thế giới nhân vật trong tiểu thuyết phong thần diễn nghĩa của hứa trọng lâm - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN

TRẦN VĂN ÚT
MSSV: 6106369
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT PHONG
THẦN DIỄN NGHĨA CỦA HỨA TRỌNG LÂM
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: Th.s. TẠ ĐỨC TÚ
1
Cần Thơ, 2013
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích của đề tài
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lý luận chung
1.1 Giới thiệu tác giả và tác phẩm Phong thần diễn nghĩa
1.1.1 Tác giả Hứa Trọng Lâm
1.1.2 Tác phẩm Phong thần diễn nghĩa
1.1.2.1 Thời đại tác phẩm
1.1.2.2 Tóm lược tác phẩm
1.2 Khái niệm nhân vật trong tác phẩm văn học và tiểu thuyết chương hồi
1.2.1 Nhân vật trong tác phẩm văn học
1.2.2 Chức năng của nhân vật
1.2.3 Loại hình nhân vật

nào sắp đến hồi diệt vong, thì có hôn quân vô đạo cai trị hoặc là gian thần nắm
quyền. Lúc ấy tất sẽ có minh quân hạ thế, xuất hiện thuận theo “ ý trời” và “lòng
dân” với tư tưởng“Thiên hạ giả, phi nhất nhân chi thiên hạ, nãi thiên hạ nhân chi
thiên hạ”(Thiên hạ không của riêng ai, của mọi người trong thiên hạ)[4, tr.16]
nhằm chỉnh đốn lại đất nước. Ngoài ra còn có văn thần võ tướng, hiểu rõ “thiên ý”,
phò tá minh quân, từ đó làm nên nghiệp lớn ngàn thu. Trong lịch sử Trung Hoa mỗi
khi vua lỗi đạo chỉ biết ăn chơi xa hoa, quên cả triều chính không biết chăm lo cho
bá tánh nhân dân tạo cảnh lầm than oán ghét trong thiên hạ. Từ đó xuất phát đạo lý
“Quân vô đạo thần bất phục”, đồng thời gây nên những cuộc chiến “thần chống
lại quân” ngược với giáo lý “quân thần”, kẻ dưới chống bề trên của giai cấp phong
kiến. Điều mà lịch sử Trung Quốc ghi lại ở thời Thương – Chu qua tác phẩm
“Phong thần diễn nghĩa”, nghĩa quân thần đã bị xáo trộn không còn như giáo lý
phong kiến đề ra “phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng
ấu hữu tư, bằng hữu hữu tín” (có tình thương của cha con, có đạo nghĩa của vua
tôi, có sự phân biệt của chồng vợ, có nề nếp của người già, trẻ, có lòng tin của bạn
bè)[4, tr.16], những điều ấy không còn thiêng liêng. Cho nên cần có sự củng cố tôn
ti trật tự để an lòng dân trong xã hội.
Với những vấn đề trên, người viết đã mạnh dạn chọn Thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết Phong thần diễn nghĩa của Hứa Trọng Lâm, nhằm mục đích để hiểu
rõ hơn và khai thác sâu những hiện thực trong xã hội phong kiến thời bấy giờ.
Đồng thời tạo thêm những hiểu biết về văn hóa, triết lý trong nền văn học Trung
Quốc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mỗi tác phẩm văn học đều có nhân vật riêng của nó, số lượng nhân vật ít hay
nhiều tùy theo từng tác phẩm, riêng đối với tiểu thuyết số lượng nhân vật thì phong
phú và đa dạng. Các hình tượng nhân vật được xây dựng dựa trên những con người
có thật bên ngoài xã hội, thông qua ý đồ mà tác giả muốn hướng tới. Đối với đề tài
“thế giới nhân vật” thì cho rằng đã có nhiều người nghiên cứu về đề tài này.
Tuy nhiên, để tìm hiểu về “thế giới nhân vật trong tiểu thuyết phong thần
diễn nghĩa”, người viết nhận thấy những nghiên cứu trước đó về tác phẩm này còn

sống ấm no cho dân chúng. Tuy nhiên cũng thông qua hình tượng nhân vật để hiểu
thêm về tư tương cốt yếu của tác giả về cuộc sống.
Qua việc khảo sát tác phẩm người viết dùng những kỹ năng lý luận để phân
tích nhân vật mà yêu cầu của đề tài đưa ra nghiên cứu.
4. Phạm vi nghiên cứu
Một tác phẩm văn học hiện lên như một chỉnh thể với vô số các yếu tố đan kết
5
chặt chẽ với nhau. Người viết chỉ tìm hiểu giới hạn “Thế giới nhân vật trong phong
thần diễn nghĩa” được thể hiện ở các bình diện chính trong tác phẩm là cốt truyện,
nhân vật, không gian và thời gian. Để từ đó sắp xếp các nhân vật có cùng đặc điểm
giống nhau, theo một trình tự có hệ thống và đi sâu khảo sát nội dung của từng
nhân vật để hiểu rõ thêm giá trị nhân văn của tác phẩm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, người viết đã tiến hành khảo sát một số phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: tiến hành thống kê trên các bình diện trong tác phẩm
để từ đó phân loại nhân vật.
Phương pháp hệ thống: đặt nhân vật trong hệ thống các nhân vật, xét nhân vật
trong mối tương quan với các nhân vật khác để khái quát lên đặc điểm về tính cách,
số phận nhân vật.
Phương pháp so sánh: đặt nhân vật trong hệ thống các nhân vật trong tác
phẩm và trong các tác phẩm khác để tìm ra nét riêng đặc trưng của nhân vật.
Phân tích tổng hợp: dựa vào lý luận văn học, lịch sử văn học, căn cứ vào đó
để phân tích chứng minh và rút ra kết luận.
6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Giới thiệu tác giả và tác phẩm Phong thần diễn nghĩa
1.1.1 Tác giả Hứa Trọng Lâm

1.1.2.2 Tóm lược tác phẩm
Là một bộ tiểu thuyết được viết lại trên cơ sở cuốn Vũ Vương phạt Trụ bình
thoại in đời Nguyên, rồi nhào nặn tư liệu lịch sử với thần thoại, truyền thuyết và tôn
giáo mà thành, Phong thần diễn nghĩa xoay quanh việc suy vong của nhà Thương
và sự nổi lên của nhà Chu, lồng vào đó là vô số thần thoại, truyền thuyết Trung
Hoa, bao gồm các thần, tiên, yêu quái Trong chừng mực nào đó, phong thần diễn
nghĩa mô tả cuộc sống của người Trung Hoa đương thời, nơi tôn giáo có một vai
trò lớn trong cuộc sống hàng ngày.
Phong thần diễn nghĩa bắt đầu với chuyện kể về vua Trụ nhà Thương đến
miếu thờ Nữ Oa dâng hương, đã đề thơ với hàm ý hỗn xược khiến cho Nữ Oa nổi
giận. Nữ Oa đã sai ba yêu quái ở mộ Hoàng Đế mê hoặc vua Trụ nhằm làm cho nhà
Thương sụp đổ, tạo cơ nghiệp cho nhà Chu thay thế. Một trong ba yêu quái là hồ ly
tinh đã tu luyện ngàn năm, giết chết Tô Đắt Kỷ con của Ký Châu hầu Tô Hộ, một
cô gái đẹp được tiến cung, rồi nhập vào xác nàng để ra mắt nhà vua. Được nhà vua
sủng ái, Đắt Kỷ giả dần dần lộng hành, trừ khử các bề tôi trung thành, giết hoàng
hậu và toan giết cả hai hoàng tử. Bên cạnh đó, Đát Kỷ giả còn tìm cách hại các chư
hầu lớn, vua Trụ theo lời mời họ vào chầu rồi bắt Tây Bá là Cơ Xương bỏ ngục
giam giữ ở Dũ Lý.
Viên quan tổng binh ở quan ải Trần Đường là Lý Tịnh sinh con trai thứ ba đặt
tên là Na Tra. Na Tra làm đồ đệ của Thái Ất Chân nhân, lên bảy tuổi đã đại náo
biển Đông, rút gân tam thái tử con của Long Vương. Long Vương đến nhà Lý Tịnh
đòi đền mạng. Na Tra tự nguyện chết để cha mẹ được sống. Người mẹ lập miếu thờ
Na Tra nhưng Lý Tịnh bắt phá đi. Na Tra tìm đến cầu cứu thầy đuổi đánh Lý Tịnh,
cha con oán ghét nhau, nhờ có Nhiên Đăng đạo nhân hòa giải nên hai người làm
hòa và giúp sức cho Vũ Vương.
8
Khương Tử Nha là đồ đệ của Nguyên Thủy Thiên Tôn trên núi Côn Lôn, vâng
lệnh thầy xuống núi giúp nhà Chu diệt nhà Thương. Tử Nha giết được một yêu quái
bằng hữu của Đắt Kỷ và nhờ đó ông được vua Trụ phong chức Hạ Đại phu. Sau vì
can Trụ xây Lộc Đài mà Khương Tử Nha suýt bị giết chết, phải trốn đến Tây Kỳ ẩn

hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Bản chất
văn học là mối quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện được đời sống qua những
chủ thể nhất định đóng vai trò như tấm gương của cuộc đời.
1.2.2 Chức năng của nhân vật
Chức năng của nhân vật văn học là khái quát nên tính cách của con người. Do
tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử đồng thời chức năng khái quát nên tính
cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử. Vì tính cách là kết tinh của môi
trường, nên nhân vật văn học là người dẫn dắt độc giả vào các môi trường khác
nhau của đời sống. Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý
tưởng thẩm mỹ của nhà văn và con người. Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề
của tác phẩm. Nhân vật văn học được miêu tả qua biến cố, xung đột, mâu thuẫn và
mọi chi tiết hành động. Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân
vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với tuyến nhân vật khác. Cho nên
nhân vật gắn liền với cốt truyện. Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn nên
khác với hình tượng hội họa và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnh thể vận
động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian mang tính chất quá
trình.
1.2.3 Loại hình nhân vật
Nhân vật văn học rất đa dạng được sáng tạo độc đáo và không lặp lại. Tuy
nhiên, trong các nhân vật, xét về mặt nội dung, cấu trúc chức năng có thể thấy
nhiều hiện tượng lặp lại, tạo thành các loại nhân vật. Trong tác phẩm thông thường
có một hoặc nhiều nhân vật. Mỗi nhân vật có vai trò không giống nhau trong kết
cấu và cốt truyện tác phẩm. Dựa vào vai trò này có thể chia nhân vật làm hai loại:
nhân vật chính và nhân vật phụ.
1.2.3.1 Nhân vật chính
Là nhân vật đóng vai trò chủ đạo, xuất hiện nhiều giữ vai trò vị trí then chốt
10
của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện. Đó là con người liên quan đến các sự kiện chủ
yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình. Nhân vật
chính là nhân vật đươc khắc họa đầy đặn hơn, có tiểu sử, có nhiều tình tiết nhưng

1.2.3.4 Một số kiểu cấu trúc nhân vật
Về mặt cấu trúc có thể chia nhân vật làm những loại hình nhân vật sau.
Nhân vật chức năng: kiểu nhân vật này thường xuất hiện trong văn học cổ
đại và trung cổ. Nhân vật này thường không có đời sống nội tâm, phẩm chất đặc
điểm nhân vật cố định không thay đổi từ đầu dến cuối, hơn nữa sự tồn tại và hoạt
động của nó chỉ nhằm thể hiện một số chức năng nhất định, đóng vai trò nhất định.
Ví dụ: Ông Bụt trong các truyện cổ tích, Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây Tre Trăm
Đốt…
Nhân vật loại hình: là nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội đạo
đức của một loại người nhất định của một thời. Và một điều là những nhân vật loại
hình được xây dựng thành công, người ta có thể dung tên chúng như những danh từ
chung. Đại loại như; xấu như thị Nở, đẹp như Thúy Kiều, ghen như Hoạn Thư…
Nhân vật tính cách: là kiểu nhân vật phức tạp được miêu tả như một nhân
cách, một cá nhân có cá tính nổi bật. Trong nhân vật tính cách có cái quan trọng
không phải là đặc điểm, thuộc tính, phẩm chất xã hội có thể liệt kê, tính đếm thứ tự;
một, hai, ba… Mà tính cách nhân vật được thể hiện chủ yếu tương quan giữa các
thuộc tính môi trường và tình huống. Nhân vật loại hình thường có một quá trình
phát triển khiến cho nhân vật không đồng nhất với chính nó. Hạt nhân của nhân vật
tính cách là cá tính, cho nên yếu tố tâm lý, khí chất có vai trò quan trọng trong cấu
trúc nhân vật.
Nhân vật tư tưởng: là nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn
tại trong đời sống tinh thần của xã hội. Nhân vật tư tưởng trong văn học cổ và văn
học lãng mạn thường mang tính chất tượng trưng. Còn chủ nghĩa hiện thực thì lại
kết hợp mật thiết với yếu tố tính cách hoặc loại hình. Trong sáng tác loại nhân vật
này dễ rơi vào công thức minh họa trở thành người phát ngôn của tác giả.
1.2.4 Vài nét về tiểu thuyết và tiểu thuyết chương hồi
1.2.4.1 Tiểu thuyết
Là tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá
nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây dược khai
12

thành khi vận mệnh con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được
13
ý thức” và “đời sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung của anh
hùng ca Hy Lạp, nhưng lại có thể là nội dung của tiểu thuyết”. Trên nền móng của
hình thái tư duy khám phá những vấn đề bản chất của hiện thực thông qua sự tái
hiện số phận cá nhân đã có từ thời Hy Lạp, đã xuất hiện những thể loại văn chương
thời trung đại châu Âu theo theo thể tài hiệp sĩ, như Chuyện Tristan và Iseult.
Thời kỳ Phục Hưng đã tạo cơ sở thuận tiện nhất cho sự phát triển tiểu thuyết:
chất tiểu thuyết bộc lộ trong các tác phẩm thể truyện như của G. Boccacciio, thể
trường ca của M. Boiardo, L. Ariosto, T. Tasso và thể kịch với W. Shakespeare.
Nhưng tiểu thuyết đích thực gắn với những tìm tòi tư tưởng triết lý, chỉ xuất hiện
vào cuối thời đại Phục Hưng với Đôn Kihôtê của Xecvantex. Sau thời Phục Hưng,
khi văn học tao nhã là chủ đạo, thì xu hướng phát triển tiểu thuyết chỉ bộc lộ rõ
trong các sáng tác thuộc loại tiểu thuyết du đãng khai thác các đặc điểm trào phúng,
sự hư cấu tự do, vai trò của kinh nghiệm cá nhân tác giả trong sáng tạo nghệ thuật.
Sang thời đại Khai Sáng và thời cận đại, từ thế kỷ 18, tiểu thuyết đã đi một chặng
đường dài với sự hình thành các kết cấu chính. Truyện hiệp sĩ Des Grieux và nàng
Mannon Lescault của Prevost kết hợp hữu cơ được hai thể tài tâm lý và du đãng. S.
Richardson với Clarisse Harlow, J. Rousseau với Nàng Héloise mới đưa ra những
mẫu mực của tiểu thuyết tình cảm đồng thời củng cố vai trò chủ đạo của tiểu thuyết
luận đề. H. Fielding, T. Smollett đã đóng góp cho sự hình thành nguyên tắc điển
hình hóa của tiểu thuyết hiện thực, làm tiền đề cho sự nở rộ tiểu thuyết của chủ
nghĩa hiện thực phát triển mạnh giai đoạn sau đó với Balzac, Stendhal, Flaubert,
Ch. Dickens…Tiểu thuyết sử thi của L. Tolstoi với sự trần thuật đạt được chiều
rộng và tính bao quát, sự mô tả đời sống nội tâm nhân vật như một quá trình tâm lý
nội tại lần đầu tiên cho phép tiểu thuyết tái hiện được "biện chứng của tâm hồn".
Tiểu thuyết đối thoại của Dostoevski với con người đời tư được đặt trong tương
quan với cả thế giới.Thế kỷ 20 tiểu thuyết phương Tây phát triển trong sự đa dạng
đối nghịch nhau về nhiều mặt, bên cạnh những thành tựu của tiểu thuyết hiện thực
với khuynh hướng hiện thực phê phán hoặc khuynh hướng hiện thực xã hội chủ

Sự phân chia cốt truyện thành các hồi là đặc trưng của thể loại tiểu thuyết
chương hồi, mỗi hồi bao giờ cũng có tiêu đề để tóm lược nội dung được trình bày
trong hồi. Ví dụ hồi đầu tiên trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung :
“ Tiệc vườn đào anh hung kết nghĩa
15
Chém khăn vàng hào kiệt lập công”
[ Hồi 1]
hay trong Truyện làng Nho (Nho lâm ngoại sử) của Ngô Kính Tử:
“ Đất Dương Châu Quý Vi Tiêu ở rể
Thành Nam Kinh Tiêu Kim Huyễn chọn văn”
[ Hồi 28 ]
Cuối mỗi hồi thường có một bài thơ ngắn để đánh giá sự kiện hoặc nhân vật
trong hồi và sau đó kết thúc các câu đại loại như “muốn biết sự việc như thế nào
xem hồi sau sẽ rõ ”. Sang hồi mới vấn đề lại tiếp tục được triển khai với một nhan
đề mới. Việc phân tách thành từng hồi và kết thúc hồi khi câu chuyện đang vào lúc
căn thẳng, có tác dụng quang trọng trong việc kích thích cao độ trí tò mò của người
đọc, người nghe, buộc họ phải theo dõi tiếp các hồi tiếp sau và lần lược cho tới khi
kết thúc câu chuyện.

16
Chương 2
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
PHONG THẦN DIỄN NGHĨA CỦA HỨA TRỌNG LÂM
2.1 Nhân vật chính diện trong Phong thần diễn nghĩa
2.1.1 Nhân vật thần tiên
Theo đời sống tâm linh của con người cho rằng, thế giới thần tiên là một thế
giới huyền ảo trên thượng giới cách biệt với thế giới trần gian do con người tưởng
tượng ra. Nơi đó có các thần và các tiên định cư cai quản những việc của chúng
sinh trong thiên hạ, các thần tiên đã trải qua quá trình tu luyện và lập nhiều công
đức cho nhân loại mới chở thành chính quả thoát khỏi nơi trần tục về nơi cực lạc.

linh của nhân dân Trung Hoa. Họ là những nhân vật có đạo hạnh cao đã trở thành
thần tiên sống nơi thượng giới không màn đến chuyện phàm trần. Thế nhưng trong
tác phẩm những vị thần tiên này được tác giả xây dựng nên và giao nhiệm vụ lập ra
bảng “Phong thần” cho những ai chưa tu thành chính quả thì được phong thần về
phục vụ cho thiên đình. Đồng thời giúp đỡ nhà Chu xây dựng cơ nghiệp đánh đổ
nhà Thương tạo nên sự hưng thịnh kéo dài hơn tám trăm năm. Tác giả của phong
thần đã dựa vào những nhân vật thần tiên để mở đầu sự việc trong tác phẩm hay
đúng hơn là mở đầu cho việc sụp đổ của triều đại nhà Thương để tạo đà cho nhà
Chu phát triển. Mọi chuyện đều phải tuân theo “thiên mệnh” với tư tưởng ý trời là
trên hết không thể trái lại được.
Các nhân vật thần tiên trong tác phẩm là những người ủng hộ việc “nhân
chính” của Khương Tử Nha và Vũ Vương, những nhân vật thần tiên được tác giả
xây dựng với một chức năng là giúp đỡ cho Khương Tử Nha phò tá nhà Chu phạt
nhà Thương. Trong đó mỗi nhân vật thần tiên đều có chức năng riêng của mình
trong tác phẩm. Hình tượng nhân vật thần tiên được tác giả nhắc đến đầu tiên là Nữ
Oa, để mở đầu cho cốt truyện phong thần và sự mất nước của vua Trụ. Tác giả
miêu tả sự xuất hiện của Nữ Oa dựa vào sự bất kính của vua Trụ trong lúc viếng
miếu. Nữ Oa là một thần tiên xinh đẹp, đã làm cho vua trụ say mê khi nhìn thấy
bức tượng của bà thờ cúng trong miếu. “Ta tuy làm vua giàu có bốn biển , nhưng
trong tam cung lục viện không thấy có người nào được cái nhan sắc như vậy”.
“Màn trướng rủ lạnh lùng
Bóng sắc khéo điểm trang
18
Liễu thắm khoe sắc lục
Xiêm y điểm non vàng
Hải đường đượm tươi tốt
Thược dưọc nhuần nhuần đài trang
Ước gì tượng là thật
Sớm khuya với hồng nhan” [ 11, tr. 10].
Vì quá tức giận vua đề thơ trêu ghẹo, bất kính với bề trên nhân cơ hội này vị

đại thống trị thiên hạ hơn sáu trăm năm, thay vào đó một triều đại nhà Chu thống trị
đất nước Trung Hoa hơn trăm năm.
Cùng với nhân vật thần tiên có một tấm lòng ủng hộ việc “nhân chính” như
Nữ Oa thì tác giả miêu tả sự xuất hiện hình tượng nhân vật thần tiên Nguyên Thủy
Thiên Tôn là người có đạo hạnh cao của Đạo Giáo. Nhân vật này vốn là Giáo chủ
của phái Xiển giáo ở cung Ngọc Hư núi Côn Lôn, ông có mười hai đệ tử do phạm
tội sát sinh nên bị đài xuống trần chịu khổ và giúp cho cơ nghiệp của vũ vương.
Tuy nhiên trong phong thần diễn nghĩa miêu tả nhân vật Nguyên Thủy đã thừa lệnh
của Ngọc Hoàng Thượng Đế phải lập ra một bảng phong thần khi Trụ Vương mất
nước, sau đó tùy công trạng từng người mà ông phong cho phù hợp với các sao:
“Bảng Phong Thần nầy chia ra làm tám bộ. Bốn bộ trên là: Bộ Lôi, Bộ Hỏa, Bộ
Ôn, Bộ Ðẩu. Bốn bộ dưới là: Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sao, Thần Núi” [ 11, tr.
194]. Sự xuất hiện của ông được tác giả, giới thiệu trong tác phẩm chỉ một cách sơ
lược nhưng cũng giúp cho tác phẩm mang sắc thái sinh động. Đây là một nhân vật
được tác giả xây dựng lên để thực hiện chức năng của mình, vị thần tiên hầu như
không ảnh hưởng đến quá trình phân tranh giữa hai nước Chu - Thương mà chỉ
đóng vai trò chủ chốt trong phái Xiển giáo, dẫn dắt các đệ tử trên con đường phò
giúp Vũ Vương phạt Trụ. Nguyên Thủy Thiên Tôn ban cho đệ tử Khương Tử Nha
bảng Phong Thần và căn dặn xây đài phong thần để tiếp đón linh hồn các chiến sĩ
đã tử trận, phong thần tùy theo công trạng: “Nay ngươi đến đây đúng lúc lắm. Ðể
ta sai Nam Cực tiên ông trao bảng phong thần cho ngươi đem về Tây Kỳ lập một
cái đài phong thần mà treo. Nguyên Thỉ nói : Ngươi về dọc đường , nếu gặp ai kêu
đừng đứng lại , nếu ngươi nói chuyện với người ấy ngày sau sẽ có ba mươi sáu đạo
binh đến đánh ngươi ,còn tại Ðông Hải có một người đang chờ ngươi đó, ngươi
đến đó sẽ gặp. Ta nói trước cho ngươi hay để khỏi ân hận. Thôi, hãy về đi” [11, tr.
457]. Khi Khương Tử Nha gặp nạn tử trận, ông cũng dùng phép hồi sinh cứu
20
Khương Tử Nha sống lại thoát khỏi nạn kiếp và tiếp tục sứ mệnh của mình. Trong
những lần giao tranh với quân của vua Trụ các tướng lĩnh quân đội nhà chu gặp khó
khăn ở hai trận Tru Tiên và Vạn Tiên nên Nguyên Thủy Thiên Tôn và Lão Tử đã

sáng của một người giàu lòng cương trực, lại hết lòng vì việc chung, vì bá tính
trong thiên hạ.
Tác giả để nhân vật xuất hiện không phải bằng những nét châm phá mà có
phần sơ sài nhưng đủ ý nghĩa, nổi bật suốt trong tác phẩm. Nhân vật xuất hiện có
phần bí ẩn giống như cuộc đời của nhân vật vậy. Khương Thượng vốn là học trò
của Nguyên Thủy Thiên Tôn ở cung Ngọc Hư phái Xiển Giáo, nhân vật chưa tu
hành thành chính quả phải nhận mệnh của thầy hội tụ đủ 365 vị tinh tú ứng vào thời
Thương – Chu đánh nhau để xét công phong thần nên đã hạ sơn. Có thể nói cuộc
đời của nhân vật đạo hạnh được tóm gọn trong tám câu thơ.
“Áo vải mười năm chịu túng bần
Gắng sức để vui chớ để sầu
Bàn đá ngồi câu chờ đợi vận
Lúc xe vương giả rước lên lầu
Quá tám mươi tuổi mang đai ngọc
Hơn chín mươi ba có ấn hầu
Đến năm mậu ngũ thu trăm trấn
Phong thần khi sắp bách niên trần” [11, tr. 196].
Đó là dụng tâm của tác giả nhằm chứng minh tích cách kính đáo của một
người đạo hạnh nhưng cũng hết sức sôi nổi của con người chờ thời cơ, giống như
một con rồng chờ ngày bay lên trời xanh.Tuy đấy mới chỉ là những hình ảnh còn
tính chất mờ nhạt nhưng cũng làm ấn tượng về một vị hiền sĩ Khương Tử Nha nửa
ẩn nửa hiện mang một khí chất khác người.
Phong thần diễn nghĩa, diễn tả cuộc đời nhân vật được mở ra khi con người
này xuống núi lấy vợ ở tuổi thập cổ lai hy nhờ một người tên Tống Dị Nhân làm
may mối:
“Đã chẳng thành tiên tiếc Tử Nha
Về trần cưới vợ cho ấm nhà
Hơn sáu mươi tuổi nàng dâu muộn
Đã bảy mươi hai chú rể già
Gần đuốc hàm râu e bén lửa

vinh hoa phú quý đâu” [11, tr. 240]. Thế rồi vị Khương Thượng tìm đến đất Tây
Kỳ ẩn mình ở núi Bàn Khê đợi lúc gặp chúa hiền. Sau khi ẩn dật ngày ngày nhân
vật đạo hạnh câu cá bên sông Vị để chờ thời vận mong được minh chúa trọng dụng.
Có người ngạc nhiên hỏi ông: “Người có trí thì nhỏ tuổi, kẻ vô mưu thì đầu bạc
23
cũng không mưu. Muốn câu cá mà để lưỡi câu ngay thì đời nào bắt được cá? . Ðể
tôi bảo cho ông: Nung cái kim này cho đỏ rồi, cắt ngạnh , uốn cong đi rồi móc mồi
cho thơm, thả xuống sông mà thấy phao động đậy thì phải giật lên cho gấp , lưỡi
câu móc vào mép cá, mới bắt được cá mà ăn. Kẻ khờ dại như ông mà dám cả gan
xưng Phi Hùng?”.
Tử-Nha nói :
- Ngươi biết một chẳng biết hai . Ta không dùng lưởi câu cong này để câu cá câu
tôm, chỉ dùng lưởi câu ngay để câu thời vận. Nếu làm cong queo thì được của thà
cứ thế ngay mà thanh bạch còn hơn. Nói rồi ngâm mấy câu:
“Ngày chờ thời giờ quý
Vậy được của không cầu
Chẳg kiếm tôm kiếm cá
Mà kiếm công kiếm hầu” [11, tr. 293].
Có thể nói cuộc đời của nhân vật đạo hạnh này không được suông sẻ cho lắm.
Tuy nhiên ý chí của một con người biết được thời vận của mình chưa đến lúc,
nhưng có lòng nhẫn nại chờ đợi thì có ngày công danh cũng đến với mong muốn
đem tài năng của mình lo cho thiên hạ có được cuộc sống hạnh phúc. Và mọi người
trong vùng dần dần đều biết đến vị hiền sĩ.
“Bỏ trốn Triều Ca lánh thị thường
Ðưa dân khỏi ải thật thần tiên
Gieo câu sông Vị chờ thời vận
Uống nước Bàn Khê đợi chờ duyên
Võ Kiết ra tay người chỉ ngõ
Phi Hùng ứng mộng chúa cầu hiền
Tám mươi mới đặng yên công nghiệp

Khắp trời sực nức mùi nhang khói
Rợp đất cờ bay phỉ chí trai
Bái tướng hiển vinh thêm tuổi hạc
Cầm binh oai võ khách mày ngài
Tám trăm năm lẻ, gây từ đấy
Trần thế anh hùng, hỏi có ai?” [12, tr. 236].
Nhân vật được phong làm Nguyên soái thống lĩnh ba quân, thân mặc chiến
bào, lưng giắt Hạnh Hoàng Kỳ, tay cầm roi Đả Thần Tiên, cưỡi Tứ Bất Tướng, lại
25

Trích đoạn Tính cách và hành động của nhân vật Ngôn ngữ đối thoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status