồi đắp tâm hồn và giáo dục nhân cách con người.
+ Gia đình là mái ấm, nơi dành tặng những yêu thương, là nơi ông bà, bố mẹ,
anh chị em gắn bó, chở che, quan tâm chăm sóc, nâng đỡ cuộc đời, là “bến đỗ” bình
yên trong tâm hồn mỗi con người trước mọi biến động thăng trầm của cuộc sống. Vì
vậy, mỗi người luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ mái ấm của mình.
- Gia đình có vai trò và tác động rất lớn trong việc hình thành nhân cách mỗi người.
+ Gia đình với truyền thống tốt đẹp, nề nếp gia phong là môi trường lành mạnh
ảnh hưởng đến nhân cách của con người. Sự tiếp nối văn hoá qua các thế hệ trong gia
đình vừa là nền tảng vừa là hành trang để con người bước vào đời với tâm thế vững
vàng, gìn giữ, vun đắp những giá trị truyền thống, có ý thức hoàn thiện nhân cách.
+ Ngược lại, một gia đình không có nề nếp gia phong, thiếu hạnh phúc sẽ tạo

nghị luận thì học sinh cần đọc- hiểu văn bản, nêu và phân tích để rút ra ý nghĩa của
vấn đề rồi luận bàn, kiến giải, phát biểu những suy nghĩ của mình ...
+ Trước tiên, học sinh cần đọc kĩ văn bản. Việc đọc kĩ văn bản là một yêu cầu
quan trọng giúp học sinh cảm thụ được tinh thần chung của nội dung từ đó có cơ sở
xác định đúng vấn đề nghị luận. Học sinh cần lưu ý đến các yếu tố như thông tin về
nguồn trích dẫn, nhan đề của văn bản vì đó cũng là những gợi dẫn có giá trị.
+ Sau đó, là bước phân tích để tìm ra nội dung tư tưởng, ý nghĩa của văn bản
và khoanh vùng trọng tâm vấn đề cần nghị luận. Theo lí thuyết tiếp nhận, mỗi học
sinh có thể hiểu ý nghĩa của văn bản theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên hiểu theo
cách nào cũng cần có lí và có sức thuyết phục. Mỗi văn bản, nhất là những câu
chuyện ngắn thường rất giàu ý nghĩa, nêu lên nhiều bài học nhưng thường có một ý
nghĩa chủ đạo (ý nghĩa chính). Đó là ý nghĩa chung mà ai đọc cũng cảm nhận và hiểu
16


như thế và đây chính là cái đích cần đạt được khi xác định vấn đề nghị luận. (Chẳng
hạn, với văn bản Các dấu chấm câu, ý nghĩa chính được hiểu đó là vấn đề cách sống
và ý nghĩa sự tồn tại của mỗi con người trong cuộc đời. Nếu con người sống quá đơn
điệu, thờ ơ vô cảm với mọi thứ xung quanh, không tư duy, không học hỏi, không
sáng tạo, sống không bản lĩnh,… thì cuối cùng chỉ là một cuộc đời vô ích, vô nghĩa,
một cuộc đời thừa. Giá trị, ý nghĩa cuộc đời của mỗi người phụ thuộc vào sự lựa
chọn cách sống của chính bản thân).
+ Học sinh cần chú ý đến diễn biến của câu chuyện, các sự kiện, chi tiết, hành
động, ngôn ngữ, suy nghĩ của các nhân vật, những “bước ngoặt” trong mạch truyện,
đặc biệt là kết thúc truyện vì đó là những gợi mở hết sức quan trọng trong việc tìm ra
ý nghĩa chính của văn bản. Với văn bản thơ, cần chú ý đến ý nghĩa của từ ngữ, hình
ảnh, cách diễn đạt... để giải mã nội dung.
+ Sau khi đã xác định được vấn đề nghị luận, tuỳ thuộc vào đối tượng, phạm vi
vấn đề nghị luận mà học sinh triển khai phần tiếp theo của bài viết một cách linh hoạt
và thuyết phục bởi không có một công thức cố định nào cho bước này.

(Câu chuyện nói về tình yêu thương vượt biên giới, vượt qua những khoảng cách của
các chú mèo ở bến cảng Hamburg đối với một chú chim hải âu mồ côi mẹ đã giúp họ
có được sức mạnh phi thường, nhẫn nại vượt qua khó khăn để làm được một việc
tưởng chừng không tưởng với loài mèo: không ăn trứng hải âu, nuôi chú hải âu lớn và
dạy hải âu bay.)
- Câu nói của chú mèo Zorba trong câu chuyện với chú chim hải âu có ý nghĩa
gì? (+ Yêu thương một người khác mình thật không dễ nhưng không phải là không
làm được, nếu ta có tình yêu thương thật sự vô tư, lòng hào hiệp, sự thành tâm và
niềm tin vững chắc.
+ Yêu thương không có nghĩa là trói buộc, gò ép người ta sống như mình muốn
mà để người ta sống đúng với bản chất, được phát huy giá trị thực sự của mình...)
- Câu chuyện hư cấu nhưng lại đánh thức ở con người những suy nghĩ sâu sắc
về ý nghĩa của tình yêu thương: không chỉ yêu thương đồng loại mà cao hơn là yêu
thương những người khác mình, thậm chí có thể là người không cùng lí tưởng, đối
lập với mình.
2. Sau khi xác định được vấn đề nghị luận là tình yêu thương, nêu suy nghĩ, bàn luận
về vấn đề:

18


- Thế nào là tình yêu thương? (Là tình cảm cao thượng, tốt đẹp mà con người
dành cho nhau, đùm bọc, quan tâm đến nhau khi hoạn nạn, chia sẻ vui buồn...)
- Thế nào là yêu thương những người không giống mình? (Là tình cảm giữa
người với người một cách vô điều kiện, vượt qua mọi rào cản, hận thù, không có sự
phân biệt thân sơ, sang hèn, sắc tộc, tôn giáo, quan điểm...)
- Cơ sở nào tạo nên tình yêu thương? (Tình yêu thương xuất phát từ trái tim,
sự đồng cảm, niềm trắc ẩn, tinh thần đồng loại của con người với nhau trong xã hội...)
- Tình yêu thương có những biểu hiện như thế nào? (Sự quan tâm, sẻ chia giúp
đỡ trước những thăng trầm của cuộc sống; sự bao dung, chở che cưu mang; tình cảm

đồng, xã hội, không có cá nhân ấy thì xã hội vẫn tồn tại, hoạt động bình thường.
- Chẳng có ai tẻ nhạt… sánh nổi đâu: mỗi cá nhân là duy nhất, mang trong nó
một phần đặc tính, lịch sử phát triển của cả cộng đồng. Mỗi cá nhân dù nhỏ bé nhưng
là một giá trị riêng góp phần làm nên sự đa dạng, thúc đẩy xã hội phát triển.
- Tác giả dân gian Việt Nam và nhà thơ Nga Evtushenkô đã đặt ra vấn đề mang
ý nghĩa triết học về sự tồn tại của mỗi cá nhân con người, mối quan hệ giữa cá nhân
và xã hội.)
2. Lí giải- Bàn luận:
- Hai quan niệm có mối quan hệ với nhau như thế nào? (Tương phản, đối lập hay bổ
sung?) ( Hai quan niệm tưởng mâu thuẫn nhưng thực ra lại phản ánh hai mặt của một
vấn đề: mỗi cá nhân con người là vô cùng nhỏ bé, thiếu một cá nhân thì xã hội vẫn
tồn tại và phát triển bình thường nhưng chính mỗi con người bé nhỏ lại góp phần tạo
nên sự phong phú đa dạng, thúc đẩy sự phát triển của xã hội).
- Quan niệm như thế đúng hay sai? Tại sao? (Cả hai quan niệm đều có cơ sở thực tế,
có những khía cạnh đúng. Bởi vì:
+ Xã hội hợp thành từ hàng triệu triệu con người, thiếu đi một cá thể thì sẽ có
người khác điền vào vị trí thiếu hụt đó, xã hội vẫn hoạt động, phát triển bình thường;
sự tác động của mỗi cá nhân đến đời sống xã hội là rất nhỏ.
+ Mỗi con người là một cá thể độc đáo, không lặp lại, mỗi cá nhân có nhân
cách độc lập duy nhất không thể thay thế, là một thế giới bí ẩn chứa đựng những giá
trị người to lớn với hiểu biết, trí tuệ, tài năng, tâm hồn… Cá nhân gia nhập vào tập
thể xã hội như là bộ phận của cái toàn thể, thể hiện bản sắc của mình thông qua hoạt
động tập thể, trong các mối quan hệ xã hội nhưng không "hoà tan" vào tập thể.
- Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội là quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau:

20


+ Xã hội là điều kiện, là môi trường, là phương thức để lợi ích cá nhân được
thực hiện. Cá nhân chỉ được hình thành, phát triển, giá trị được khẳng định trong các


Những người con ngỡ ngàng vì trước khi cha mất ông từng nói rằng ông
không hề thích trồng dưa chuột. Ông làm điều đó chỉ vì bà thích trổ tài muối dưa mà
thôi.
Bằng những hiểu biết và trải nghiệm của mình, anh (chị) hãy bình luận về ý
nghĩa của câu chuyện.
1. Phân tích khái quát ý nghĩa câu chuyện để rút ra vấn đề nghị luận:
- Câu chuyện kể về nội dung gì? Có ý nghĩa như thế nào? Vấn đề đó có những khía
cạnh nào cần chú ý?
+ Câu chuyện kể về một đôi vợ chồng già đã gắn bó với nhau bằng một tình
yêu đẹp và sâu sắc. Họ đã sống vì nhau, thậm chí chấp nhận làm những điều mình
không hề thích, đã hi sinh niềm vui cá nhân để đem lại niềm vui và hạnh phúc cho
người khác. Đó là vẻ đẹp cao cả của sự hi sinh.
+ Nhưng lời giải thích của người mẹ và sự vỡ lẽ của những đứa con còn cho
thấy một khía cạnh khác của vấn đề: Hai vợ chồng đó chưa thực sự chia sẻ suy nghĩ,
sở thích với nhau, chưa hiểu nhau. Họ chỉ biết sống vì người khác đến mức quên cả
bản thân, làm những điều mình không thích trong suốt thời gian dài, thay vì tạo ra
những điều mới mẻ cho cuộc sống lại bị ràng buộc (một cách tự nguyện) với trách
nhiệm và hi sinh.
+ Câu chuyện gợi ta suy nghĩ về giá trị và ý nghĩa hai mặt của sự hi sinh.
2. Bàn luận về ý nghĩa của câu chuyện.
- Thế nào là sự hi sinh? (Hi sinh là chịu mất mát, thiệt thòi lớn lao vì một điều
gì đó cao đẹp, ý nghĩa...).
- Những biểu hiện của sự hi sinh? (Hi sinh niềm vui, sở thích, hạnh phúc cá
nhân để đem lại niềm vui, hạnh phúc, điều tốt đẹp cho người khác; chấp nhận hi sinh
sự sống, tính mạng vì lí tưởng cao đẹp; chịu đựng khó khăn thử thách, dấn thân vào
nguy khó để đạt tới những giá trị cao đẹp...)
- Cơ sở của sự hi sinh? (Xuất phát từ nhận thức đúng đắn và tình cảm nhân ái
trong tâm hồn, tinh thần tự nguyện vị tha...)


nhưng học trò phải chủ động rèn luyện, vận dụng thực hành, linh hoạt sáng tạo thì
mới có kết quả. Tất nhiên, đó là cả một quá trình dài rèn luyện, tích luỹ, rút kinh
23


nghiệm để hình thành kĩ năng thuần thục và điều đó cần có thời gian và niềm say mê,
tâm huyết của cả thầy và trò.
Trên đây là một số chia sẻ của chúng tôi về phương pháp, cách thức rèn kĩ
năng nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Chúng tôi hi
vọng nhận được ý kiến đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp để có thể học hỏi, đúc rút
được thêm một số kiến thức và kinh nghiệm để dạy tốt dạng đề này và nâng cao chất
lượng, hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông trong những hành trình
dài tiếp theo.

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status