TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BÓ CỦA NHỆN (ARANEAE) HOẠT
ĐỘNG TRÊN MẶT ĐẤT TẠI VƯỜN QUÓC GIA CÚC PHƯƠNG, TỈNH NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Động vật học
Ngưòi hướng dẫn khoa học TS. PHẠM
ĐÌNH SẮC
HÀ NÔI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường cho đến khi hoàn thảnh khóa luận này em đã nhận
được sự giúp đỡ từ các thày cô, bạn bè và gia đình rất nhiều. Để có được kết quả như hôm nay, em
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
TS. Phạm Đình sắc công tác tại phòng Sinh thái môi trường đất - Viện Sinh thái và tài nguyên
sinh vật đã dành nhiều thời gian để hướng dẫn tận tình, cung cấp nhiều tài liệu, kiến thức quý báu,
kinh nghiệm, phương pháp cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Sinh- KTNN- trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Lãnh Đạo Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, các anh chị
Phòng Sinh thái môi trường đất đã tạo điều kiện và giúp đõ em trong suốt quá trình thực hiện khóa
luận.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ở bên động viên, chia sẻ
những khó khăn giúp em yên tâm hoàn thành và đạt được kết quả trong quá trình học tập của mình.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do điều kiện hạn hẹp về thòi gian và do sự hạn chế về kiến
thức của bản thân nên em không tránh khỏi những thiếu sót khi hoàn thành bài khóa luận. Vì vậy
em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để Đề tài của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2015 Sinh viên thực
hiện
7 PLE Măt bên phía sau
MỤC LỤC
1.1.1.
_ r
Khóa luận tôt nghiệp
1.1.2.
1.1.3.
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tôt nghiệp
1.1.4. PHẦN MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.5. Nhện (Araneae) là một ừong những nhóm động vật chân khớp cổ có
tính đa dạng sinh học cao, đã được ghi nhận xuất hiện trên Trái Đất cách đây khoảng
400 triệu năm. Nhện phân bố rộng khắp và chiếm ưu thế vầ số lượng loài cũng như số
lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện. Nhện không chỉ đa dạng về số lượng
thành phần loài mà nơi cư trú cũng rất phong phú, chúng được tìm thấy ở mọi nơi,
như trong nhà, trong rừng, vườn cây, công viên, bụi cây, hang động, sa mạc
1.1.6. Nhện còn được coi như sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh
thái của các khu hệ có điều kiện môi trường khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của
môi trường lên hệ sinh thái. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Clause I.H.S.,
1986, Foelix R., 1996, Jean - Pierre Maelfaitl, 1997[6]
1.1.7. Các loài Nhện lớn góp phần tích cực vào việc hạn chế sự phát triển của
côn trùng gây hại trên các cây trồng nông nghiệp. Con mồi của nhện là nhiều loài côn
trùng và sâu hại như rệp, rày các loại, ruồi đục quả, bọ nhảy, châu chấu ăn lá, sâu non
và trưởng thành các loài thuộc bộ Cánh vảy,
1.1.8. Theo Barrion and Litsinger (1995)[1], bộ nhện (Araneae, Arachnida)
được xếp vào trong nhóm động vật có sự biến động mật độ cao và độ đa dạng đứng
thứ bảy thế giới. Các nghiên cứu hệ ĐVKXS nói chung và nhện nói riêng ở các khu
bảo tồn, VQG đang ngày trở nên quan ừọng dù chỉ mới phát triển bước đầu và tiến
hành ở mức kiểm kê. Những khảo sát khu hệ nhện Việt Nam của nhiều tác giả trong
nước và ngoài nước còn khá hạn chế và chủ yếu tập trung vào liệt kê danh sách thành
1.1.15. Các kết quả thu được của đề tài làm cơ sở góp phần bảo vệ tính đa
dạng sinh học, sự cân bằng trong các hệ sinh thái ở khu vực nghiên cứu nói riêng và ở
Việt Nam nói chung.
1.1.16.
_r
1.1.17.Khóa luận tôt nghiệp
2.3. Điểm mới của đề tài
1.1.18. Cho đến nay có rất ít các nghiên cứu
về thành phần loài nhện ở Vườn quốc gia Cúc
Phương. Đề tài này lần đầu tiên nghiên cứu về
nhóm nhện hoạt động trên mặt đất của khu vực
nghiên cứu. Đề tài sẽ khám phá, phát hiện các
ghi nhận mới về nhóm nhện cho khu vực nghiên
cứu nói riêng và Việt Nam nói chung.
1.1.19.
_r
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tôt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 40 K37C Sinh - KTNN
1.1.20.Khóa luận tôt nghiệp
1.1.21.CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giói thiêu về nhên
1.1.22. « •
1.1.23. Tên khoa học:
Araneae Tên tiếng Anh:
Spider Tên Việt Nam:
Nhện
1.1.24.Bộ Nhện (Araneae) thuộc lóp hình nhện (Arachinida), ngành động vật
Chân đốt (Arthropoda). Bộ nhện chiếm ưu thế về số lượng loài và số lượng cá thể
trong 11 bộ của lớp hình nhện (bao gồm: Acarina, Amblypygi, Araneae, Opiliones,
Palpigradi, Pseudoscorpiones, Ricinulei, Schizomida, Scopionoides, Solifugae,
theo thứ tự từ trước ra sau là I, II, III và IV. Mỗi chân gồm bảy đốt: háng (coax) nối liền
với ngực, chuyển (trochanter), đùi (femur), gối (patella), cẳng hay ống (tibia), bàn trong
hay đốt bàn (metatasus) và bàn ngoài hay đốt cổ chân (tarsus). Thông thường đốt bàn
ngoài mang hai hoặc ba móng vuốt (mấu nhọn) (claws) tùy theo loài, nếu có ba vuốt thì
hai trong số ba vuốt tạo thành một đôi và vuốt còn lại nằm ở giữa. Các vuốt có thể không
có răng lược hoặc có răng lược để kéo tơ.
1.1.31. Việc phân loại nhện chỉ tiến hành ừên nhện trưởng thành, đặc điểm cơ bản
nhất sử dụng trong phân loại là xúc biện của con đực và bộ phận sinh dục của con cái.
1.1.2. Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện
1.1.32. Theo Foelix (1996) [6] nhện phát triển biến thái không hoàn toàn qua 3 giai
đoạn: trứng - con non - nhện trưởng thành. Nhện non phải qua nhiều lần lột xác mới
trưởng thành và hình thành bộ phận sinh dục đực và cái. về kích thước cơ thể thì nhện cái
thường lớn hơn nhện đực. Vòng đời của nhện có thời gian phát dục khác nhau tuỳ từng
loài. Nhện đực khi đến tuổi thảnh thục thường ngừng tìm kiếm thức ăn và chuyên tâm vào
việc tìm kiếm bạn đời. Tinh dịch của nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực. Nhện
đực chuyển túi tinh cho nhện cái và bị chết do chính nhện cái ăn thịt. Sau giao phối nhện
cái đẻ trứng thành ổ và bao bọc ổ trứng bằng tơ nhện do chính mình tạo ra. Trứng của mỗi
loài có sự khác nhau về số lượng và kích thước. Bọc trứng thường được treo trên lưới
nhện, dính chặt vào bờ tường, hốc cây, phiến lá (họ Clubionidae), hoặc được nhện mẹ
mang gần cuối bụng (một số loài thuộc họ nhện sói Lycosidae). Nhện mẹ canh giữ trứng
và con mới nở cho đến khi chúng đủ cứng cáp, có khả năng phân tán. Nhện con mới nở
thường tập trung trong ổ trứng. Khi thời tiết lạnh, các loài nhện trong vườn cây ăn quả
thường
1.1.33. tìm nơi trú ẩn để qua đông ở các vị trí ít bị tác động của các yếu tố môi
trường như khe hở tách ra từ vỏ của thân cây hoặc vỏ cành cây (Foelix R.F., 1996). Dựa
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tất nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K37C Sinh - KTNN
trên tập tính săn mồi, nhện được chia làm hai nhóm lớn: nhện chăng lưới bắt mồi và nhện
săn mồi tự do không chăng lưới. (Nguyễn Văn Huỳnh (2002) [32].
1.1.34.Nhện chăng lưới bắt mồi vào ban ngày thường săn mồi hay rình mồi trên
nhện đực trưởng thành loài Plexippus paykulli tiêu diệt
10,2 con rệp trong 1 ngày đêm, nhện cái trưởng
thành loài Plexỉppus paykulli tiêu diệt 12,4 con rệp
trong 1 ngày đêm. Điều này cho thấy khả năng săn
mồi của nhện không chỉ phụ thuộc vào loại thức ăn
mà còn chịu ảnh hưởng của số lượng con mồi. Khi số
lượng con mồi tăng cao, nhện có thể ăn nhiều hơn
bình thường nhằm hấp thu đầy đủ năng lượng, đẩy
nhanh và rút ngắn quá trình tăng trưởng của nhện.
Ngoài ra, việc ăn nhiều cũng giúp cho nhện dự trữ
năng lượng lớn phòng khi gặp điều kiện bất lợi về
thức ăn chúng vẫn có thể duy trì sự sống. Việc
khan hiếm thức ăn là một trong những nguyên nhân
làm giảm thành phần loài nhện. Loài nhện nào có kĩ
năng săn mồi tốt hoặc dự trữ và tích lũy được
nhiều năng lượng để chịu đói được trong thời gian
dài thì sẽ sống sót và ngược lại. Rod & Ken (1998)
[17] cho rằng: khi săn mồi nhện tiêu tốn rất nhiều
năng lượng nhưng chúng lại có khả năng nhịn đói
trong suốt một tuần. Điều này giúp chúng có thể
sống được ở những nơi có môi trường sống khắc
nghiệt. Đây cũng chính là lí do nhện phân bố rộng
khắp trên nhiều hệ sinh thái. Bổ sung thêm dẫn
liệu cho những nghiên cứu về vai trò của nhện
trong việc phòng trừ tổng họp sâu hại trên cây
trồng nồng nghiệp, Song và Zhu (1999) [19] đã đưa
ra nhận xét, so với côn trùng ký sinh và các loài
thiên địch khác nhện có nhiều ưu thế hơn. Thứ
nhất, nhện có kích thước quần thể lớn.Thứ hai,
nhện là loài phàm ăn.Thứ ba, nhện xuất hiện trên
ra tên của bộ nhện là Araneae, Clerek cũng đã đưa ra tên của bộ nhện là Aranei.Đến năm
1801, Laừeille đặt tên bộ nhện là Araneida.Năm 1862, Dalllas cũng nêu ra tên của bộ nhện
là Araneida. Năm 1938, Bristowe đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và tên này được sử
dụng tới ngày nay (Platnick, 2012) [24].
1.1.41. Nhận thức rõ tầm quan ừọng của các loài nhện ừong khoa học cũng như
trong thực tiễn đời sống, năm 1965 một tổ chức với tên gọi là Hội nhện Quốc tế
(International Society of Arachnology) đã được thành lập, cho tới nay đã có hàng nghìn
thành viên từ trên 70 quốc gia khác nhau trên thế giới.Với sự phát triển không ngừng của
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tất nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K37C Sinh - KTNN
các công trình nghiên cứu về nhện, môn khoa học mới đã được ra đời là Arachnology -
Nhện học từ sau hội nghị nhện quốc tế lần thứ XV năm 2001.
1.1.42. Được bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 18 (theo tác giả Barrion &
Litsinger, 1995) [1] nhưng thế kỷ 19 và đàu thế kỷ 20 mới là giai đoạn có hàng loạt các
nghiên cứu chi tiết cũng như các công trình công bố loài mới ngày càng nhiều, được đánh
giá là thời kỳ hoàng kim của phân loại học về nhện.
1.1.43. Doíòur - tác giả người Pháp, được cho là người đầu tiên sử dụng các hình
vẽ chi tiết về hình thái học của nhện để mô tả so sánh, ghi nhận loài mói với 12 bài báo có
giá trị công bố loài mới từ năm 1820 đến 1831.
1.1.44. Blackwall, một trong những cha đẻ của ngành nhện học, có nhiều công
trình quan trọng đến họ Araneidae, một họ lớn của bộ nhện có nhiều đại diện ở vùng nhiệt
đới. Đặc biệt vào năm 1841, ông là người đầu tiên đề nghị sử dụng mắt nhện để định loại
đến loài, đặc điểm phân loại mà những nhà khoa học trước đó chưa có ai đề cập đến.
1.1.45. Theo thống kê gần đây nhất của Platnick (2014) [16], trên thế giới hiện nay
đã ghi nhận được 44.906 loài thuộc 3.935 giống của 114 họ nhện.
1.1.46.Ở khu vực Đông và Đông Nam Á, từ năm 1841, Walokenaer đã mô tả chi
tiết 22 loài nhện chăng lưới thuộc 2 giống: Epeừa (11 loài) và Plectanna (11 loài) của 2 họ
Araneidae và Tetragnathidae ở Philippine trong 2 quyển của bộ “ Historỉe Naturelle des
Insects Aptères ”, Tiếp theo đó các công trình nghiên cứu khu hệ nhện ở các quốc gia
khác: Nhật Bản (Karsch 1897, Kishida 1913-1914); Malaysia (Pocock 1892, Thorell
loài Nhện nhảy, trong đó có 51 loài và 8 giống mới cho khoa học. Phân tích các mẫu vật
thu được ở Việt Nam, Ono (1997, 1999, 2002, 2003) [10, 11, 12,13, 14] đã phát hiện 7 loài
nhện mới cho khoa học thuộc các họ Zodaridae và Liphistidae.
1.1.53. Phạm Đình sắc và Khuất Đăng Long (2001) [34] đã công bố thành phần
loài nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh Hà Nội, Hoà Bình và Bắc Ninh bao gồm 26 loài thuộc 9
họ nhện.
1.1.54. Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tất nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K37C Sinh - KTNN
được công bố. Phạm Đình sắc và Vũ Quang Côn (2002) [35] đã ghi nhận được 34 loài
nhện trên cây vải thiều ở Sóc Sơn - Hà Nội, 29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh - Hà
nội. Thái ừần bái và cs (2005) [38] đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải thiều ở
Thanh Hà, Hải Dương.
1.1.55. Kết quả nghiên cứu nhện trên cánh đồng lúa ở Việt Nam đã có nhiều công
trình công bố. Trên đồng lúa ở Nghệ An đã phát hiện được 26 loài thuộc 18 giống của 8 họ
nhện (Phạm Bình Quyền và cộng sự, 1999). Theo Phạm Văn Lầm và cộng sự (1997,
2002), cho đến nay đã thu thập và xác định được 52 loài nhện trên đồng lúa ở Việt Nam.
1.1.56. Trong vòng hai năm 2004 - 2005, Phạm Đình sắc và cs đã cho công bố
danh sách và phân bố của 113 loài nhện nhảy họ Salticidae cho khu hệ nhện Việt Nam.
1.1.57. Gần đây khi nghiên cứu nhện tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng tỉnh Quảng
Bình, tác giả Phạm Đình sắc đã chỉ ra rằng khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều điều mới
lạ, cần khám phá (Phạm Đình sắc và cs, 2011).
1.1.58. Khu hệ nhện rừng ngập mặn mới chỉ được nghiên cứu trong một vài năm
gần đây, giới hạn trong một vài địa điểm rừng ngập mặn phía Nam Việt Nam (Cồn Trong -
Cà Mau, Cù Lao Dung - Sóc Trăng, VQG Tràm Chim) (Nguyễn Trần Thụy Thanh Mai và
cs, 2013) [31].
1.1.59. Năm 2009, sáu loài nhện mới được phát hiện tại hai VQG Cúc Phương tỉnh
Ninh Bình và Cát Bà tinh Hải Phòng (Lin &Pham& Li, 2009). Năm 2010, thêm 1 loài
nhện mới được phát hiện tại VQG Cát Bà Hải Phòng (Liu, Li &Pham, 2010) [25].
1.1.60. Trước đó, tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình sắc (2003) bước đầu đã
một thung lũng chạy dọc gần hết chiều dài của dãy núi.
- Thủy văn: Phần lớn nước ở trong VQG bị hút nhanh chóng bởi một hệ thống các mạch
nước ngầm chằng chịt vốn rất phổ biến ở các kiểu cảnh quan cát-tơ, nước sau đó thường
chảy ra ở những khe nhỏ ở bên hai sườn của VQG. Vì lý do này, không có các ao hồ tự
nhiên hay các thủy vực tĩnh ở trong VQG, mà chỉ có một dòng chảy thường xuyên là sông
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tất nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K37C Sinh - KTNN
Bưởi. Con sông tách cắt ở phía Tây của vườn chảy theo hướng bắc nam và chảy vào sông
Mã là con sông chính của Tỉnh Thanh Hoá (Cục Kiểm lâm. Thông tin về các VQG trực
thuộc) [30].
- Thảm thực vật: VQG Cúc Phương ưu thế bởi rừng trên núi đá vôi. Ở một số vị trí, rừng
hình thành nên nhiều tầng tán có thể đến 5 tầng rõ rệt, trong đó tầng vượt tán đạt đến độ
cao trên 40 m. Do địa hình dốc, tàng tán thường không liên tục và đôi khi sự phân tầng
không rõ ràng. Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh vè để đáp ứng với tầng đất mặt thường
mỏng. VQG Cúc Phương hiện là nơi có nhiều loài cây gỗ lớn như Chò xanh Termỉnalỉa
myrỉocarpa, Chò chỉ Shorea sinensis, và Đăng Tetrameies nudiflora (Nguyễn Nghĩa Thìn,
1997) hiện đang được bảo vệ để thu hút du khách thăm quan. Đây cũng là nơi rất phong
phú về các cây gỗ và cây thuốc.
1.1.65. VQG Cúc Phương có một khu hệ thực vật cực kỳ phong phú. Đến nay, đã
thống kê được 1.960 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 887 chi và 221 họ thực vật trong
vườn, về mặt số lượng loài, các họ giàu loài nhất trong hệ thực vật Cúc Phương là
Euphorbiaceae, Poaceae, Fabaceae, Rubiaceae, Asteraceae, Moraceae, Lauraceae,
Cyperaceae, Orchidaceae và Acanthaceae (Davis et al. 1995) [5]. Tính đa dạng của khu hệ
thực vật Cúc Phương rất cao đã phản ánh mức độ điều tra nghiên cứu rất chi tiết trong thời
gian rất dài trước đây. VQG Cúc Phương cũng được xác định là một trong bảy Trung tâm
Đa dạng Thực vật của Việt Nam (Davis et al. 1995) [5].
- Hệ động vật: Cúc Phương là nơi sinh sống của một vài quần thể thú quan trọng về mặt bảo
tồn, trong đó có phân loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn càu ở mức đe
dọa rất nguy cấp là Voọc quần đùi trắng Trachypithecus delacourỉ và loài sẽ bị nguy cấp
trên toàn cầu là cầy vằn Hemigalus owstoni (CPCP, 1999) [4]. Thêm vào đó, loài Báo hoa
tai tượng), trảng cây bụi.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tất nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K37C Sinh - KTNN
- Thành phần loài nhóm nhện hoạt động trên mặt đất tại VQG Cúc Phương tỉnh Ninh Bình.
- Phân bố của các loài nhện theo sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng keo tai tượng, ừảng cỏ cây
bụi.
- Phân bố của các loài nhện theo mùa: mùa mưa, mùa khô, giữa 2 mùa mưa và mùa khô.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
1.1.75.Phương pháp sử dụng để thu thập các loài nhện hoạt động ừên mặt đất là
dùng bẫy hố (pitfall trap): Bay hố cấu tạo gồm ống nhựa và cốc nhựa. Ống nhựa ngoài
(kích thước 8cm X 14 cm) được chôn ngập xuống đất sao cho bề mặt ống nhựa bằng với
bề mặt nền đất.Cốc trong được lồng vào trong ống nhựa ngoài.Bên cạnh đó, vào mùa mưa
bẫy hố được thiết kế nắp che, để hạn chế nước mưa sẽ vào trong cốc. Trong cốc nhựa này
cho 100ml dung dịch hỗn họp gồm cồn 95%, nước và ethylen glycol theo tỷ lệ 70:15:15.
Ngoài ra, để hạn chế sự bay hơi của hóa chất chúng tôi có sử dụng formol 2% để thay thế
cho hóa chất bên ừong cốc. Phương pháp này để nghiên cứu nhóm nhện sống lang thang
trên mặt đất. Mỗi sinh cảnh chọn 5 điểm thu mẫu, các điểm thu mẫu cách nhau trên 1 km.
Mỗi điểm thu mẫu đặt 15 bẫy hố. Bẩy hố được đặt trong thời gian 1 tháng cho mỗi đợt thu
mẫu, mỗi đợt thu mẫu tương ứng với 1 mùa. Mầu vật được thu 5 ngày 1 lần.
1.1.76.Ngoài ra, thu bắt bổ sung theophương pháp bắt trực tiếp bằng tay
(Searching): Quan sát bằng mắt thường và sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như kẹp, chổi lông,
ống hút để thu bắt nhện.
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tất nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K37C Sinh - KTNN
1.1.77.
2.5.2. Phương pháp xử lý và lưu trữ mẫu
1.1.78. Mẩu thu thập tại địa điểm nghiên cứu sẽ được bảo quản ừong cồn 70%
trong các lọ 100ml có nắp đậy kín gắn thông tin như thời gian, sinh cảnh, người thu và địa
* Độ ưu thế (A) của loài được tính bằng tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể
1.1.84.của một loài so với tổng số cá thể thu được tại một điểm hay một sinh cảnh nghiên
cứu.
1.1.85. A = —100
1.1.86. N
1.1.87. Trong đó : ĩiị: số lượng cá thể loài i
1.1.88. N : Tổng số cá thể thu được của sinh cảnh.
1.1.89. Giá ừị A được phân ra làm 4 mức:
1.1.90. + A > 10%: Loài rất ưu thế tại sinh cảnh nghiên cứu + 5% < A<
10%: Loài ưu thế tại sinh cảnh nghiên cứu + 2% < A < 5%: Loài ưu thế tiềm
tàng tại sinh cảnh nghiên cứu + A < 2%: Loài không ưu thế tại sinh cảnh
nghiên cứu
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tất nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K37C Sinh - KTNN
1.1.91. CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài của nhóm nhện hoạt động trên mặt đất ở khu vực
1.1.92.
ЖГ
• • • о •
•
1.1.93. VQG Cúc Phương
3.1.1. Danh sách thành phần loài
1.1.94. Chúng tôi đã thu thập được 305 cá thể trưởng thành ở khu vực VQG
Cúc Phương, thuộc 36 loài, 28 giống, 9 họ nhện tại 3 sinh cảnh thu mẫu là trảng cây
bụi, rừng keo tai tượng và rừng tự nhiên,
1.1.95. Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện hoạt động
trên mặt
1.1.96.
1.1.5. r ___
1.1.6. đất thu được tại khu vực VQG Cúc Phương, tình Ninh Bình
1.1.33.
8
1.1.34. Castỉaneira quadritaeniata (Simon)(*) 1.1.35.1
1.1.36. III. Họ Lỉnyphỉỉdae
1.1.37.
9
1.1.38. Bathyphantes floralis Tu et Li 1.1.39.10
1.1.40.
10
1.1.41. Prosoponoỉdes sinensis (Chen) 1.1.42.4
1.1.43.
11
1.1.44. Ummeliata insectỉceps (Bösenberg et Sưand) 1.1.45.22
1.1.46.
12
1.1.47. Nasoona crucifera (Thorell) 1.1.48.1
1.1.49. IV. Họ Lycosidae
1.1.50.
13
1.1.51. Hỉppasa hoỉmerae Thorell 1.1.52.5
1.1.53.
14
1.1.54. Pardosa bỉrmanỉca Simon 1.1.55.1
1.1.56.
15
1.1.57. Pardosa pseudoanulata (Boesenberg &
Strand)
1.1.58.24
1.1.59.
16
23
1.1.83. Phintella versicolor (C.L. Koch) 1.1.84.7
1.1.85.
24
1.1.86. Phintella vittata (C.L. Koch) 1.1.87.12
1.1.88.
25
1.1.89. Plexippus setipes Karsch 1.1.90.10
1.1.91.
26
1.1.92. Rhene flavigera{C.L. Koch) 1.1.93.12
1.1.94.
27
1.1.95. Siler lii Peng 1.1.96.12
1.1.97.
28
1.1.98. Telamoniafestiva Thorell 1.1.99.4
1.1.100.
29
1.1.101. Thiania bhamoensis Thorell
1.1.102.
4
1.1.103. VII. Họ Therididae
1.1.104.
30
1.1.105. Coleosoma blandum Cambridge
1.1.106.
8
1.1.107.
31
1
1.1.127. Tdng s6 ca thi 1.1.128.
305
Nguyễn Thị Hường Khóa luận tôt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2 21 K37C Sình - KTNN
1.1.101. Reinhold, Castỉaneira trifasciata Yin et al,Castianeiraquadritaeniata
(Simon), Castianeira shaxianensis Gong, Castianeira inquinata (Thorell). Một loài
định dạng sp, được xác định có thể là loài mới cho khoa học là Theridỉosoma sp thuộc
họ Theradiosomatidae.
3.1.2. Mô tả ỉoài định dạng sp.
1.1.102. Bộ: Araneae
1.1.103. Họ: Theridiosomatidae
1.1.104. Loài: Therỉdỉosoma sp.
1.1.105. Mô tả: Con đực
1.1.106. Giáp mai có màu nâu vàng, quanh vùng fovea màu tối hơn,
vùng mắt màu đen, chelicerae màu vàng.Chân màu vang, các đốt femur màu trắng
xám.Mắt màu trắng đục.Phần trước bụng có màu nâu nhạt, phần sau bụng màu tối
hơn, giữa hai phần này có một vệt màu trắng ngang.Chân có nhiều lông.
1.1.107.
1.1.108.
b
1.1.109.
1.1.129.
a
c
d
Hình 3.1: Một sô hình ảnh loài Theridỉosomatỉdae
sp. (a:
Mặt lưng; b: mặt nghiêng; c,d: male palp)
1.1.130.