TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THANH DUY
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN KÝ SINH
TRÊN CÓC NHÀ (Duttaphrynus melanostictus)
VÀ ẾCH ĐỒNG (Hoplobatrachus rugulosus)
TẠI TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THÚ Y
Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
tỉnh Tiền Giang” do sinh viên Nguyễn Thanh Duy thực hiện tại phòng thí
nghiệm Bệnh ký sinh trùng, Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học
Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ từ tháng 08/2013 đến tháng 12/2013.
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Cần Thơ, Ngày… tháng… năm 2013
Duyệt bộ môn
Cần Thơ, Ngày… tháng… năm 2013
Duyệt giáo viên hướng dẫn
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
TÓM LƯỢC ix
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Sơ lược về lớp ếch nhái (Amphibia) 2
2.2 Sơ lược về loài cóc nhà (Duttaphrynus melanostictus) 2
2.3 Sơ lược về loài ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus) 4
2.4 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên thế giới và Việt Nam 6
2.4.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên thế giới 6
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam 11
2.5 Tác động của ký sinh trùng lên ký chủ 12
2.6 Sơ lược về các loài giun sán ký sinh trên cóc nhà và ếch đồng 13
2.6.1 Bệnh giun tròn (Nematoda) 13
2.6.2 Bệnh sán lá (Trematoda) 16
2.6.3 Bệnh giun đầu gai (Acanthocephala) 19
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Nội dung nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện đề tài 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Điều tra tình hình chung của tỉnh Tiền Giang về điều kiện tự nhiên,
khí hậu 20
3.3.2 Khảo sát tình hình nhiễm giun sán bằng phương pháp mỗ khám 21
3.3.3 Một số hình ảnh về thu thập mẫu để kiểm tra giun sán trên cóc nhà
và ếch đồng 29
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
iv
Bảng 4.1.1: Tỷ lệ nhiễm giun sán trên cóc nhà và ếch đồng tại tỉnh Tiền
Giang 32
Bảng 4.2.1: Tỷ lệ nhiễm giun sán theo lớp trên cóc nhà và ếch đồng tại
tỉnh Tiền Giang 33
Bảng 4.3.1: Thành phần loài giun sán trên cóc nhà tại tỉnh Tiền Gian 34
Bảng 4.3.2: Thành phần loài giun sán trên ếch đồng tại tỉnh Tiền Giang 36
Bảng 4.3.3: Tỷ lệ nhiễm ghép giun sán trên cóc nhà và ếch đồng tại tỉnh
Tiền Giang 44
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cóc nhà (Duttaphrynus melanostictus) 2
Hình 2.2 Ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus) 4
Hình 2.3 Cosmocercoides sp 13
Hình 2.4 Neoxsyomatium brevicaudatum 13
Hình 2.5 Oswaldocruzia filiformis 14
Hình 2.6 Clinostomum complanatum 14
Hình 2.7 Rhabdias sp 15
Hình 2.8 Diplodiscus amphichrus 16
Hình 2.9 Encyclometra bungara 16
Hình 2.10: Mesocoelium sociale 18
Hình 2.11 Pleurogenoides sphaericus 18
Hình 2.12 Acanthocephalus bufonis 19
Hình 2.13 Acanthocephalus bufonis (đầu) 19
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Tiền Giang 21
Hình 3.2 Ghi nhãn trước khi định danh 25
Hình 3.3 Ghi nhãn sau khi định danh 25
Hình 4.21 Neoxsyomatium brevicaudatum (đuôi đực) 42
Hình 4.22 Oswaldocruzia filiformis (đầu) 42
Hình 4.23 Oswaldocruzia filiformis (đuôi cái) 42
Hình 4.24 Oswaldocruzia filiformis (đuôi đực) 42
Hình 4.25 Rhabdias sp. (đầu) 43
Hình 4.26 Rhabdias sp. (đuôi) 43
Hình 4.27 Rhadias sp. (trứng) 43
Hình 4.28 Cystacanth 43
ix
TÓM LƯỢC
Bằng phương pháp mổ khám từng phần của viện sĩ Skjabine, tiến hành
mổ khám trên 100 cá thể bao gồm 50 cóc nhà (Duttaphrynus melanostictus)
và 50 ếch đồng ( Hoplobatrachus rugulosus) thu thập tại tỉnh Tiền Giang. Kết
quả cho thấy tỷ lệ nhiễm chung trên cóc, ếch rất cao (94%). Trong đó tỷ lệ
nhiễm giun sán ở cóc là 98% và ếch là 90%.
Cả 2 loài đều nhiễm 3 lớp giun sán (sán lá, giun tròn và giun đầu gai).
Qua định danh phân loại, đã xác định được 12 loài (trên cóc phát hiện 9 loài
và trên ếch phát hiện 6 loài), đó là: 5 loài sán lá (Clinostomum complanatum,
Diplodiscus amphichrus, Encyclometra bungara, Mesocoelium sociale), 5 loài
giun tròn (ấu trùng giun tròn, Cosmocercoides sp., Oswaldocruzia filiformis,
Neoxsyomatium brevicaudatum, Rhabdias sp.), 2 loài giun đầu gai
(Acanthocephalus bufonis, Acanthocephala sp.). Ba loài Diplodiscus
amphichrus, Cosmocercoides sp. và Rhabdias sp. được tìm thấy trên cả hai ký
chủ.
Cóc có tỷ lệ nhiễm ghép nhiều loài/cá thể cao, bao gồm 3-4 loài/cá thể
và còn nhiễm
Lớp ếch nhái (lưỡng thê hay lưỡng cư) gồm các động vật có xương sống
ở cạn đầu tiên nhưng còn giữ nhiều nét của tổ tiên ở nước.
Trong sự phát triển cá thể ếch nhái đã có sự thay đổi môi trường sống.
Trứng và nòng nọc sống ở nước, sau biến thái thành con non và trưởng thành
sống ở cạn.
Thích nghi với đời sống ở cạn, ếch nhái có một số nét cấu tạo tiến bộ.
Chi kiểu năm ngón, sọ khớp động với cột sống nhờ hai lồi cầu chẩm. Ngoài tai
trong, ếch nhái còn có tai giữa thích nghi với tiếp nhận âm thanh trong không
khí. Ếch nhái hô hấp bằng phổi, tim có ba ngăn và hai vòng tuần hoàn.
Ếch nhái hô hấp bằng phổi và da, trao đổi khí ở da nhờ có hệ mao mạch
phát triển, nòng nọc thở bằng mang và da. Hệ bạch huyết rất phát triển với
nhiều túi bạch huyết lớn dưới da, liên quan đến sự hô hấp da.
Ngoài những đặc điểm tiến bộ trên, ếch nhái còn giữ một số nét nguyên
thủy của loài sống ở nước như: Da trần, dễ thấm nước; cơ quan bài tiết trung
thận; trứng không có vỏ cứng, thiếu màng dai và chỉ phát triển được dưới
nước. Thân nhiệt phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm môi trường (Phạm Nhật,
Đỗ Quang Huy, 1998).
2.2 Sơ lược về loài cóc nhà (Duttaphrynus melanostictus)
Hình 2.1 Cóc nhà (Duttaphrynus melanostictus)
3
Phân lớp của cóc:
Ngành (Phylum): Chordata
Lớp (Class): Amphibia
Bộ (Order): Anura
Họ (Family): Bufonidae
Chi (Genus): Duttaphrynus
Loài (Species): Duttaphrynus melanostictus
Chiều tối và ban đêm cóc đi kiếm ăn, ít thấy cóc nhà sống trên núi cao hay
rừng.
Cóc ăn nhiều loại thức ăn như kiến đen, châu chấu, nhện, gián, bọ
xít, sâu non, giun đất, cuốn chiếu, chuồn chuồn, ruồi, nhặng, muỗi và các loài
bướm đêm.
Mùa sinh sản của cóc thay đổi tùy từng vùng, cóc sinh sản từ tháng 11 –
12 đến tháng 1 – 2 năm sau và có khi đến tháng 4, 5 của năm sau. Cóc đẻ
nhiều lứa trong 1 năm. Trứng cóc màu đen, có đường kính từ 1,4 – 1,6 mm, có
một lớp màng nhầy trong suốt bao bên ngoài. Cóc sống được khoảng 8,5 – 16
năm.
Cóc nhà phân bố rộng rãi ở Nam và Đông Nam Á như Ấn Độ, Pakistan,
miền nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam…
2.3 Sơ lược về loài ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus)
Hình 2.2 Ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus)
5
Phân lớp của ếch đồng:
Ngành (Phylum): Chordata
Lớp (Class): Amphibia
Bộ (Order): Anura
Họ (Family): Ranidae
Chi (Genus): Hoplobatrachus
Loài (Species): Hoplobatrachus rugulosus
Ếch có thân ngắn và rộng, cổ không rõ ràng, thiếu đuôi. Đầu dài hơn
rộng ; mắt lớn và lồi, đường kính mắt bằng khoảng 2/3 lần chiều dài mõm, lớn
hơn gần 2 lần so với khoảng cách gian ổ mắt; mõm hơi tù, nhô về phía trước
so với hàm dưới; gờ mõm không rõ, vùng má lõm và hơi xiên; lỗ mũi nằm gần
Tomas cedhagen (1988) đã nghiên cứu ký sinh trùng trên hai loài ếch
Rana arvalis và R. temporaria được thu thập từ một địa phương ở miền nam
Sweden, 12 loài ký sinh trùng đã được tìm thấy, 6 loài trong số đó là:
Polystoma integerrimum, Pleurogenes claviger (Trematoda), Rhabdias
bufonis, Oswaldocruzia filiformis, Cosmocerca ornata và Oxysomatium
brevicaudatum (Nematoda).
Goldberg, S.R. et al. (1997) đã báo cáo tổng quát về các loài giun sán ký
sinh trên Rana tagoi tagoi ở Nhật Bản, kết quả thu được 23/32 ếch nhiễm giun
sán, đạt tỷ lệ 69% bao gồm: 1 loài thuộc lớp sán dây là Cylindrotaenia
japonica (25%, cường độ nhiễm 3,4), 3 loài thuộc lớp giun tròn là
Cosmocerca japonica (53%, cường độ 3,1), Oswadocruzia socialis (3%,
cường độ 1,0), Rhahdias nipponica (22%, cường độ 2,9), và một loài giun đầu
gai là Acanthocephalus lucidus (22%, cường độ 4,7).
Bolek, M.G. và J.R.Coggins (2000) đã kiểm tra giun sán của 47 cóc Bufo
americanus americanus từ Waukesha County, Wisconsin của U.S.A có 46 cóc
nhiễm giun sán đạt tỷ lệ 98% , trong đó tỷ lệ nhiễm giun tròn là 92%, sán lá
2% và sán dây 6%. Các loài giun sán bao gồm 2 loài sán lá (Echinostome
metacercariae, Gorgoderina sp.), 1 loài sán dây (Mesocestoides sp.) và 3 loài
giun tròn (Oswaldocruzia pipiens, Cosmocercoides variabilis, Rhabdias
americanus).
Sey, O. và L.A.Ghaith, (2000) đã kiểm tra giun sán ký sinh trên 2 loài
cóc Bufo viridis và thằn lằn đuôi gai Uromastyx microlepis được thu thập từ
Kuwait, tổng cộng 9 loài giun sán đã được tìm thấy bao gồm: Polystoma
integerrimum, Sonsinotrema tacapense, Nematotaenia dispar, Aplectana
macinthosii, Cosmocerca ornata, Rhabdias bufonis từ Bufo viridis và
Oochoristica truncata, Thelandros kanistica, Tachygonetria vivipara từ
7
thuộc bộ không đuôi thuộc lớp lưỡng cư là Atelopus spurrelli và Dendrobates
histrionicus. Trên A.spurrelli tìm thấy 3 loài giun tròn Cosmocerca
podicipinus, ấu trùng của Physocephalus sp. Và Porrocaecum sp. Trên D.
histrionicus tìm thấy C. podicipinus, Physocephalus sp. và Porrocaecum sp.
và cystacanths của 3 loài giun đầu gai Centrorhynchus sp, Onicola sp. và
Polymorphus sp.
Mohammad Khair Al-sorkhy (2003) đã kiểm tra giun sán trên 470 mẫu
vật bao gồm: 220 mẫu của loài cóc xanh (Bufo viridis), 65 mẫu của loài ếch
8
cây (Hyla savignyi) và 185 mẫu của loài ếch Levantine (Rana bedriagae).
Tổng cộng 6 loài giun sán đã được tìm thấy bao gồm: 2 loài sán đơn chủ là
Polystoma integerrimum (23%) và Polystoma viridis (8%); 2 loài sán lá hai ký
chủ là Pleurogenoides tacapensis (14.5%) và Prosotocus confuses(11%); 2
loài sán dây là Nematotaenia dispar (35%) và Nematotaenia chantalae (8.5%).
Trong các loài giun sán thì loài P. integerrimum có tỷ lệ nhiễm cao nhất ở cóc
Bufo viridis. Trong khi đó R. bedriagae, P. tacapensis có tỷ lệ nhiễm cao nhất.
Nematotaenia dispar chỉ được tìm thấy trên ếch Hyla savignyi.
Luque, J. L. (2005) đã kiểm tra ký sinh trùng trên 32 cóc Bufo ictercus
(22 con đực và 10 con cái) thu thập từ Miguel Pereira, State of Rio de Janeiro,
Brazil. Có 31 (97%) mẫu được kiểm tra phát hiện ký sinh trùng, trong đó phát
hiện 16 loài giun sán bao gồm: 2 loài sán lá, 13 loài giun tròn và 1 loài ve. Nội
ký sinh trùng chiếm 82,3% trên tổng số mẫu được thu thập.
Org, D.A. (2006) đã kiểm tra giun sán của 236 ếch Rana Ridibunda (122
ếch đực và 114 ếch cái) từ hồ Hazar ở Turkey có 148 ếch nhiễm giun sán đạt
tỷ lệ 62,71% với 9 loài giun sán (3 loài sán lá, 5 loài giun tròn, 1 loài giun đầu
dai), trong đó Gorgoderia vitelliloba (2,97%) ở bàng quang, Haematoloechus
varriegates (4,66%) và Rhadias bufonis (8,9%) ở phổi, Pleurogenoides
Jimenez, A.E. et al. (2007) đã kiểm tra giun sán của 34 cóc mía (Bufo
marinus) trong đó có 12 đực và 22 cái, được thu thập từ 2 địa phương ở
Mexico (Cerro de Oro và Temascal Dams , Oaxaca). Tổng cộng, 14.749 giun
sán thuộc 14 loài được tìm thấy bao gồm: 2 sán lá trưởng thành
(Choledocystus hepaticus, Mesocoelium monas), 1 ấu trùng sán dây, và 11 loài
giun tròn, trong đó có 3 loài ở giai đoạn ấu trùng (Contracaecum sp.,
Physaloptera sp., Physocephalus sexalatus) và 8 loài trưởng thành (Aplectana
itzocanensis, Cosmocerca sp., Cruzia morleyi, Ochoterenella digiticauda,
Oswaldocruzia sp., Raillietnema sp., Rhabdias americanus và Rhabdias
fuelleborni).
Nassrin Mashaii et al. (2008) đã kiểm tra giun sán trên 53 mẫu vật bao
gồm cóc và ếch được thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau trong khu vực phía
bắc và đông bắc của Iran chủ yếu ở tỉnh Semnan, trong số 47 cá thể cóc Bufo
viridis thì có 97,5% cóc bị nhiễm một hoặc nhiều loài giun sán. Các loài ký
sinh trùng của Bufo viridis thu thập được là: Sán lá đơn chủ (Polystoma
viridis), ấu trùng sán dây (Nematotaenia dispar), giun tròn (Rhabdias spvà
Cosmocerca sp). Một loài ếch đầm lầy là Rana ridibunda ridibunda nhiễm sán
lá Skrjabenoeces similis, loài ếch gổ Iran (Rana macrocnemis
pseudodalmatina) nhiễm Haplometra cylindracea và Oswaldocruzia
filiformis.
Jasim, S.Y. (2008) đã nghiên cứu giun tròn trên 16 mẫu của cóc Bufo
viridis được thu thập từ khu vực Baghdad, trung tâm Iraq, phát hiện được 2
loài ký sinh trùng là: Cosmocercoides variabilis (Cosmocercidae),
Oswaldocruzia filiformis.
Mohammad, M.K. (2010) đã kiểm tra sự hiện diện của giun sán trên loài
cóc xanh (Bufo viridis) thu thập từ trung tâm khu vực Baghdad, các loài giun
sán được phát hiện 2 loài sán dây (Proteocephalus sp. và Nematotaenia
10
87,91%. Các loài giun sán của Bufo bufo bao gồm 5 loài: 4 loài giun tròn
(Rhabdias bufonis, Oswadocruzia filiformis , Cosmocerca ornate và
Oxysomatium brevicaudatum), và một loài giun đầu gai (Acanthocephalus
ranae). Các loài giun sán của Bufo (Pseudepidalea) viridis bao gồm 7 loài:
một loài sán lá đơn chủ (Polystoma viridis), 1 loài sán dây (Nematotaenia
dispar), và 5 loài giun tròn (R. bufonis, O. filiformis, C. ornata, C. commutata,
11
và O. brevicaudatum). R. bufonis, O. filiformis, C. ornata, và O.
brevicaudatum đã được tìm thấy trong cả 2 loài cóc .
Dusen, S. (2012) đã nghiên cứu giun sán trên 8 mẫu ếch núi (Rana
tavasensis) được thu thập từ tỉnh Denizli, Turkey, kết quả cho thấy tất cả 8
mẫu đều nhiễm một hoặc nhiều loài giun sán. Các loài giun sán bao gồm ba
loài: một loài sán lá (Haplometra cylindracea), một loài giun tròn
(Cosmocerca ornate), một loài giun đầu gai (Acanthocephalus ranae).
Yildirimhan et al.(2012) đã kiểm tra giun sán của 40 con ếch chanh vàng
(Hyla savignyi) thu thập từ Kırıkhan, Turkey và 21 con đã được tìm thấy
nhiễm giun sán. Trong đó gồm có 1 loài sán lá đơn chủ (Polystoma
integerrimum), 3 loài sán lá (Diplodiscus subclavatus, Halipegus kessleri, và
Pleurogenoides medians), 1 loài sán dây (Nematotaenia dispar) và 2 loài giun
tròn (Aplectana brumpti và Cosmocerca commutata).
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam
Trong hơn 40 năm qua, công tác điều tra cơ bản về ký sinh trùng ở động
vật, đặc biệt là chim và thú đã tiến hành hầu khắp các vùng trong cả nước.
Riêng hai lớp ếch nhái và bò sát chỉ mới được nghiên cứu về ký sinh trùng từ
năm 1995 trở lại đây. Tuy vậy những nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở khu
vực đồng bằng sông Hồng và một số địa điểm ở khu vực miền bắc nước ta.
Hà Duy Ngọ, Đỗ Đức Ngái, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Văn Đức (2009)
của vật chủ làm thức ăn cho mình đưa đến ký chủ suy dinh dưỡng, còi cọc,
chậm lớn, thiếu máu, rối loạn toàn thân. Việc lấy dinh dưỡng qua vòi hút, qua
giác bám, qua thẩm thấu,
Bế tắc: với những ký sinh trùng có kích thước lớn, ký sinh với số lượng
nhiều thường gây tắt vỡ các ký quan hình ống như ruột, ống dẫn mật, mạch
máu,
Chèn ép: ký sinh trùng như các dạng ấu trùng của sán dây khi ký sinh có
thể chèn ép các tổ chức.
Phá hủy: nhiều ký sinh trùng có giác bám, mó rãnh ngoặm sẽ làm tổn
thương nơi nó bám ký sinh, làm thủng, rách, gây tróc niêm mạc gây xuất
huyết, phá hoại tổ chức, xuất huyết. Những ký sinh trùng thường gây viêm cấp
tính, mạn tính. Trong quá trình di hành qua nhiều cơ quan, tổ chức và gây tổn
thương cho những khí quan này (ruột, gan).
Tiết độc tố: ký sinh trùng đầu độc vật chủ bằng độc tố giun, tất cả những
sản phẩm trong quá trình trao đổi của ký sinh trùng gây trúng độc mãn tính
cho vật chủ, ký sinh trùng còn đầu độc bằng ngoại, nội độc tố do chính ký sinh
trùng tiết ra (Nguyễn Hữu Hưng, 2010).
13
2.6 Sơ lược về các loài giun sán ký sinh trên cóc nhà và ếch đồng
2.6.1 Bệnh giun tròn (Nematoda)
Cosmocercoides sp. (Steiner, 1924)
Miêu tả
Giun đực: Kích thước 3,16 x 0,161 mm, hai gai giao phối bằng hoặc gần
bằng, đuôi tương đối dài thon nhọn phía sau lỗ huyệt và cong về mặt bụng.
Nhú hình hoa thị, 11 cặp thuộc bên bụng, một cặp ở vùng lỗ huyệt, 2 cặp sau ổ
nhớp, 1 cặp thuộc bụng bên, một cặp bên, 4 cặp không có nhú hình hoa thị gần
chóp đuôi, 2 cặp bên bụng, 2 cặp bên lưng.
A: Đầu (200 µm)
B: Đuôi giun cái (200 µm)
C: Đuôi giun đực (200 µm)
D: Trứng có phôi (50 µm)
(Yildirimhan, 1999)