TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
……… ………
LÝ HUỲNH NHIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ KALI
NITRAT ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA MTL480
TRỒNG TRONG CHẬU VỤ
THU ĐÔNG 2013
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: NÔNG NGHIỆP SẠCH
KHÓA 36
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Trần Thị Bích Vân Lý Huỳnh Nhiên
MSSV: 3103353
Lớp: Nông Nghiệp Sạch K36
Cần Thơ - 2013
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành: Nông Nghiệp Sạch với đề tài ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ KALI NITRAT
ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA MTL480 TRỒNG TRONG
CHẬU VỤ THU ĐÔNG 2013
Sinh viên Lý Huỳnh Nhiên thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét. Cần Thơ, ngày ….tháng….năm 2013
Cán bộ hướng dẫn DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
LÝ HUỲNH NHIÊN 4
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Con xin thành kính biết ơn công lao sinh thành và nuôi dưỡng tựa trời
biển của cha mẹ đã giúp con khôn lớn nên người và tận tâm lo lắng, tạo mọi
điều kiện cho con được học tập đến ngày hôm nay.
Thành kính biết ơn!
Địa chỉ: Thạnh Quới, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng.
2.Trung học cơ sở
Thời gian học: từ năm 2003 đến năm 2007
Trường Trung học cơ Sở Thạnh Quới.
Địa chỉ: Thạnh Quới, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng.
3.Trung học phổ thông
Thởi gian học: từ năm 2007 đến năm 2010
Trường trung học phổ thông Trần Văn Bảy.
Địa chỉ: thị trấn Phú Lộc, Thạnh Trị, Sóc Trăng.
4. Đại học
Thời gian học: từ năm 2010 đến năm 2013
Người khai ký tên
Lý Huỳnh Nhiên
6
MỤC LỤC
Xét duyệt luận văn i
Lời cam đoan iii
Lời cảm tạ iv
Tóm tắt tiểu sử cá nhân v
Mục lục vi
Danh sách bảng viii
Tóm lược ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT 16
7
3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ KNO
3
ĐẾN ĐẶC TÍNH NÔNG
HỌC CỦA CÂY LÚA 16
3.2.1 Chiều cao cây (cm) 16
3.2.2 Số chồi/chậu 17
3.2.3 Tỷ lệ chồi hữu hiệu (%) 18
3.2.4 Chiều dài bông (cm) 18
3.3 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 18
3.3.1 Số bông/chậu 18
3.3.2 Số hạt trên bông 19
3.3.3 Số hạt chắc trên bông 19
3.3.4 Tỷ lệ hạt chắc(%) 20
3.3.5 Trọng lượng 1000 hạt (g) 20
3.4 NĂNG SUẤT 20
3.4.1 Năng suất lý thuyết (g/chậu) 20
3.4.2 Năng suất thực tế (g/chậu) 21
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 22
4.1 KẾT LUẬN 22
4.2 ĐỀ NGHỊ 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
8
DANH SÁCH BẢNG
phun qua lá thích hợp, làm tăng năng suất lúa. Thí nghiệm
được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 5 lần lặp lại, bốn nghiệm thức
bao gồm: Nghiệm thức 1: Đối chứng (không phun KNO
3
); nghiệm thức 2:
Phun KNO
3
1000ppm; nghiệm thức 3: Phun KNO
3
2000ppm; nghiệm thức 4:
Phun KNO
3
3000ppm. Kết quả thí nghiệm cho thấy: Phun KNO
3
giai đoạn sau
khi lúa trổ bông có tác dụng làm tăng số hạt chắc trên bông, số hạt trên bông
và tỷ lệ hạt chắc. Nắng suất của giống lúa MTL480 ở các nghiệm thức có phun
KNO
3
cao hơn nghiệm thức đối chứng (không phun KNO
3
).
10MỞ ĐẦU
Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay phân bón lá đã và đang được nông
dân sử dụng khá phổ biến, nhất là các vùng chuyên canh rau màu và cây lương
thực. Phân bón lá có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng khả năng đâm chồi,
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm đến khi cây lúa bắt
đầu phân hóa đòng. Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng
dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi). Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá
ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp
thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau.
Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có
thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6. Chồi ra sớm trong ruộng mạ gọi là chồi
ngạnh trê (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ
yếu là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn. Thường các giống lúa rất
ngắn ngày và ngắn ngày có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa
đòng có thể xảy ra trước hoặc ngay khi cây lúa đạt được chồi tối đa. Ngược
lại, các giống lúa dài ngày (trên 4 tháng) thường đạt được chồi tối đa trước khi
phân hóa đòng. Đặc biệt, các giống lúa mùa quang cảm mạnh, nếu gieo cấy
sớm, thì sau khi đạt chồi tối đa, cây lúa tăng trưởng chậm lại và chờ đến khi có
quang kỳ thích hợp mới bắt đầu phân hóa đòng để trổ bông. Thời gian này cây
lúa sống chậm, không sản sinh gì thêm gọi là thời kỳ ngưng tăng trưởng, có
khi rất dài. Do đó, đối với các giống lúa quang cảm mạnh, cần bố trí thời vụ
gieo cấy căn cứ vào ngày trổ hàng năm của giống, làm thế nào để thời kỳ
ngưng tăng trưởng này càng ngắn càng tốt, nhưng phải bảo đảm thời gian từ
cấy đến phân hóa đòng ít nhất là 2 tháng, để cây lúa có đủ thời gian nở bụi,
bảo đảm đủ số bông trên đơn vị diện tích sau này (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Thông thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay còn gọi là
chồi có ích) thấp hơn so với số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước
khi đạt được chồi tối đa. Các chồi ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho
bông được do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh
sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu. Trong canh tác, người ta hạn chế
12
gọi là lúa “cong trái me”. Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa,
nên gọi là thời kỳ lúa ngậm sữa.
- Thời kỳ chín sáp: Hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu
vẫn còn xanh.
- Thời kỳ chín vàng: Hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển
sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót
13
bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi
dần.
- Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20%
hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần. Thời
điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của
giống (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.2 SƠ LƯỢC VỀ PHÂN BÓN LÁ
1.2.1 Phân bón lá và cơ chế hấp thu phân bón lá
Phân bón lá là các hợp chất dinh dưỡng dùng hòa tan trong nước, phun
lên lá cây trồng để hấp thu nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây. Qua đó làm
tăng năng suất, phẩm chất và mẫu mã nông sản (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv.,
2005). Phân bón lá là một dạng phân hữu ích có tác dụng nhanh chóng đến cây
trồng đặc biệt sau khi gặp các điều kiện bất lợi như: Hạn hán, ngập úng, sâu
bệnh làm tăng năng suất cây trồng đáng kể (Vũ Cao Thái, 2000). Phân bón lá
là những hợp chất dinh dưỡng có thể có các nguyên tố đa, trung, vi lượng
được hòa tan trong nước phun lên lá để cây hấp thu và phát huy hiệu lực
nhanh (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng
đến 95% chất dinh dưỡng bón qua lá, trong khi bón qua đất cây chỉ sử dụng
45-50% (Đường Hồng Dật, 2002). Nói chung, các loại phân bón lá là để bổ
sung thêm thức ăn cho cây đặc biệt là vi lượng, để kích thích ra lá, hoa nhanh
lượng trong các giai đoạn khủng hoảng của cây. Dinh dưỡng hấp thu qua lá
được sử dụng đến 95% so với 45-50% (Chu Thị Thơm, 2006). Phân bón lá có
thể thay thế được 30% phân bón qua rễ. Trên đất phèn dù bón đủ NPK thì lúa
vẫn không hấp thu được tốt do rễ kém phát triển trong tầng canh tác, đôi khi
phân bị bốc hơi nhanh hay bị rửa trôi do thời tiết do đó cây lúa không thể hấp
thu dinh dưỡng được vì vậy cần bổ sung phân bón qua lá để đáp ứng nhu cầu
cây lúa trong quá trình phát triển. Phân bón lá giúp lúa thúc đẩy nhanh quá
trình ra rễ, đẻ nhánh và hình thành đòng (Nguyễn Thanh Bình, 2008)
Sự giảm hấp thu dinh dưỡng của rễ bắt đầu trong giai đoạn sinh sản là do
sự cạnh tranh carbohydrate giữa rễ và bông, việc phun dinh dưỡng qua lá có
thể bù đắp cho sự thiếu dinh dưỡng này. Sử dụng phân bón lá giúp gia tăng
hàm lượng tinh bột ở ngũ cốc, lượng protein và chất lượng hạt có thể gia tăng
nhanh chóng khi phun đạm qua lá ở giai đoạn sau. Đạm cung cấp ở giai đoạn
này nhanh chóng được vận chuyển hoặc chuyển vị từ lá tới hạt (Nguyễn Bảo
Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004).
Phân bón lá giúp cây trồng tăng năng suất và chất lượng. Nghiên cứu của
Rana và Sharma 1980 cho thấy, phun hai lần CuSO
4
với nồng độ 0,025% trên
nho làm tăng năng suất ý nghĩa đối chứng với mức tăng 13,7% (Chu Thị
Thơm và ctv., 2006). Hay sản phẩm Bioted 603 làm tăng năng suất lúa 11-
17%, sản phẩm HVP 1601 WP làm tăng năng suất lúa 23,5%, nhãn 18-39%
(Vũ Cao Thái, 2000).
15
Ngoài ra phân bón lá còn có tác dụng kéo dài thời gian tồn trữ nông sản
sau thu hoạch bằng biện pháp xử lý tiền thu hoạch. Phun K
2
CO
của nơi nhận dưỡng chất), tăng tính thấm của màng và gia tăng bề dày của lớp
cutin trên trên bề mặt lá (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004). Lớp
cutin thấm nước khi lá non và ít thấm nước khi lá đã già, vì vậy khả năng hấp
thu dinh dưỡng của lá sẽ phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của lá. Lá non hấp
thu dinh dưỡng tốt hơn lá già (Huỳnh Thị Chí Linh, 2008).
Ảnh hưởng của nồng độ dưỡng chất
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004), nồng độ dung dịch
dinh dưỡng khi phun lên cây phải cao hơn nồng độ trong cây. Vì đa số các
dưỡng chất dinh dưỡng hấp thu vào cây theo nguyên tắc khuếch tán, nghĩa là
đi theo chiều từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp. Sự chênh lệch
16
nồng độ dưỡng chất khoáng từ mặt bên ngoài hướng tới mặt bên trong tế bào.
Các ion đi vào bên trong cây qua lớp cutin theo hướng chênh lệch nồng độ là
một yếu tố quan trọng trong việc hấp thu dinh dưỡng qua lá.
Ảnh hưởng bởi pH của dung dịch phân bón lá
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004), dung dịch dinh dưỡng
khoáng khi phun qua lá phải có pH trung tính, nếu như pH quá cao hay quá
thấp sẽ làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng do môi trường bên trong tế bào
là môi trường kiềm. Đôi khi pH không thích hợp sẽ dẫn đến cháy lá.
Ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh
Ánh sáng, ẩm độ, nhiệt độ,…các yếu tố này ảnh hưởng đến quá trình
quang hợp nhằm tạo ra carbohydrate. Sự hấp thu dưỡng chất qua lá cao nhất
khi ánh sáng thấp, ẩm độ cao, và nhiệt độ tối hảo. Ánh sáng càng cao làm cho
lớp cutin và lớp sáp dày, nhiệt độ càng cao làm cho dung dịch phun qua lá
mau khô dẫn đến việc hấp thu dinh dưỡng giảm hiệu quả, nhưng ẩm độ càng
cao thì dung dịch dinh dưỡng càng chậm khô giúp cho việc hấp thu dưỡng
chất qua lá càng tốt hơn (Huỳnh Thị Chí Linh, 2008).
Theo Lê Văn Tri (2000), phân bón lá được hấp thu qua khí khổng. Do
làm rụng hoa, giảm hiệu lực của dưỡng chất trong phân bón. Cũng như khi ẩm
độ không khí thấp, đất bị hạn nặng thì không nên phun phân bón lá sẽ làm
rụng lá.
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN LÁ
Theo Lê Hoàng Kiệt và ctv. (2005), sử dụng phân bón lá Kristalon
TM
Special 18-18-18 + 3MgO trên hai vụ lúa Đông Xuân 2003-2004 và Hè Thu
2004 tại trại thực nghiệm nông nghiệp Đồng Tháp Mười với liều dùng 3-4
kg/ha vào lúc lúa tượng đòng và trước lúc trổ đã làm tăng năng suất lúa lên
6,55% so với không phun. Ngoài ra kết quả còn cho thấy phân bón lá
Kristalon
TM
Special 18-18-18 + 3MgO còn làm tăng số bông/m
2
, tăng tỷ lệ số
hạt vàng sáng và giảm số hạt lép.
Kết quả thí nghiệm phân bón lá Krista-K (KNO
3
) trên lúa ở các tỉnh phía
Bắc do Viện Nghiên cứu Quốc gia về Nông Nghiệp thuộc Bộ Nông Nghiệp và
Phát triển nông thôn thực hiện năm 2000 với liều dùng 0,5% sử dụng vào cuối
thời kỳ đẻ nhánh và 2-3 ngày trước trổ đã làm tăng năng suất lúa lên 8 – 9% so
với đối chứng (Lê Hoàng Kiệt và ctv., 2005).
Trong hai năm 1996-1997, phân bón lá Bioted được viện lúa Đồng bằng
sông Cửu Long, trung tâm nghiên cứu khoa học và khuyến nông thành phố Hồ
Chí Minh, trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Long Định khảo nghiệm với kết
quả: Làm tăng năng suất lúa 11-17%, đậu nành 21%, xoài 37,5%, thanh long
35%, đặc biệt là nhãn tăng năng suất 45% so với đối chứng không phun.
Theo Trần Thị Kim Ba (2007), phun Borax 1-2 g/l trên xoài Cát Hòa Lộc
đạm. Lượng phân kali bị keo đất hấp thu sẽ được cây sử dụng tiếp ở vụ sau.
Trong 10 năm trở lại đây, nhất là từ khi thực hiện chương trình 1 triệu
héc-ta lúa chất lượng cao (năm 2001), nông dân ĐBSCL đã thay đổi dần tập
quán bón kali. Hiện nay kali được khuyến cáo bón ở liều lượng 30-50 kg
K
2
O/ha. Ở liều lựơng này chỉ mới đáp ứng duy trì kali trong đất. Bón cao hơn,
ở mức 100 kg K
2
O/ha năng suất lúa tăng khỏang 5-6 tạ/ha, nhưng không kinh
tế. Bón kali qua lá cho tăng năng suất và cho hiệu qủa kinh tế cao. Phun nitrat
kali nồng độ 2% trước và sau khi lúa trổ 1 tuần cho năng suất tăng khoảng 8-
10%, lợi nhuận thu được là chấp nhận (Phạm Sỹ Tân, 2008). Kết quả nghiên
19
cứu phân bón trong 5 năm từ 2002 đến 2007 của Viện lúa ĐBSCL trên lúa cao
sản ngắn ngày vùng phù sa ngọt ĐBSCL cho thấy: Chênh lệch năng suất giữa
ô không bón (ô khuyết) đạm với ô bón phân NPK đầy đủ thường dao động
trong khoảng 2,3-2,7 tấn/ha trong vụ Đông Xuân và 1,7-2,2 tấn/ha vụ Hè Thu.
Như vậy, vụ Đông Xuân bón 100-110kg N/ha và vụ Hè Thu khoảng 70-90kg
N/ha là đủ. Thực tế nông dân bón phân đạm trong vụ Hè Thu rất cao (hơn
100kg N/ha), thậm chí còn cao hơn vụ Đông Xuân (Phạm Sỹ Tân, 2008). Kết
quả nghiên cứu cũng cho thấy chênh lệch năng suất giữa ô khuyết lân so với ô
bón NPK đầy đủ dao động trong khoảng 1,2-2,0 tấn/ha. Với khoảng chênh
lệch này chỉ cần bón 30-60kg P
2
O
5
/ha là phù hợp. Nhưng với phân kali, kết
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2004), sau khi lúa trổ đều, nếu phun KNO
3
với
nồng độ 100 g/bình 10 lít để giúp sự chuyển vận đường bột tạo ra từ lá đến hạt
được tốt hơn, tăng khả năng phục hồi và tăng tính chống chịu sâu bệnh, làm
cứng cây, chống đổ ngã. Theo Haifa (2009), khi cung cấp Kali Nitrat cho cây
sẽ giúp thành vách tế bào được dày hơn, tăng cường khả năng chịu rét, chịu
20
hạn, tăng sức đề kháng đối với sâu bệnh. Kali Nitrat làm giảm thiểu sự hấp thu
Clorua và chống lại tác hại của Natri do đó giúp cây trồng thích nghi tốt hơn
khi trong môi trường ngập mặn.
21
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
2.1.2 Thời gian
Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Thu-Đông (từ tháng 09/2013 đến
tháng 12/2013)
2.2.2 Địa Điểm
Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới Bộ môn Khoa học Cây trồng
khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ, trên
giống lúa cao sản MTL480 có thời gian sinh trưởng 94-98 ngày.
2.2 PHƯƠNG TIỆN
2.2.1 Vật liệu và dụng cụ
Giống lúa: MTL480:
Có thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 94-95 ngày
22
- Nghiệm thức 4: 3000 ppm KNO
3
KNO
3
được phun vào giai đoạn sau 7 ngày và 14 ngày lúa trổ.
2.3.2 Thu thập số liệu
- Đặc điểm sinh trưởng: Số chồi/chậu và chiều cao cây (cm) đo lúc lúa
được 40, 65 và 90 ngày sau sạ, còn chiều dài bông (cm) và tỷ lệ chồi hữu hiệu
(%) được đo lúc lúa 90 ngày sau sạ.
- Thành phần năng suất: Số bông/chậu, số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc
(%) và trọng lượng 1000 hạt (g).
- Năng suất: Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế (tấn/ha).
2.3.3 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu nông học
Chiều cao cây (cm)
Chiều cao cây đối với cây lúa chưa có bông là khoảng cách từ mặt đất
đến chóp lá cao nhất, đối với cây lúa đã có bông thì chiều cao được xác định
từ mặt đất đến chóp bông cao nhất. Đo chiều cao của 3 cây lúa trong mỗi chậuvào thời điểm 90 ngày sau khi gieo.
Số chồi/chậu và tỷ lệ chồi hữu hiệu (%)
Được xác định bằng cách đếm tất cả các chồi và thân chính của lúa trong
chậu vào thời điểm tượng đòng (40 ngày sau sạ).
Tỷ lệ chồi hữu hiệu được tính theo công thức:
Quy các số liệu khối lượng cân về ẩm độ chuẩn là 14%.
86
)100(
0
0
%14
HW
W
W14% : trọng lượng mẫu ở ẩm độ 14%
W
0
: trọng lượng mẫu lúc cân
H
0
: Ẩm độ mẫu lúc cân
Các thành phần năng suất được tính như sau:
Số hạt chắc trên bông
B
C
Phần trăm hạt chắc (%)
100
L
C
C