TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TRẦN THẾ VIỆT
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN MỘT
SỐ ĐẶC TÍNH LÝ – HÓA CỦA ĐẤT TRỒNG
ĐẬU XANH VỤ XUÂN-HÈ VÀ HÈ-THU TẠI
XÃ MỸ KHÁNH, TP LONG XUYÊN,
TỈNH AN GIANG
Cán bộ hướng dẫn
NGÔ THỤY DIỄM TRANG
Cần Thơ, 2013
Luận văn tốt nghiệp kèm theo đây, với tựa đề là “Ảnh hưởng của phân xỉ thép
đến một số đặc tính lý - hóa của đất trồng đậu xanh vụ Xuân-Hè và Hè-Thu tại xã
Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang”, do Trần Thế Việt thực hiện và báo cáo
đã được hội đồng chấm luận văn thông qua.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Chiếm PGS. TS. Bùi Thị Nga
TS. Ngô Thụy Diễm Trang
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã giúp đỡ Tôi tận tình trong quá
trình làm luận văn tốt nghiệp.
Xin gởi lời tri ân sâu sắc đến với Ts. Ngô Thụy Diễm Trang đã cung cấp những kinh
nghiệm, kiến thức cũng như những tài liệu chuyên môn và tận tình hướng dẫn, luôn
động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
tốt nghiệp.
Gởi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả cán bộ Bộ môn Khoa Học Môi Trường, Khoa Môi
Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên, trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến
thức quý báu trong suốt quá trình đào tạo đại học để Tôi hoàn thành tốt công việc học
tập.
3
/ha. Kết quả cho thấy, việc bổ
sung phân xỉ thép không mang đến hiệu quả tích cực trong việc làm thay đổi các tính
chất lý-hóa đất, hay nói khác đi tất cả các chỉ tiêu theo dõi ở nghiệm thức 2 và 3 không
khác nghiệm thức 4 (nghiệm thức đối chứng). Dung trọng đất có xu hướng giảm và độ
xốp tăng một ít so với mẫu đất ban đầu khi canh tác 2 vụ liên tiếp ở tất cả các nghiệm
thức (trừ nghiệm thức 2). Bón phân theo kinh nghiệm của người nông dân làm cho đất
có xu hướng bị chua hóa. Giá trị pH có sự gia tăng ở tất cả các nghiệm thức khi canh
tác 2 vụ đậu liên tiếp. Giá trị EC và hàm lượng đạm tổng số trong đất cuối vụ Xuân-Hè
cao hơn so với đầu vụ. Hàm lượng chất hữu cơ và lân tổng số ở cuối vụ Xuân-Hè và
Hè-Thu nhìn chung cao hơn ở mẫu đất ban đầu, ngoại trừ nghiệm thức 1 ở vụ Xuân-
Hè. Bên cạnh đó cũng thấy được phân xỉ thép không làm ảnh hưởng đến hàm lượng sắt
tổng trong đất ở cả 2 vụ. Từ đó kết luận việc bón phân xỉ thép không có hiệu quả trong
việc cải thiện các đặc tính lý và hóa của đất qua 2 vụ canh tác đậu xanh trên đất Long
Xuyên, An Giang.
Từ khóa: Phân xỉ thép, xỉ thép, tính chất vật lý đất, tính chất hóa học đất, ảnh
hưởng phân xỉ thép, đất trồng đậu xanh.
MỤC LỤC
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
2.4.2 Phân Đạm (URÊ) 17
2.4.3 Phân Kali 18
2.4.4 Phân xỉ thép 18
2.5 Ảnh hưởng của phân bón đến một số đặc tính lí hóa đất 20
2.5.1 Sự tác động của phân bón đến cấu trúc đất 20
2.5.2 Đất hóa chua 21
2.5.3 Những chất độc trong phân bón 21
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
3.2 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 23
3.3.2 Tiến trình thí nghiệm 25
3.3.3 Các chỉ tiêu phân tích 26
3.3.4 Phương pháp thu, bảo quản và phân tích mẫu 26
a. Phương pháp thu mẫu và bảo quản mẫu 26
b. Phương pháp phân tích mẫu 29
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 30
4.1 Đặc điểm lý-hóa đất của khu vực nghiên cứu 30
4.2 Đặc điểm lý hóa học của đất trong 2 vụ canh tác đậu xanh 33
4.2.1 Tính chất vật lý của đất 33
a. Dung trọng 33
b. Tỉ trọng 34
c. Độ xốp 36
4.2.2 Tính chất hóa học của đất 37
a. pH 37
b. EC 39
c. Chất hữu cơ 40
Tổng Lân
DANH SÁCH BẢNG Bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Dung trọng đất (Taylor và ctv., 1966)
15
2.2
Các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau có tỉ trọng khác nhau
16
2.3
Thành phần dinh dưỡng của phân xỉ thép
19
3.1
Liều lượng phân bón lót cho các nghiệm thức 1, 2, 3, 4 và 5
25
3.2
Liều lượng phân bón thúc cho 5 nghiệm thức
26
3.3
Hàm lượng dinh dưỡng (kg/ha) cho 5 nghiệm thức
26
3.4
Số lượng mẩu cần thu cho mỗi vụ đậu
3.1
Mô hình bố trí thí nghiệm
24
4.1
Dung trọng của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và Hè-Thu
34
4.2
Tỉ trọng của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và Hè-Thu
35
4.3
Độ xốp của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và Hè-Thu
36
4.4
Giá trị pH của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và Hè-Thu
37
4.5
Giá trị EC của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và Hè-Thu
39
4.6
Hàm lượng chất hữu cơ của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và
Hè-Thu
40
4.7
Hàm lượng đạm tổng số của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và
Hè-Thu
42
4.8
Hàm lượng lân tổng số của đất trồng đậu xanh cuối vụ Xuân-Hè và
Hè-Thu
43
lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông
nghiệp và môi trường sống, đây là điểm bất cập lớn nhất trong việc canh tác nông
nghiệp ở Việt Nam.
Theo Võ Thị Gương và ctv. (2004), nếu thâm canh liên tục và chỉ bón phân vô
cơ không chú ý bón phân hữu cơ thì trong vòng 20 - 50 năm đất sẽ bạc màu, mất cấu
trúc, rời rạc và năng suất cây trồng giảm mạnh. Việc bón phân chua sinh lý trong thời
gian dài có thể làm cho đất bị chua hóa, mất chất kiềm và có thể bị xi măng hóa. Thêm
vào đó việc độc canh một giống cây trồng nào đó trong thời gian dài cũng làm cho chế
độ dinh dưỡng trong đất bị mất cân đối vì mỗi loại cây trồng thường chỉ hút nhiều
những chất dinh dưỡng nhất định và ít hút các dưỡng chất khác.
Năng xuất đậu xanh vẫn ở mức trung bình đến thấp với việc sử dụng các loại
phân bón thông thường. Đậu xanh cũng như nhiều loài cây trồng khác là rất mẫn cảm
với điều kiện ngoại cảnh, muốn nâng cao năng suất ngoài việc nắm chắc các đặc điểm
2
sinh trưởng của cây đậu cần phải có sự tác động của các biện pháp kĩ thuật canh tác
thích hợp. Trong đó bón phân đóng một vai trò quan trọng. Để năng cao năng suất đậu
xanh chúng ta cần thay đổi loại và lượng phân bón.
Nhằm phục vụ cho nhu cầu canh tác và sử dụng phân bón ngày càng rộng rãi,
phân xỉ thép đã ra đời. Đây là một loại phân bón hoàn toàn mới xuất xứ từ Nhật Bản,
được tạo ra bởi quá trình tái chế các sản phẩm gia công (rỉ sắt, là chất độn trong phân
bón) tạo nên một loại phân trung – vi lượng để bón cho cây trồng. Là loại phân ít tan
trong nước, được sử dụng để bón lót cho cây trồng với khối lượng lớn. Chúng bổ sung
những vi chất thiết yếu cho cây, tuy nhiên hàm lượng các chất xỉ thép khá cao có thể
gây nên những biến đổi về tính chất lí hóa của đất mà chúng ta khó có thể dự đoán
được chính xác nếu không có một nghiên cứu nào về vấn đề này vì đây là loại phân
bón hoàn toàn mới lạ đối với người dân Việt Nam.
Hơn nữa, ảnh hưởng loại phân bón xỉ thép này kết hợp với phân NPK lên năng
suất đậu xanh và môi trường đất đang còn bước đầu cần nghiên cứu. Do đó đề tài:
đất nông nghiệp chiếm 789,89 ha, có 2.653 hộ với 11.484 nhân khẩu, kinh tế chủ yếu là
sản xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu người là 19 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ
nghèo khá cao 333/2.653 hộ, chiếm tỷ lệ 12,55%. Chính vì vậy Mỹ Khánh được chọn
là 1 trong 34 xã điểm để xây dựng nông thôn mới của tỉnh.
Hình 2.1 Bản đồ hành chính TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL), một phần nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên; có biên giới Việt Nam –
Campuchia.
4
An Giang có diện tích tự nhiên 3536,76 km
2
bao gồm 11 đơn vị hành chính: 1
thành phố, 1 thị xã và 9 huyện.
Phía Bắc Tây Bắc giáp Campuchia dài 104km. Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang
69,789km, Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44,734km, Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107,628km
Điểm cực Bắc trên vĩ độ 1057 (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩ
độ 1012 (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 10446 (xã Vĩnh
Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 10535 (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ
Mới) (Hồ Trần Phúc Huy, 2013).
Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam 86km và Đông Tây 87,2km.
2. 1.2 Điều kiện địa lý
Vĩ độ địa lý của An Giang nằm trong khoảng 10 - 11 vĩ bắc, tức là nằm gần với
xích đạo, nên các quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với
khí hậu xích đạo (Hồ Trần Phúc Huy, 2013).
2.1.3 Điều kiện hoàn lưu khí quyển
An Giang chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió là: Gió mùa Tây Nam và gió mùa
Đông Bắc. Gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa. Gió mùa Đông Bắc thổi vào
hơi lớn, bình quân 110mm/tháng (vào tháng 3 có tới 160mm). Trong mùa mưa, lượng
bốc hơi thấp hơn, bình quân 85mm/tháng, nhỏ nhất khoảng 52mm/tháng xuất hiện vào
tháng 9 hoặc tháng 10, là thời kỳ có mưa nhiều, độ ẩm cao (Hồ Trần Phúc Huy, 2013).
c. Gió
Gió: An Giang, mùa khô gió thịnh hành là Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây
Nam – gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất. Tốc độ gió ở đây tương đối
mạnh, trung bình đạt tới trên 3m/giây. Trong năm, tốc độ gió mùa hè lớn hơn mùa
đông. An Giang là tỉnh nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng gió bão.
Mây: Lượng mây ở An Giang tương đối ít. Trong mùa khô, có khi trời có mây
nhưng vẫn nắng. Trong mùa mưa, lượng mây thường nhiều hơn. Lượng mây trung bình
tháng của các tháng mùa khô là 3,1/10 và của các tháng mùa mưa là 6,9/10 (Hồ Trần
Phúc Huy, 2013).
d. Đặc điểm nhóm đất
An Giang là một tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, là một trong những tỉnh có
diện tích đất canh tác lớn nhất trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Tổng
diện tích đất nông nghiệp là 246,821 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm hơn 82%. Đất An
Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng. Mỗi
một vùng trầm tích trong môi trường khác nhau sẽ tạo nên một nhóm đất khác nhau,
với những thay đổi về chất đất, địa hình, hệ sinh thái và tập quán canh tác
(www.angiang.gov.vn).
2.2 Sơ lược về cây đậu xanh
Theo Nguyễn Mạnh Chính & Nguyễn Mạnh Cường (2008) cây đậu xanh (Vigna
radiata (L.) R. Wilczek), thuộc họ đậu (Leguminosae) là cây trồng cạn ngắn ngày, là
cây thực phẩm quan trọng ở nước ta và nhiều nước trên thế giới. Sản phẩm được sử
dụng của cây đậu là hạt. Thành phần hạt đậu xanh gồm protein, hydrat carbon, các
vitamin và nhiều khoáng chất. Hàm lượng protein khoảng 24,5% . Protein của đậu
6
xanh chứa đầy đủ các axít amin cần thiết không thay thế có vai trò rất quan trọng trong
hình tăng vụ luân canh cây trồng. Ở nước ta hiện nay đậu xanh vẫn để tiêu thụ nội địa,
lượng chế biến xuất khẩu không đáng kể (Nguyễn Mạnh Chính & Nguyễn Mạnh
Cường, 2008).
7
2.2.1 Đặc tính thực vật học
Theo Nguyễn Mạnh Chính & Nguyễn Mạnh Cường (2008) cây đậu xanh là loại
cây thân thảo dạng mộc đứng, cao trung bình 40 - 60 cm. Thân nhỏ, tròn, có lông, chia
nhiều đốt, từ các đốt mọc ra các cành, trung bình có 1 - 5 cành. Rễ cọc, rễ gồm rễ cái
và các rễ phụ, rễ ăn nông phần lớn ở tầng đất mặt với độ sâu khoảng 20 cm. Bộ rễ phát
triển liên tục từ khi cây mọc đến khi ra hoa, kết quả. Trên rễ có nhiều nốt sần chứa vi
khuẩn cố định đạm Rhizobium. Các nốt sần trên rễ bắt đầu hình thành khi cây có 2 - 3
lá thật và đạt tối đa khi cây ra hoa rộ. Trên mỗi cây có khoảng 10 - 20 nốt sần, tập
trung chủ yếu ở cổ rễ. So với đậu tương và đậu phộng thì nốt sần của cây đậu xanh ít
và nhỏ hơn.
Lá kép gồm 3 lá chét, mọc đối nhau ở 2 bên cành. Cả 2 mặt lá đều có lông màu
xanh đậm hoặc xanh vàng. Sau khi mọc 1 - 2 ngày thì lá sò xòe ra, sau 7 - 8 ngày hình
thành lá thật.
Hoa mọc thành chùm ở nách lá màu vàng tươi. Là loại hoa lưỡng tính, tự thụ
phấn. Thường sau khi mọc 18 - 20 ngày mầm hoa hình thành, sau 35-40 ngày thì nở
hoa. Trong một chùm hoa từ khi hoa đầu tiên nở đến hoa cuối cùng kéo dài 10 - 15
ngày. Hoa nở được 24 giờ thì tàn, sau khi nở hoa và thụ tinh khoảng 20 ngày là quả
chín.
Quả là loại quả giáp hình trụ, dài 8 - 10 cm, có 2 gân nổi rõ dọc 2 bên quả, khi
chín vỏ quả màu xanh xám, gặp nắng nóng dễ bị tách vỏ. Một cây trung bình có 20 - 30
quả, mỗi quả có 5 - 10 hạt. Hạt hình tròn màu xanh mốc, ruột hạt màu xanh vàng.
Trọng lượng 1000 hạt từ 50 - 70 g.
Phần lớn các giống đậu xanh được trồng hiện nay có thời gian sinh trưởng từ 65
- 75 ngày, năng suất trung bình 1,0 - 1,5 tấn/ha (Nguyễn Mạnh Chính & Nguyễn Mạnh
xấu, nghèo dinh dưỡng rất cần đạm. Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, thân cành nhỏ, lá
nhỏ và kém xanh tươi, Tuy nhiên cũng không nên bón đạm nhiều vì đã được vi khuẩn
cộng sinh cung cấp thêm một lượng khá lớn. Bón nhiều đạm có thể làm yếu hoạt động
của vi khuẩn.
Vai trò của lân (P) rất quan trọng. Ở những vùng đất nhiệt đới khí hậu nóng ẩm
và mưa nhiều lân thường bị rửa trôi, bón lân làm tăng năng suất đậu rõ rệt. Lân còn
giúp cho vi khuẩn cộng sinh hoạt động tốt hơn. Thiếu lân cây chậm lớn lá có màu xanh
tối, mép lá biến vàng, bộ rễ phát triển kém cây chậm ra hoa và chín muộn.
Kali (K) làm hạt mẩy, tăng chất lượng hạt, giúp cây cứng cáp, chống đổ ngã và
tăng khả năng chống chịu sâu bệnh.
Các chất trung lượng như lưu huỳnh (S), canxi (Ca), magiê (Mg) là những yếu
tố dinh dưỡng quan trọng với cây đậu xanh.
Các chất vi lượng như đồng (Cu), sắt (Fe), mangan (Mn), Bo (B), Molipden
(Mo)…nói chung cũng rất cần nhưng thường không thiếu do có trong đất và các loại
phân bón. Tuy vậy để cây sinh trưởng phát triển tốt cũng nên bổ sung các loại phân
bón lá có vi lượng.
2.2.3 Thời vụ trồng đậu xanh
Nói chung với điều kiện khí hậu nước ta cây đậu xanh có thể trồng được quanh
năm. Riêng miền Bắc nên tránh những tháng lạnh nhất của mùa đông (tháng 1-2). Ở
miền Nam tránh khi quả chín vào những tháng mưa nhiều (tháng 9-10) (Nguyễn Mạnh
Chính & Nguyễn Mạnh Cường, 2008).
9
Trong phạm vi cả nước có 3 thời vụ gieo đậu chính là:
Vụ Xuân: gieo từ 20/2-20/3
Vụ Hè: gieo từ 20/5-20/6
Vụ Thu Đông: gieo từ 20/8-20/9
2.2.4 Phân bón cho đậu xanh
Theo Nguyễn Mạnh Chính & Nguyễn Mạnh Cường (2008) thì liều lượng phân
15 ngày sau khi gieo) và khi cây bắt đầu ra hoa. Phân bón thúc rải theo hàng kết hợp
xới đất, vun gốc hoặc hòa nước tưới.
Phân đạm thường dùng là urê (46% N), phân lân là super lân (18% P
2
O
5
) và
clorua kali (KCl 60% K
2
O).
Theo công thức bón của TTNCNN Hưng Lộc như trên thì lượng các loại phân
khoáng cần cho 1 ha là 65 kg urê (30 kg N), 277kg super lân (50 kg P
2
O
5
) và 83 kg
KCl (50 kg K
2
O) (Nguyễn Mạnh Chính & Nguyễn Mạnh Cường, 2008). 10
2.3 Các tính chất lí hóa học của đất
2.3.1 pH
Độ chua của đất ảnh hưởng đến nhiều tiến trình xảy ra trong đất. Nhiều phản
ứng hóa học và sinh học chỉ xảy ra ở một khoảng pH nhất định. Tốc độ phân hủy chất
hữu cơ và hòa tan khoáng sét cũng bị ảnh hưởng bởi pH đất. Sự tạo thành các loại
khoáng sét cũng tùy thuộc pH. Sự sinh trưởng của cây trồng cũng bị ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp bởi pH của đất. pH ảnh hưởng đến độ hòa tan và dạng hữu dụng của
Ca
2+
và Mg
2+
, liên kết với các anion Cl
-
, SO
4
2-
, một ít CO
3
2-
và HCO
3
-
(Ngô Ngọc
Hưng, 2004).
Đất mặn (Saline soil) khi EC của dung dịch trích bảo hòa >4 mS/cm. Đất phèn
có Mn
2+
, Al
3+
, Fe
2+
, cao trong thành phần muối tan cũng gây nên EC của đất cao. Đơn
vị đo EC là mS/cm (hoặc mmho/cm) (Ngô Ngọc Hưng, 2004).
Hàm lượng muối cao trong đất ảnh hưởng đến khả năng hút nước của rễ cây
trồng. Đất nhiễm mặn với hàm lượng Na cao gây phá hủy cấu trúc của đất. Đất phèn
với hàm lượng muối Fe, Al cao gây độc cho cây trồng (Ngô Ngọc Hưng, 2004).
Đất mặn thường chứa một lượng lớn muối hòa tan trong dung dịch, những muối
và thành phần chất hữu cơ đã phân hủy. Thành phần chất hữu cơ bán phân hủy có vai
trò quan trọng về mặt lí học đất như làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp của đất, tăng
cường cấu trúc của đất…tuy nhiên xét về mặt hóa học đất, thành phần này không quan
trọng do ít ảnh hưởng đến các đặc tính hóa học đất.
Thành phần chất hữu cơ phân hủy có nguồn gốc chủ yếu từ xác bả thực vật, có
vai trò rất quan trọng về mặt hóa học đất, được gọi một cách chính xác là chất mùn của
đất. Chất mùn của đất không đơn thuần được hình thành từ sự phân hủy các chất hữu
cơ mà được hình thành từ cả 2 tiến trình: Sự phân hủy chất hữu cơ và sự mùn hóa trong
đất (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2012).
Theo Ngô Ngọc Hưng (2004) các hợp chất mùn được tổng hợp trong tiến trình
mùn hóa từ các sản phẩm phân hủy của lignin và các hợp chất nitrogen sản sinh trong
quá trình phân hủy chất hữu cơ. Các hợp chất mùn bao gồm humic, acid humic và acid
fulvic.
12
Chất hữu cơ trong đất bao gồm các nguyên tố chính là C, H, O, N, S, P và một
hàm lượng rất thấp các nguyên tố vi lượng. Vì vậy chất hữu cơ được xem là yếu tố
quan trọng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng là yếu tố làm tăng lượng và chất của
CEC, tăng kết cấu đất, cải thiện tính chất vật lí của đất và khả năng giữ ẩm của đất. Sự
tích lũy của chất hữu cơ ở dạng mùn trong đất là do hoạt động của vi sinh vật, thực vật
cũng như phân bón hữu cơ (Ngô Ngọc Hưng, 2004).
Theo Lê Thanh Bồn (2009), chất hữu cơ là một bộ phận cấu thành đất, là
nguyên liệu để tạo nên độ phì nhiêu của đất, là phần quý giá nhất của đất, là kho dự trữ
dinh dưỡng cho cây trồng. Số lượng, thành phần và tính chất của chất hữu cơ có ảnh
hưởng lớn đến quá trình hình thành đất và các tính chất lý, hóa, sinh học xảy ra trong
đất.
Sự tích lũy chất hữu cơ ở dạng mùn trong đất là do hoạt động của vi sinh vật,
thực vật cũng như bón phân hữu cơ. Hàm lượng, thành phần mùn quyết định hình thái
và các tính chất vật lý, hóa học, độ phì của đất (Ngô Ngọc Hưng, 2004).
-
và HPO
4
2-
là những dạng lân được sử dụng làm chất dinh dưỡng cho
thực vật. Về phương diện dinh dưỡng thực vật có thể chia lân trong đất thành các dạng
sau: Lân hòa tan trong dung dịch đất, lân có thể huy động được và lân khó tan (Trần Sỹ
Nam, 2011)
Lân là một trong số nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng. Lân tổng số
sẽ ảnh hưởng đến lượng lân hữu dụng cho cây trồng hút thu. Tuy nhiên, độ hữu dụng
của lân phụ thuộc và nhiều yếu tố: pH của đất, sự phân hủy chất hữu cơ, hoạt động của
vi sinh vật. Hàm lượng lân tổng số trong đất thay đổi đáng kể theo loại đất và vùng đất.
Hàm lượng lân tổng số không phản ánh lượng lân hữu dụng trong đất đối với cây
trồng. Lân được cây hút thu ở dạng các ion vô cơ như: H
2
PO4
-
, HPO
4
2-
được gọi là lân
hữu dụng (Trần Sỹ Nam, 2011).
2.3.6 Sắt
Sắt (Fe) là một nguyên tố dinh dưỡng đối với cây trồng. Nếu trong đất thiếu sắt
di động cây trồng phát triển kém. Ngược lại nếu sắt di động cao cây trồng phát triển
kém do sắt giữ chặt một số anion như photphat hoặc tạo ra các hợp chất như FeS gây
khó khăn cho hô hấp bộ rễ. Sắt đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành kết cấu đất,
trong việc điều hòa chế độ lân của đất vùng nhiệt đới đặc biệt với đất lúa ngập nước
(Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1997).
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, sự tích lũy Fe trong đất là một quy luật tất
khoáng, thành phần cơ giới, hàm lượng chất hữu cơ, cấu trúc và kỹ thuật làm đất. Độ
tơi xốp của đất thường cao nhất khi làm đất, sau đó bị nén dẽ dần và dung trọng tăng
lên, sau một thời gian dung trọng sẽ đạt cân bằng và không thay đổi, đất có dung trọng
thích hợp nhất cho cây là 1,0 – 1,1 g/cm
3
(Võ Thị Gương và ctv., 2004)
Dung trọng đất là một đặc tính quan trọng, được sử dụng để đánh giá độ phì của
đất về mặt vật lí (như tình trạng nén dẽ, độ xốp, độ thấm) và hóa học (như ước lượng
hàm lượng tương đối chất hữu cơ trong đất và điều kiện đất có được thoáng khí hay
không). Ngoài ra dung trọng có liên quan đến sự giữ nước, trao đổi không khí, phát
triển của bộ rễ, các tiến trình sinh học. Dung trọng cùng với các thông số quan trọng
khác phản ánh sự suy thoái của đất và đánh giá mức độ bạc màu của đất (Nguyễn Mỹ
Hoa và ctv., 2012).
Đất canh tác thông thường có dung trọng 0,9–1,2 (Taylor và ctv., 1966). Tầng
đất có dung trọng càng lớn thì đất càng có nguy cơ nén dẽ mạnh, khả năng trao đổi
nước và không khí kém, rễ cây khó xuyên qua. Dung trọng của đất thay đổi theo chế độ
canh tác và tác động của môi trường (Ngô Ngọc Hưng, 2004).
Theo Lê Văn Khoa (2004), giá trị dung trọng bình quân của đất thịt có canh tác
biến động trong khoảng 1,1 – 1,4 g/cm
3
. Để cây trồng phát triển tốt dung trọng nên giới
hạn trong khoảng 1,1 – 1,4 g/cm
3
với đất cát. Dung trọng cũng được tính toán tổng
lượng nước có thể bị giữ bởi đất theo một thể tích nào đó và cũng để đánh giá khả năng
phát triển hệ thống rễ cây trồng và độ thoáng khí của đất.
Dung trọng của đất phụ thuộc vào 3 yếu tố như tỷ trọng, ngoài ra còn phụ thuộc
vào kết cấu và độ xốp của đất. Các loại đất tơi xốp thường có dung trọng nhỏ và ngược
lại những đất bí chặt, kém tơi xốp thì dung trọng lớn (Lê Thanh Bồn, 2009).
Như vậy dung trọng của đất phụ thuộc vào cấp hạt cơ giới, độ chặt và kết cấu