TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
ĐINH THỊ KIM MIÊN
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN KÝ
SINH Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CHÓ TẠI
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THÚ Y
Giáo viên hướng dẫn:
Th.s Nguyễn Hồ Bảo Trân
Sinh viên thực hiện:
Đinh Thị Kim Miên
MSSV: 3102962
Lớp: Thú Y K36
Cần Thơ, 5/2014
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở đường tiêu hóa chó tại
thành phố Vĩnh Long” do sinh viên Đinh Thị Kim Miên thực hiện tại phòng
thí nghiệm Bệnh ký sinh trùng, Bộ môn Thú y, Khoa Nông nghiệp & Sinh
học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 12/2013 đến tháng
4/2014. Đinh Thị Kim Miên
iii
LỜI CẢM ƠN
Trong những năm tháng học tập, rèn luyện nơi giảng đường đại học,
cha mẹ đã động viên góp thêm sức mạnh giúp con vượt qua những khó khăn
để hoàn thành tốt khóa học và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình.
Con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cha mẹ đã luôn dành cho con
mọi điều tốt đẹp nhất, để con có được thành quả như ngày hôm nay.
Mãi mãi ghi ơn!
Thầy Nguyễn Hữu Hưng là người đã truyền đạt tất cả kiến thức, các
kỹ năng cho tôi.
Cô Nguyễn Hồ Bảo Trân đã hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn
này. Cô không những lo lắng mà còn giúp tôi giải quyết cũng như những
lời khuyên hữu ích giúp tôi vượt qua những khó khăn gặp phải trong suốt
thời gian làm đề tài.
Tôi không thể quên ơn thầy cố vấn Lê Hoàng Sĩ đã dìu dắt tôi ngay
những năm đầu đại học còn nhiều bỡ ngỡ và cho đến khi tôi kết thúc khóa
học ở trường.
Xin chân thành cảm ơn!
Chị Lữ Ngọc Thảo luôn sát cánh, ân cần giúp đỡ tôi trong quá trình
thu thập mẫu.
Các thầy cô Bộ môn Thú y và Bộ môn Chăn nuôi đã hướng dẫn và
truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn lớp Thú y khóa 36 giúp đỡ tôi rất
2.2.1.4 Giun xoăn dạ dày và giun thực quản 16
2.2.2 Sán dây ký sinh ở đường tiêu hoá chó 19
2.2.2.1 Taenia hydatigena 19
2.2.2.2 Taenia pisiformis 20
2.2.2.3 Dipylidium caninum 20
2.2.2.4 Diphyllobothrium latum 22
2.2.2.5 Spirometra mansoni 24
2.2.3 Sán lá ký sinh ở đường tiêu hoá chó 26
2.3. Tác hại của giun sán đối với ký chủ và sức khỏe con người 28
2.3.1 Tác hại của giun sán đối với ký chủ 28
2.3.2 Tác hại của giun sán đối với sức khoẻ đối với con người 29
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Nội dung 30
v
3.2 Phương tiện nghiên cứu 30
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Dụng cụ và hóa chất 31
3.3.2 Phương pháp kiểm tra phân tìm trứng giun sán 31
3.3.3 Phương pháp mổ khám tìm giun sán 32
3.3.2.1 Đối tượng 32
3.3.2.2 Phương pháp mổ khám 32
3.3.2.3 Phương pháp bảo quản và định danh mẫu vật 33
3.3.2.4 Phương pháp làm tiêu bản vĩnh viễn 33
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Kết quả tình hình nhiễm giun sán ở đường tiêu hóa chó tại thành phố Vĩnh
Long qua phương pháp kiểm tra phân 35
4.1.1 Tình hình nhiễm giun sán tại các địa điểm khảo sát 35
4.1.2 Tình hình nhiễm giun sán theo lứa tuổi 36
4.1.3 Kết quả thành phần loài giun sán ký sinh ở chó theo lứa tuổi tại thành
Thực quản
DD
Dạ dày
RN
Ruột non
RG
Ruột già vii DANH MỤC BẢNG Bảng
Tựa bảng
Trang
1
Tỷ lệ nhiễm giun sán tại các điểm khảo sát
35
2
Tỷ lệ nhiễm giun sán ở chó theo lứa tuổi qua phương pháp kiểm tra phân
36
3
Tỷ lệ nhiễm giun sán theo lứa tuổi giữa các điểm khảo sát
36
9
3
Ancylostoma braziliense
9
4
Uncinaria stenocephala
10
5
Trứng của Uncinaria stenocephala
10
6
Vòng đời của giun móc ở chó
11
7
Toxocara canis
12
8
Trứng của Toxocara canis
12
9
Vòng đời của Toxocara canis
13
10
Toxascaris leonina
13
11
Trứng của Toxascaris leonina
13
12
Vòng đời của Toxascaris leonina
20
23
Dipylidium caninum
21
24
Trứng của Dipylidium caninum
21
25
Vòng đời của Dipylidium caninum
21
26
Diphyllobothrium latum
23
27
Trứng của Diphyllobothrium latum
23
28
Vòng đời của Diphyllobothrium latum
24
29
Spirometra mansoni
25
30
Sán dây Spirometra mansoni
25
31
Vòng đời của Spirometra mansoni
26
32
Ecinochasmus perfoliatus
42
Uncinaria stenocephala
44
43
Spirocerca lupi
44
44
Đốt chửa Diphyllobothrium latum
45
45
Toxascaris leonina
45
46
Dipylidium caninum
45
47
Ecinochasmus perfoliatus
45 x
TÓM LƯỢC
Qua mổ khám 65 chó tại lò mổ tư nhân và kiểm tra 209 mẫu phân tại
thành phố Vĩnh Long. Kết quả thu được như sau:
Bằng phương pháp kiểm tra phân cho thấy chó ở các lứa tuổi đều nhiễm
trứng giun sán chiếm tỷ lệ 45,45%. Có 4 loài được tìm thấy là Ancylostoma
caninum (73,68%), Uncinaria stenocephala (23,16%), Toxascaris leonina
(3,16%), Toxocara canis (12,63%) thuộc lớp giun tròn.
ở đường tiêu hóa làm chó gầy yếu, giảm sức đề kháng và tạo điều kiện cho
các bệnh kế phát khác. Không chỉ có thế giun sán còn gây nhiễm cho con
người tạo nên các hội chứng như ấu trùng định cư dưới da, ấu trùng di hành
trong nội tạng hay ấu trùng di hành trong mắt.
Chó được xem là thú cưng được con người chăm sóc, vuốt ve hang
ngày đặc biệt là ở trẻ em, do đó chó dễ dàng truyền mầm bệnh cho người.
Xuất phát từ tình hình trên, được sự chấp thuận của Bộ môn Thú Y,
Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ. Chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm giun sán ký sinh
ở đường tiêu hóa chó tại thành phố Vĩnh Long”.
Mục tiêu đề tài:
Xác định tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở chó tại thành phố Vĩnh
Long.
Xác định cường độ, tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở chó theo lứa tuổi.
Xác định thành phần loài giun sán ký sinh ở chó tại thành phố vĩnh
Long.
2
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh giun sán
2.1.1 Nghiên cứu trong nước
Đỗ Hài (1972) cho biết tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó khá cao, cao nhất
là Ancylostoma. Chó Bắc bộ nhiễm Ancylostoma 83,33%.
Trịnh Văn Thịnh và Phạm Văn Khuê (1982) tỷ lệ nhiễm giun móc ở
chó săn là 75-82%. Tỷ lệ này tùy thuộc theo lứa tuổi và giống chó. Chó sơ sinh
đến 4 tháng tuổi nhiễm 82%, chó 6-12 tháng tuổi nhiễm 75%, chó lớn nhiễm
74%, chó ngoại nhiễm 83%, chó nội nhiễm 63%.
5,88%.
3
Nguyễn Thị Kỳ (1994) đã tổng kết các tài liệu và mô tả các mẫu vật sán
dây ký sinh ở động vật nuôi, chim và thú hoang Việt Nam. Tác giả đã liệt kê
được 7 loài sán dây ký sinh ở chó là: Diphyllobothrium mansoni, Dipylidium
caninum, Teania pisiformis, Teania hydatigena, Teania multiceps,
Echinococcus glanulosus và Mesocestoides lineatus.
Ngô Huyền Thuý (1996) xét nghiệm 1092 mẫu phân chó và mổ khám
516 chó tại Hà Nội. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun sán rất cao 92,10% và
12 loài được phát hiện bao gồm cả sán dây (Dipylidium caninum, Teania
hydayigena, Teania pisiformis, Diphyllobothrium mansoni), sán lá
(Echinochasmus perfoliatus, Clonochis sinensis) và giun tròn (Ancylostoma
caninum, Uncinaria stenocephala, Toxocara canis, Trichocephalus vulpis,
Toxascaris leonina, Spirocerca lupi). Tác giả cũng đã thử nghiệm 4 loại thuốc
tẩy trừ là piperazin liều 0,25g/kg thể trọng đạt hiệu quả tẩy sạch giun đũa 94,6-
100%; mebendazole liều 0,1g/kg thể trọng đạt hiệu quả tẩy trừ giun móc 92-
93%. Lopatol liều 50mg/kg thể trọng tẩy sạch giun 82,90%, tẩy sán 76%;
Niclosamid liều 100mg/kg thể trọng đạt hiệu quả tẩy trừ sán dây 77-81%.
Hồ Tồng Nhân (1997) tiến hành mổ khảo sát 120 chó tại thị xã Vĩnh
Long, tỉnh Vĩnh Long, cho thấy chó bị nhiễm giun sán với tỷ lệ (100,00%),
trong đó có 2 loài thuộc lớp sán dây và 6 loài thuộc lớp giun tròn với tỷ lệ
nhiễm theo từng loài như sau: sán dây (Teania hydatigena 0,83%, Dipylidium
caninum 25,00%), giun tròn (Ancylostoma caninum 82,50%, Ancylostoma
braziliense 75,00%, Uncinaria stenocephala 7,50%, Spirocerca lupi 63,33%,
Dirofilaria immitis 70,83%).
Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1998) mổ khám 253 chó và xét
nghiệm 753 mẫu phân chó ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ nhiễm giun
móc ở chó là (90,51%) (mổ khám) và (61,62%) (xét nghiệm phân). Có 3 loài
giun móc được định danh là Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense,
liều 1 ml/4 kg thể trọng cho hiệu quả tẩy sạch 100% đối với giun móc và giun
đũa.
Lê Hữu Khương (2005), nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ký sinh
trên chó ở một số tỉnh miền Nam Việt Nam. Kết quả phân loại 73.757 mẫu vật
đã định danh được 12 loài giun sán. Trong đó có 4 loài thuộc lớp sán dây và 8
loài thuộc lớp giun tròn. Tỷ lệ nhiễm chung trên chó (97,81%); giun tròn tỷ lệ
nhiễm (96,24%); sán dây tỷ lệ nhiễm (29,79%). Đa số chó nhiễm 3-4 loài giun
sán trên một cá thể. Có 6 loài giun sán phân bố khắp 13 địa điểm điều tra là:
sán dây (Dipylidium caninum), giun tròn (Toxocara canis, Spirocerca lupi,
Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala).
Nhóm giun sán có khuynh hướng nhiễm tăng dần theo tuổi gồm: Dipylidium
caninum, Spirometra mansoni, Gnathostoma spinigerum, Dirofilaria immitis,
Trichocephalus vulpis và Spirocerca lupi. Loài Toxocara canis có tỷ lệ nhiễm
giảm theo tuổi chó.
Lê Hữu Khương (2005) đã thử nghiệm tẩy giun móc và giun đũa bằng
thuốc levamisol với liều 7,5 mg/kg thể trọng cho hiệu quả không cao. Thuốc
ivermectin với liều 0,41 mg/kg thể trọng và Doramectin 0,37 mg/kg thể trọng
chích một liều duy nhất cho hiệu quả tẩy sạch 100% đối với các loài giun này.
Tác giả cũng đã sử dụng thuốc Fenbendazole liều 50 mg/kg thể trọng uống
trong 3 ngày liên tục cho hiệu quả tẩy sạch 2 loài giun này 100% thuốc an toàn
không có phản ứng phụ trong quá trình thử thuốc.
5
Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) đã xét nghiệm 457
mẫu phân và 116 chó các loại nuôi tại thành phố Hà Nội, kết quả cho thấy: có
4 loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của chó là Ancylostoma caninum
(68-71%), Toxascaris leonina (24-26%), Toxocara canis (20%) và Trichuris
vulpis (7%). Cường độ nhiễm mỗi loài từ 1-72 giun/chó.
Cao Thanh Bình (2008) xét nghiệm 597 mẫu phân, kết quả cho thấy
chó nhiễm 6 loài trứng sán: 5 loài thuộc lớp Nematoda (Ancylostoma caninum,
Toxocara canis (5,88%), Toxascaris leonina (5,88%), Spirocerca lupi
(47,06%), Trichuris vulpis (1,96%), 2 loài thuộc lớp Cestoda là Dipylidium
6
caninum (27,45%), Taenia multiceps (1,96%) và 4 loài thuộc lớp Trematoda
là Heterophyes heterophyes (3,92%), Echinochasmus perfoliatus (23,53%),
Echinostoma revolutum (3,92%) và Echinostoma sp (3,92%). Chó nhiễm ghép
3-4 loài/cá thể (62,5%), 1-2 loài/cá thể (25,56%), và thấp nhất là nhiễm >4
loài/cá thể (11,94%).
2.1.2 Nghiên cứu ngoài nước
Cotteleer et al. (1980), làm xét nghiệm 2432 mẫu phân chó ở Brussel
(Bỉ) cho thấy 40,67% chó nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Trong đó, tỷ lệ chó
bị nhiễm sán dây là 3,13%, giun đũa 20,70%, giun tóc 6,80%.
Hinz (1980), xét nghiệm 107 mẫu phân chó ở Bangkok (Thái Lan) cho
thấy tỷ lệ chó bị nhiễm giun móc 100%, giun tóc (Trichuris vulpis 54,20%,)
giun đũa (Toxocara canis 6,50%), giun thực quản (Spirocerca lupi 17,80%).
Cho et al. (1981), mổ khám 102 chó ở Hàn Quốc cho biết có 72 chó
nhiễm giun sán. Trong đó: sán dây (Dipylidium caninum 47%, Taenia
pisiformis 9%, Spirometra mansoni 2%), giun móc (Ancylostoma caninum
26%), giun đũa (Toxascaris leonina 16%, Toxocara canis 13%)
Nicholas et al. (1982), khảo sát 544 chó, xác định 2 loài sán dây ký sinh
trên chó ở Australia cho thấy chó nhiễm 7 loài giun sán gồm Toxascaris
leonina, Toxocara canis, Trichuris vulpis, Spirocerca lupi, Uncinaria
stenocephala, Dipylidium caninum và Taenia sp.
Pandey et al. (1987), khảo sát 57 chó ở Rabit, Morocco, ghi nhận sự
hiện diện các loài giun sán ký sinh trên chó như: sán dây (Dipylidium naninum
40,40%, Taenia hydatigena 12,30%, Taenia pisiformis 12,30%), giun móc
(Ancylostoma caninum 17,50%, Uncinaria stenocephala 79%), giun đũa
(Toxascaris leonina 33,33%, Toxocara canis 7%), giun thực quản (Spirocerca
lupi 54,50%). Trong đó, Taenia hydatigena và Taenia pisiformis chỉ có ở trên
bị nhiễm Echinococcus granulosus đều sống quanh các lò mổ.
Anene et al. (1996), khảo sát 197 chó ở Nigeria cho biết tỷ lệ nhiễm ký
sinh trùng đường ruột là 68,50%. Trong đó, sán dây (Dipylidium caninum
11,20%, Taenia hydatigena 9,10%), giun tròn (Trichuris vulpis 3,6%,
Ancylostoma caninum 37,60%). Tỷ lệ chó bị nhiễm ghép từ 2 loài trở lên
chiếm 47,00%, Dipylidium caninum cao ở chó trên 1 năm tuổi.
Overgaauw (1997), xét nghiệm 272 mẫu phân chó tìm giun tròn ở Hà
Lan. Kết quả tỉ lệ nhiễm Toxocara canis ở chó là 2,90%, Toxascaris leonina
0,40% và Trichuris vulpis 0,70%. Năm 1998, tác giả xét nghiệm 286 mẫu phân
chó trưởng thành và 159 chó con, kết quả chó nhiễm giun tròn với tỷ lệ
41,00%.
Bugg et al. (1999), mổ khám 340 chó thả rong ở Jordan, kết quả có
66,80% chó bị nhiễm sán dây. Loài sán dây bị nhiễm cao nhất là Dipylidium
caninum (19,40%).
Castillo et al. (2000), xét nghiệm 288 mẫu phân chó lấy ở 84 quảng
trường và 12 công viên của 32 quận ở Santiago, Chile. Tác giả cho biết có
39/288 mẫu phân (13,50%). 28/84 quảng trường (33,30%) và 8/12 công viên
(66,70%) bị nhiễm Toxocara canis.
Craig và Macpherson (2000), chó nhiễm nhiều loài giun sán ký sinh ở
đường ruột, trong đó có loài cũng lây nhiễm qua người. Trong số các loài giun
tròn ký sinh trên chó như Ancylostoma sp., Toxocara canis được ghi nhận có
ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ cộng đồng đặc biệt là các nước đang phát
triển.
8
Luty (2001), xét nghiệm 445 mẫu phân chó ở vùng Poznan (Ba Lan)
kết quả có 32% chó nhiễm Toxocara, chó 3 tháng tuổi trở xuống nhiễm 58%.
Minnaar et al. (2001), xét nghiệm 164 mẫu phân chó và mổ khám 69
chó ở Boksburg (Nam Phi). Kết quả cho thấy chó bị nhiễm Dipylidium
caninum 39%, Taenia sp. 4%.
Hình 1 Ancylostoma caninum
A Mặt trước của phần đầu; B Mặt bên của phần đầu;
CMặt bên của túi đuôi; D Mặt lưng của túi đuôi.
(theo Levine, 1978)
9 Ancylostoma braziliense (Gomez de Feria, 1910)
Loài này có kích thước nhỏ nhất trong 3 loài, ký sinh ở ruột non chó,
mèo có khi ở người. Bao miệng chỉ có một đôi răng không phân nhánh. Giun
đực dài 6-6,75 mm, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,64 mm. Giun cái dài
khoảng 7-10 mm, nhìn chung kích thước không lớn hơn 10 mm, hậu môn cách
đuôi 0,20-0,25 mm, âm hộ nằm ở 1/3 phía sau thân. Trứng giống như
Ancylostoma caninum, trứng mới thải ra bên ngoài có 8 tế bào phôi.
Vòng đời
Phát triển trực tiếp, không cần có sự tham gia của ký chủ trung gian.
Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi sau 20 giờ tới
một vài ngày sẽ phát triển thành trứng có ấu trùng trong trứng. Ấu trùng chui
ra khỏi trứng sau 6-7 ngày, lột xác lần 2 để tạo thành ấu trùng gây nhiễm (L3).
Ấu trùng gây nhiễm dài 0,56-0,69 mm có thể tồn tại ở mặt nền. Gia súc non
dễ bị ấu trùng xâm nhập qua da hơn là chó già. Ấu trùng còn non dễ xâm nhập
hơn ấu trùng già. Khi xâm nhập qua da chỉ 40 phút tất cả các ấu trùng chuyển
vào hệ thống tuần hoàn của chó. Trong 2 ngày đầu ấu trùng xâm nhập vào phổi
nhiều nhất sau đó về ruột và phát triển thành dạng trưởng thành. Trong khi cho
con bú, L3 trong máu sẽ truyền qua sữa và gây nhiễm cho chó con.
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể chó từ 14-20 ngày. Thời
gian sống trong cơ thể chó từ 1-2 năm.
Hình 5 Trứng của Uncinaria stenocephala
(Theo Sloss, 1994)
Hình 4 Uncinaria stenocephala
A Mặt bên của phần đầu; B Mặt trước của phần đầu;
C Mặt trước của túi đuôi; D Mặt bên của túi đuôi; E Mặt cắt dọc của túi đuôi.
(theo Levine, 1978)
11
Hình 6 Vòng đời của giun móc ở chó
Nguồn: http://www.cdc.gov/dpdx/hookworm/index.html
12
Vòng đời
Trứng Toxocara theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi (ẩm ướt,
nhiệt độ từ 20-30
0
C) sau 3-5 ngày phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm
L2. Trứng cảm nhiễm này được chó và các loài ăn thịt khác nuốt phải vào ống Toxascaris leonina (Leiper, 1907)
Hình thái
Đầu có 3 môi, thực quản đơn giản, hình trụ, không có thực quản và
không có dạ dày. Đầu hẹp hơi cong về phía lưng. Con đực dài 40-80 mm, đuôi
nhọn, hai gai giao hợp dài bằng nhau 0,90-1,50 mm. Con cái dài 60-100 mm.
Trứng hơi tròn bên ngoài có lớp vỏ nhẵn, đường kính 0,075-0,085 mm, gồm
hai lớp vỏ dày màu vàng nhạt.
Hình 10 Toxascaris leonina