Xây dựng một số chủ đề tích hợp phần hóa học vô cơ lớp 10 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS - Pdf 37

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ xương cá
Hình 1.2: Sơ đồ mạng nhện
Hình 2.1. Cấu tạo bên trong của Trái đất
Hình 3.1: Đường luỹ tích bài kiểm tra số 1
Hình 3.2: Đường luỹ tích bài kiểm tra số 2
Hình 3.3: Đường luỹ tích bài kiểm tra số 3
Hình 3.4: Biểu đồ phân loại kết quả học tập của học sinh qua bài kiểm tra số 1
Hình 3.5: Biểu đồ phân loại kết quả học tập của học sinh qua bài kiểm tra số 2
Hình 3.6: Biểu đồ phân loại kết quả học tập của học sinh qua bài kiểm tra số 3

DANH MỤC ẢNH

2
2


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đã và đang bước những bước đi đầu tiên của thế kỉ XXI, thế kỉ của
trí tuệ, của nền văn minh hiện đại, thời kì bùng nổ tri thức, khoa học và công nghệ.
Cùng với sự phát triển ấy, tri thức của loài người đang gia tăng nhanh chóng. Người
ta ước tính rằng, cứ sau bảy năm khối lượng tri thức của loài người lại tăng gấp đôi,
mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách được xuất bản. Với sự phát triển của khoa học
trên thế giới ngày càng nhanh, có nhiều vấn đề mới cần đưa vào nhà trường như:
bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, phòng chống ma túy, an toàn giao thông,...

chỉ dừng lại ở chỗ, "tích hợp" ấy là sự liên hệ giữa môn nọ với môn kia, có thể
chúng liên quan về mặt kiến thức, cũng có thể liên quan để nhằm mục đích giáo
dục. Từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp
với những mức độ khác nhau đã được nghiên cứu và bước đầu thử nghiệm, áp dụng
vào nhà trường phổ thông, chủ yếu là bậc tiểu học và trung học cơ sở (THCS). Còn
ở bậc trung học phổ thông (THPT) chỉ dừng lại ở mức độ lồng ghép, liên hệ các nội
dung như: giáo dục bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu,...vào các bài học có liên
quan. Như vậy, việc tích hợp mới chỉ diễn ra như "phép cộng" nội dung mới cần
tích hợp vào môn học, chưa đem lại hiệu quả.
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng kiến thức về halogen, oxi - lưu
huỳnh và các vấn đề liên quan được trình bày ở nhiều môn học trong chương
trình THPT. Việc dạy một cách riêng rẽ các kiến thức trong từng môn khiến
HS không có những hiểu biết đầy đủ, kiến thức có sự lặp lại và không thấy
được mối liên hệ giữa các kiến thức; dẫn đến sự hạn chế trong việc vận dụng,
giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
Chính sách của Đảng và Nhà nước cũng thể hiện rõ đường lối đổi mới Giáo
dục theo xu hướng dạy học tích hợp. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011
– 2020 của Chính phủ đã định hướng: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt
Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc
tế”. Khoản 2, điều 28, Luật giáo dục năm 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục
đào tạo phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp, khả năng
làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”.
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD - ĐT) đang hoàn
4


thiện dự án, tiến tới đổi mới giáo dục toàn diện, chuyển từ chương trình định hướng nội
dung sang định hướng năng lực. Dạy học tích hợp (DHTH) là một chủ trương quan trọng



tiểu học. Nhưng đến bậc THCS và Trung học phổ thông (THPT), DHTH chỉ được
sử dụng dưới dạng lồng ghép vào một số môn học. Do vậy, DHTH không phát huy
được hết những ưu điểm của nó. Với chương trình đổi mới Giáo dục dự kiến thực
hiện năm 2018, DHTH sẽ được áp dụng cho cả cấp THCS và cấp THPT. Vì vậy,
DHTH đang được tiến hành nghiên cứu kĩ cả về lí thuyết lẫn thực nghiệm. Hiện
nay, tại Việt Nam đã có một số đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về DHTH như:
1. Trần Thị Tú Anh (2009): Nghiên cứu tích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi

trường trong dạy học môn Hóa học lớp 12 THPT.
2. Đinh Xuân Giang (2009): Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp trong
dạy học một số kiến thức về “chất khí” và “cơ sở của nhiệt động lực học” (Vật lý
10- cơ bản).
3. Trần Thị Mai Lan (2009): Nghiên cứu tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy
học vi sinh vật học (sinh học 10).
4. Nguyễn Thị Thu Hương (2010): Nghiên cứu vận dụng quan điểm tích hợp trong
giảng dạy một số nội dung chương Nhiệt học - Vật lí 8.
5. Nguyễn Thị Hường (2012): Nghiên cứu vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học

loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10.
6. Dương Thị Hồng (2014): Nghiên cứu vận dụng quan điểm dạy học tích hợp môn
Hóa học với các môn học khác ở trường THPT.
7. Nguyễn Thị Tâm (2014): Nghiên cứu xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề tích hợp
"khí quyển" ở lớp 11 THPT.
8. Nguyễn Thị Trang (2014): Nghiên cứu thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp

trong chương Oxi – Lưu huỳnh Hóa học lớp 10.
9. Ngọc Châu Vân (2014): Nghiên cứu xây dựng một số chủ đề dạy học tích hợp ở cấp
THCS.

Các chủ đề DHTH ở các bộ môn Khoa hoc Tự nhiên cấp THPT. Năng lực
giải quyết vấn đề và phát triển năng lực GQVĐ thông qua dạy học tích hợp.
5.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phần phi kim Hóa học lớp 10 chương trình cơ bản.
- Dạy thực nghiệm các chủ đề DHTH tại hai trường Trung học phổ thông ở
Thái Bình.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng tốt quan điểm DHTH để thiết kế và tổ chức dạy học hiệu quả
một số chủ đề DHTH phần hóa học phi kim lớp 10 sẽ phát triển được năng lực
GQVĐ và góp phần nâng cao hiệu quả học tập Hóa học cho học sinh.
7


7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu tài liệu về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi
mới giáo dục và đề án đổi mới giáo dục của Bộ GD - ĐT .
- Nghiên cứu các tài liệu, cơ sở khoa học về DHTH.
- Nghiên cứu về các hình thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.
- Nghiên cứu và phân tích nội dung, chương trình SGK hiện hành các bộ
môn: Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Địa lí, GDCD của cấp THPT.
- Tìm hiểu các nguồn tài liệu khác như: báo, tạp chí, internet,...
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực tiễn bằng phương pháp quan sát, phỏng vấn, phiếu điều tra về
DHTH gửi tới GV và HS ở một số trường THPT tỉnh Thái Bình.
- Điều tra về tình hình DHTH bằng công cụ Google drive với cùng nội dung
như trên.
- Điều tra nhu cầu đào tạo DHTH gửi đến các học viên cao học k25 khoa Hóa học.
- Dạy Thực nghiệm Sư phạm (TNSP): Dạy TNSP các chủ đề đã xây dựng theo
đúng quy trình, phương pháp và kế hoạch đã đề xuất tại hai trường THPT ở tỉnh

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH
1.1. Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới
1.1.1. Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện nay
1.1.1.1. Những kết quả đạt được của nền giáo dục Việt Nam
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những thành tựu đáng kể,
góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho đất nước.
- Nhu cầu học tập của nhân dân được đáp ứng tốt hơn
Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục theo các cấp học ở mọi
vùng, miền với đa dạng loại hình trường lớp. Chương trình, SGK hiện hành đã và
đang được đổi mới nhờ đội ngũ các nhà khoa học, nhà sư phạm, cán bộ quản lý,
giảng viên sư phạm, giáo viên giỏi, am hiểu và có kinh nghiệm về giáo dục phổ
thông tham gia xây dựng, biên soạn SGK và thẩm định chương trình, SGK.
Nền giáo dục ngày càng đa dạng và phong phú về các ngành và hình thức đào
tạo, chất lượng đào tạo và cơ sở vật chất cũng được chú trọng và nâng cao. Đặc biệt
về phương diện công nghệ, với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ thông tin
(CNTT) và các phần mềm ứng dụng vô cùng phong phú đã giúp ích rất nhiều cho
công việc dạy và học. HS không những có thể tìm kiếm thông tin hữu ích cho việc
học trên Internet mà còn có sự lựa chọn mới là học trực tuyến. Trí tuệ con người
được dùng vào việc sáng tạo, những kiến thức cần nhớ đã có sự trợ giúp của máy
tính hay chỉ cần thiết bị USB gọn nhẹ mà dung lượng lưu trữ lớn.
- Đạt được một số kết quả quan trọng trong các mục tiêu chiến lược (nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài)
Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, năm 2015, tổng số học sinh, sinh viên cả
nước khoảng 22,21 triệu (tăng so với năm học trước 337.937). Hệ thống mạng lưới
các cơ sở giáo dục các cấp học, bậc học được phân bố rộng trên phạm vi cả nước.
Tổng số trường học từ mầm non đến đại học là 43.874 trường (tăng 307 trường.
Giáo dục đại học, cao đẳng cũng ngày càng được mở rộng về quy mô đào tạo, cơ sở
10


Đổi mới giáo dục phổ thông chưa được thực hiện đồng bộ với việc đào tạo,
bồi dưỡng GV và cán bộ quản lý. Do đó, đội ngũ này vừa thừa, vừa thiếu, không bắt
11


kịp yêu cầu đối mới của chương trình mới. Chương trình giáo dục chưa thực sự chú
trọng đến tính liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, chưa
đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, khuynh hướng nghề nghiệp của HS và nguồn
nhân lực của đất nước.
- Các điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục còn nhiều bất cập
Cơ sở hạ tầng giáo dục hiện nay của Việt Nam còn yếu kém: Hệ thống sách
thư viện còn nghèo, các thiết bị phục vụ thực hành như phòng máy vi tính, thí
nghiệm Vật lý, Hóa học còn hạn chế,… chưa đáp ứng đủ nhu cầu dạy và học của
GV cũng như HS.
- Vẫn còn một số yếu kém trong chất lượng giáo dục, phương pháp giáo dục
chậm đổi mới
Thực tế cho thấy, vẫn tồn tại một số vụ việc GV vi phạm đạo đức nghề nghiệp,
không tâm huyết với nghề, nhiều GV còn chậm đổi mới về PPDH dẫn đến mất đi
lòng tin từ người dân, phụ huynh và HS.
Các chính sách ưu đãi GV còn chưa cao, mức lương còn thấp cũng là một
phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng GV chưa thực sự tâm huyết với nghề nghiệp.
1.1.2. Định hướng đổi mới giáo dục sau năm 2015
1.1.2.1. Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng
- Giáo dục và đào tạo cần đổi mới căn bản và toàn diện để có thể hoàn thành
sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao và bồi dưỡng nhân tài.
- Tuân thủ quy định về chương trình, sách giáo khoa tại Luật Giáo dục, nghị
quyết 88 của Quốc Hội khóa 13 về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông.
- Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020.

trình; đảm bảo quyền tự chủ, linh hoạt cho các địa phương.
- Nội dung giáo dục phải phù hợp với thời lượng dạy học.
- Chương trình phải đảm bảo tính khả thi về thời lượng học tập, sự phát triển
đội ngũ GV, cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục trường phổ thông.
1.1.2.4. Đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục
nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
- Tiếp tục vận dụng và đổi mới các PP giáo dục theo hướng phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; chú trọng bồi dưỡng PP tự học, khả năng
hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,...
13


- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức giáo dục trong và ngoài lớp học, trong và
ngoài nhà trường, tăng cường các hoạt động xã hội của HS.
- Tăng cường hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là CNTT&TT.
1.1.2.5. Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm
chất và năng lực của người học
- Đánh giá kết quả giáo dục chính xác, khách quan và điều chỉnh hoạt động
dạy, hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực HS.
- Thực hiện đa dạng PP đánh giá. Đổi mới cách tổ chức thi tốt nghiệp THPT
theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả.
- Thực hiện định kỳ đánh giá quốc gia, tham gia một số đánh giá quốc tế để
làm căn cứ đề xuất chính sách chất lượng giáo dục quốc gia.
1.1.2.6. Quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo linh
hoạt phù hợp đối tượng và vùng miền
- Bộ GD&ĐT tổ chức xây dựng và ban hành chương trình có quy định chuẩn
đầu ra để sử dụng thống nhất trong toàn quốc.
- Phát triển các loại tài liệu hướng dẫn, hỗ trợ dạy học để đáp ứng sự đa dạng
vùng miền, đáp ứng nhu cầu các đối tượng HS.
- Các địa phương có thể xây dựng tài liệu hỗ trợ dạy và học được thẩm định

Hội nghị về đào tạo giáo viên DHTH các môn Khoa học được tổ chức tại Đại
học Tổng hợp Maryland tháng 4 năm 1973 đã tiến thêm một bước về khái niệm và
mục tiêu của DHTH. Lúc này UNESCO quan tâm hơn đến vấn đề đưa khoa học vào
công nghệ để phục vụ đời sống. Theo Hội nghị này, "DHTH các môn khoa học
nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng
dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng
trong đời sống xã hội hiện đại".
Theo [23] "DHTH là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy động
(mọi) nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp - có vấn đề nhằm phát triển
các năng lực và phẩm chất cá nhân".
Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thì DHTH là định
hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ
năng,... thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong
học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và
rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải
quyết vấn đề.
(Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên
quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường
đạt được nhiều mục tiêu khác nhau).
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội
dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ
trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào
17


những nội dung vốn có của môn học. TH là một trong những quan điểm giáo dục đã
trở thành xu thế trong việc xác định nội dung DH trong trường phổ thông và trong
xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp
được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá
trình dạy học.

Liên môn

Dạy từng môn

Mục tiêu là phục vụ cho mục tiêu chung Mục tiêu dạy là xử lí
của một số nội dung thuộc các môn riêng rẽ của từng môn

khác nhau
học
Bản chất Mục tiêu rộng, ưu tiên các mục tiêu Mục tiêu hạn chế hơn,
của

mục chung. Các mục tiêu trung gian đóng chuyên

tiêu theo góp vào việc đạt được mục tiêu chung.

biệt

hơn

(thường là các kiến

đuổi
thức và kĩ năng)
Kế hoạch Kết nối với lợi ích và sự quan tâm của Xuất phát từ một tình
dạy học

học sinh, của cộng đồng.

huống có liên quan tới


của

việc trí tuệ cũng như tình cảm (đánh giá, kĩ năng phần lớn thông

học

phân tích, phê phán, sáng tạo, làm việc qua các thao tác tư duy
nhóm). Hoạt động học dẫn đến việc tích như nhớ lại, tái tạo, sắp
hợp các kiến thức đã tiếp nhận.

xếp.

1.2.4.2. Tận dụng vốn kinh nghiệm của người học
DHTH tìm cách hòa nhập các hoạt động của nhà trường vào thực tế cuộc sống.
Do gắn với bối cảnh thực tế và gắn với nhu cầu người học cho phép dạy học kéo
19


theo những ích lợi, sự tích cực và sự chịu trách nhiệm của người học. Khi việc học
được đặt trong bối cảnh gần gũi với thực tiễn, với cuộc sống sẽ cho phép tạo ra
niềm tin ở người học, giúp họ tích cực huy động và vận dụng tối đa vốn kinh
nghiệm của mình. Chính điều đó sẽ tạo điều kiện cho HS đưa ra được những lập
luận có căn cứ, lí lẽ, qua đó họ biết được vì sao hoạt động học diễn ra như vậy - đó
là cơ hội để phát triển siêu nhận thức ở người học. Có nghĩa, người học có những
đáp ứng tích cực với hoạt động, thậm chí là kết quả cần đạt được. Khi đó, hoạt động
học sẽ trở thành nhu cầu tự thân và có ý nghĩa.
1.2.4.3. Thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp
của các môn học
Việc tích tụ giản đơn các khái niệm, sự lặp lại một cách đơn điệu các kiến thức


Dạy học tích hợp

Hoạt động trong Làm việc theo nhóm

Dạy học truyền thống
(một môn)
Làm việc cá nhân

giờ học
PPDH

Nhiều PP cải tiến giảng dạy Giảng dạy trực tiếp, ít dùng
thông qua PTKT

PTKT

PP phản hồi

Nhiều phản hồi tích cực từ GV Ít phản hồi tích cực từ GV

Câu hỏi

Dựa theo sự lựa chọn của HS

Chỉ tập trung vào sự kết nối từ
kiến thức đã học

Vai trò của GV


phép GV và HS giải tỏa sức ép của việc tiếp nhận phức hợp các kiến thức.
1.2.5. Các đặc trưng của dạy học tích hợp
- DHTH làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc
sống hàng ngày, không làm tách biệt "thế giới nhà trường" với cuộc sống. DHTH
dạy HS sử dụng kiến thức trong tình huống cuộc sống một cách tự lực và sáng tạo.
DHTH không chỉ quan tâm đánh giá những kiến thức đã học, mà chủ yếu đánh giá
khả năng vận dụng kiến thức trong các tình huống đời sống thực tế.
- DHTH mang tính phức hợp. Nội dung tích hợp có sự kết hợp tri thức của
nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang
tính phức hợp. DHTH vượt lên trên các nội dung của môn học.
- DHTH làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt. DHTH phải lựa
chọn kiến thức, kĩ năng quan trọng và dành thời gian cùng các giải pháp hợp lí đối
với quá trình học tập của HS.
- Dạy học TH giúp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn khi lựa chọn
nội dung. Cần tránh đặt các nội dung học tập ngang bằng nhau, bởi có một số nội
dung học tập quan trọng hơn vì chúng thiết thực cho cuộc sống hàng ngày và vì
chúng là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo. Từ đó có thể dành thời gian cho việc
nâng cao kiến thức cho học sinh, khi cần thiết.
- DHTH quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể. Thay vì
nhồi nhét nhiều kiến thức cho HS, DHTH chú trọng tập cho HS nhiều kiến thức kĩ
năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân,
làm người lao động, làm cha mẹ có năng lực sống tự lập.
22


- DHTH giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong cùng một
môn học và giữa các môn học khác nhau. Đồng thời DHTH giúp tránh những kiến
thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu riêng rẽ từng môn học, nhưng lại
có những nội dung, kĩ năng mà nếu theo môn học riêng rẽ sẽ không có được. Thông
tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các

( các nhánh).

Hình 1.1: Sơ đồ xương cá
- Vận dụng kiến thức liên môn:
Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học
cần vận dụng kiến thức nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra. Các chủ đề khi
đó gọi là các chủ đề hội tụ.
Với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa các môn học trong chủ đề được
hình dung qua sơ đồ mạng nhện. Như vậy, nội dung các môn học vẫn được phát
triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống, mặt khác, vẫn thực hiện được sự liên kết
giữa các môn học khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các
chủ đề hội tụ.

Hình 1.2: Sơ đồ mạng nhện
Việc liên kết kiến thức các môn học để giải quyết tình huống cũng có nghĩa là
các kiến thức được tích hợp ở mức độ liên môn học. Có hai cách thực hiện mức độ
tích hợp này:

24


Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kì, cuối năm
hoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đề chung và các thành
tựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp HS xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã
được lĩnh hội.
Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở
những thời điểm đều đặn trong năm học. Nói cách khác, sẽ bố trí xen một số nội
dung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho học sinh quen dần
với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau.
- Hòa trộn:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status