TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=======***=======
NGUYỄN NHƢ QUỲNH
SỬA LỖI VỀ THÀNH PHẦN CÂU TRONG
CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN VIẾT CỦA HỌC
SINH LỚP 3 – 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=======***=======
NGUYỄN NHƢ QUỲNH
SỬA LỖI VỀ THÀNH PHẦN CÂU TRONG
CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN VIẾT CỦA HỌC
SINH LỚP 3 – 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Thu Hƣơng
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn
này trung thực và chƣa từng đƣợc công bố dƣới bất cứ hình thức nào. Tôi xin
chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Như Quỳnh
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
C-V
: chủ - vị
HS1
: học sinh 1
HS2
: học sinh 2
TN1
: trạng ngữ 1
TN2
1.2.2. Thành phần phụ của câu................................................................ 13
1.2.3. Thành phần phụ của từ trong câu .................................................. 17
1.2.4. Thành phần biệt lập trong câu ....................................................... 19
1.3.Nội dung dạy thành phần câu ở tiểu học ............................................... 23
1.3.1.Chƣơng trình dạy học về thành phần câu ...................................... 23
1.3.2.Quan niệm về các thành phần câu đƣợc dạy ở tiểu học ................. 27
CHƢƠNG 2:SỬA CÁC LỖI VỀ THÀNH PHẦN CÂU CHO HỌC SINH
LỚP 3 - 4 ......................................................................................................... 29
2.1. Thực trạng mắc lỗi về thành phần câu của học sinh ........................... 30
2.1.1. Bảng thống kê kết quả ................................................................... 30
2.1.2. Nhận xét kết quả thống kê............................................................. 31
2.2. Miêu tả một số lỗi về thành phần câu của học sinh ............................. 34
2.2.1. Câu thiếu thành phần..................................................................... 34
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
2.2.2. Câu thừa thành phần...................................................................... 36
2.2.3. Câu không phân định rõ thành phần ............................................. 37
2.2.4.Câu không có sự tƣơng hợp về nghĩa giữa các thành phần ........... 39
2.3. Cách sửa lỗi về thành phần câu ............................................................ 39
2.3.1. Câu thiếu thành phần..................................................................... 39
2.3.2. Câu thừa thành phần...................................................................... 43
2.3.3. Câu không phân định rõ thành phần ............................................. 44
2.3.4. Câu không có sự tƣơng hợp về nghĩa giữa các thành phần .......... 46
2.4.Một số biện pháp giúp học sinh nâng cao khả năng nhận diện và sử
dụng các thành phần câu ............................................................................ 47
2.4.1. Xây dựng hệ thống bài tập .......................................................... 47
Tuy nhiên, học sinh tiểu học hiện nay do các em chƣa nắm vững các
kiến thức về thành phần câu. Hơn nữa, do tuổi đời còn nhỏ nên khả năng nói
và viết của các em là rất hạn chế. Các em thƣờng chỉ nói, viết đƣợc những câu
đơn giản còn khi nói, viết các câu phức tạp hơn thì khó khăn hơn. Chính vì
vậy,việc mắc lỗi với các em là điềukhông thể tránh khỏi, đặc biệt là các lỗi về
thành phần câu. Nó đƣợc thẻ hiện rõ trong các bài tập làm văn viết của các
em. Ngoài ra, thực tế các giáo viên việc dạy về câu cũng nhƣ thành phần câu
1
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
thƣờng qua loa, đại khái, chƣa đi sâu vào các kiến thức trọng tâm. Muốn vậy
giáo viên cần phải có kiến thức nhất định về thành phần câu Tiếng Việt để có
thể hiểu, lý giải phân tích cho học sinh và từ đó đƣa ra những biện pháp giúp
các em khắc phục đƣợc những hạn chế đó.
Là một giáo viên tƣơng lai, trăn trở lớn nhất của tôi làm sao để các em
không bị mắc lỗi về thành phần câu khi đặt câu, viết văn. Từ đó các em có thể
viết đƣợc những bài văn hay, những lời nói đẹp thu hút hấp dẫn đƣợc ngƣời
đọc và ngƣời nghe. Vì vậy tôi chọn đề tài “Sửa lỗi về thành phần câu trong
các bài tập làm văn viết của học sinh lớp 3 -4”với hy vọng giúp các em cải
thiện đƣợc tình trạng này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc tìm hiểu về vấn đề thành phần câu cũng nhƣ việc sửa lỗi về thành
phần câu đã có một số tác giả đã đề cập đến trong nhiều công trình nghiên
cứu khoa học và các bài viết.
Thành phần câu tiếng Việt củaNguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp
luận rọng hơn nhƣ: Các lỗi trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 nguyên
nhân và biện pháp khắc phục của Vũ Thị Bích và khóa luận: Chữa lỗi dùng
từ, đặt câu cho học sinh tiểu học lớp 4-5 qua các bài tập làm văn của Nguyễn
Thị Thƣ... Song mỗi khóa luận đều xem xét vấn đề theo những góc độ,
phƣơng diện khác nhau nhƣng chƣa nghiên cứu sâu về các lỗi thành phần câu
của học sinh tiểu học.
Kế thừa và phát triển các thành tựu nghiên cứu nói trên, chúng tôi tiến
hành Sửa lỗi về thành phần câu trong các bài tập làm văn viết của học sinh
lớp 3 - 4. Chúng tôi chọn đề tài này với hy vọng nhằm giúp các em có thể sửa
lỗi về thành phần câu trong khi nói, viết và các hoạt động có liên quan. Đồng
thời cũng giúp giáo viên có thể điều chỉnh phƣơng pháp dạy của mình sao cho
phù hợp.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận:
- Làm rõ lý luận về thành phần câu.
- Đề xuất các biện pháp để giúp học sinh sửa các lỗi về thành phần câu.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
- Sửa lỗi về thành phần câu trong các bài tập làm văn viết của học sinh
lớp 3 - 4.
3
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
5. Phạm vi nghiên cứu
- Trƣờng tiểu học Ngô Quyền - Vĩnh Yên -Vĩnh phúc và Trƣờng tiểu
học Phạm Công Bình -Yên lạc -Vĩnh Phúc.
những ý kiến khác nhau:
Theo Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983),
trên trục hình tuyến, về mặt cấu trúc, một câu nói bình thường là một tổ chức
gồm nhiều bộ phận cấu tạo nên câu, gọi là thành phần câu.
Theo Diệp Quang Ban (2000), thành phần câu là chức vụ cú pháp mà thực
từ đảm nhiệm trong mối quan hệ cấu trúc với những thực từ khác trong câu.
Nguyễn Thị Thìn (2001) quan niệm thành phần ngữ pháp của câu
(thành phần câu) là thành tố trực tiếp cấu tạo câu, có thể là từ, ngữ, liên hợp
đẳng lập hoặc một tiểu cú.
Quan niệm về thành phần của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp
(2004) đơn giản và mang tính khái quát rất cao. Theo họ, thành phần câu là
những từ tham gia nòng cốt câu (bắt buộc có mặt để đảm bảo tính trọn vẹn
của câu) hoặc phụ thuộc trực tiếp vào nòng cốt của câu.
Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu đơn giản về thành phần câu nhƣ sau:
“Thành phần câu là đơn vị quan trọng để tạo nên câu trong Tiếng Việt.”
1.2. Phân loại thành phần câu Tiếng Việt
1.2.1. Thành phần chính của câu
1.2.1.1. Khái niệm
Các nhà ngữ pháp học truyền thống quan niệm thành phần chính của
câu là thành phần tạo nên nòng cốt của câu, không thể thiếu đƣợc trong câu
5
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
đơn bình thƣờng vì thiếu nó không tạo thành câu [9,22-23], [5,126]. Nói một
cách khái quát hơn, thành phần chính của câu là yếu tố cú pháp bắt buộc có
mặt trong câu để đảm bảo cho câu có tính trọn vẹn. Thành phần chính của câu
Khóa luận tốt nghiệp
đề[16, 59]. Nguyễn Minh Thuyết (2004) khẳng định chủ ngữ là bộ phận nòng
cốt của câu biểu thị chủ thể ngữ pháp của vị ngữ, tạo ra cùng vị ngữ một kết
cấu có khả năng nguyên nhân hóa [17, 153].
b. Những đặc trưng cơ bản của chủ ngữ
b1. Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của chủ ngữ trong câu
Mọi ngƣời đều thừa nhận chủ ngữ là một trong hai thành phần chính
của câu song phần, cùng với vị ngữ tạo nên nòng cốt câu. Chủ ngữ là thành
phần nêu nên chủ thể nhƣ ngƣời, vật, sự vật, sự việc,… có đặc trƣng đƣợc
miêu tả hoặc nhận xét ở vị ngữ [9, 24], [5, 131], [11, 150]. Nhƣng trình bày
khá là đầy đủ, hoàn chỉnh về vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của chủ
ngữ là các tác giả Nguyễn Thị Thìn, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn
Hiệp,…. Nguyễn Thị Thìn (2001) khẳng định chủ ngữ có quan hệ chặt chẽ,
trực tiếp và phù hợp với vị ngữ, kết hợp với vị ngữ để tạo nên cấu trúc ngữ
pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh đề [16, 54]. Nguyễn Minh Thuyết,
Nguyễn Văn Hiệp (2004) cho rằng chủ ngữ có thể chỉ hành động hay đối
tƣợng của hành động, kẻ mang một phẩm chất nào đó, hay là một sự vật (tình
huống) đƣợc quy vào một phạm trù nhất định hoặc đồng nhất với một sự vật
(tình huống) khác. Ngoài ra tác giả còn phân biệt chủ ngữ chủ đề, chủ ngữ vị
trí và chủ ngữ chỉ hình thức [17, 183 -184].
Về vai trò của chủ ngữ đối với tổ chức câu: Có những nhà ngữ pháp
cho rằng chủ ngữ quan trọng hơn vị ngữ vì nó chi phối sự xuất hiện của vị
ngữ [19,184]. Ngƣợc lại, có rất nhiều ý kiến cho vị ngữ là thành phần chính
quan trọng nhất trong câu [14, 181], [5, 139], [16, 69], [17,109, 191].
b2. Vị trí chủ ngữ trong câu
Các nhà nghiên cứu ngữ pháp học đã nhất ý kiến là chủ ngữ thƣờng
đứng trƣớc vị ngữ theo trật tự C - V (“vị trí thuận của chủ ngữ” [17, 187]).
- Chủ ngữ là kết hợp gồm phụ từ phủ định không, chẳng, chưa + danh
từ / đại từ phiếm chỉ.
- Chủ ngữ là giới từ.
- Chủ ngữ là đại từ có ý nghĩa phiếm chỉ. Ví dụ:
“Tất cả những ai đã từng đọc: Tiếng chim hót trong bụi mận gai đều
không thể quên được lời đề từ của nó.” [16, 61-62]
8
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) dựa vào hai loại câu
cơ bản là câu hệ từ và câu vị từ để tìm hiểu cấu tạo của chủ ngữ. Tác giả
khẳng định ngoài danh từ, đại từ, vị từ, cụm chủ - vị làm chủ ngữ, thời vị từ
có thể làm chủ ngữtrong ba trƣờng hợp sau:
+ Khi nó đƣợc dùng với ý nghĩa sự vật nhƣ danh từ, ví dụ:
“Trêngửi thông cáo xuống dƣới.”
+ Trong câu có vị ngữ là tính từ, ví dụ:
“ Trên đồnim nhƣ tờ.”
+ Trong câu chỉ sự đồng nhất về vị trí không gian, ví dụ:
“ Trước mắtlà một con đƣờng.” [17, 186-187]
Tóm lại theo chúng tôi, chủ ngữ có thể đƣợc hiểu nhƣ sau:
- Về khái niệm: Chủ ngữ là thành phần chính của câu thể hiện đối
tƣợng đƣợc thông báo trong câu, cùng với vị ngữ tạo thành nòng cốt câu.
- Về vị trí: Chủ ngữ thƣờng đứng trƣớc vị ngữ theo trật tự C- V nhƣng
khi cần nhấn mạnh nội dung thông báo hay biểu thị tình cảm, cảm xúc, ….
Ngƣời ta có thể đặt vị ngữ lên trƣớc chủ ngữ.
Cùng phái văn cổ truyền (văn phạm học quy chuẩn), Trần Trọng Kim
(1941) đã đồng nhất vị ngữ với động từ (tính từ) và gọi thẳng tên của từ loại
này [7, 21], Trần Trọng Kim đã nhầm lẫn thành phần câu với các lớp từ (động
từ, tính từ). Bùi Đức Tịnh (1954) thì đã phân biệt đƣợc vị ngữ (tác giả gọi là
tuyên ngữ và quan niệm tuyên ngữ là những gì để nói về ngƣời hay vật ở chủ
ngữ) là thành phần chính của câu với các lớp từ (động từ) [18, 337].
Các nhà nghiên cứu ngữ pháp học Tiếng Việt hiện đại quan niệm về vị
ngữ đầy đủ hoàn chỉnh hơn. Họ khẳng định vị ngữ là thành phần thứ hai của
câu, cùng với chủ ngữ tạo thành nòng cốt câu. Vị ngữ là thành phần tƣờng
thuật về chủ ngữ [14, 154]; vị ngữ là bộ phận chỉ tình trạng hoặc hành động
của chủ thể [9, 23]; vị ngữ là thành phần câu có quan hệ qua lại và quy định
lẫn nhau với chủ ngữ, vị ngữ nêu lên đặc trƣng hoặc quan hệ (động, tĩnh) vốn
có ở vật nói ở chủ ngữ hoặc có thể áp đặt chung một cách có lý do cho vật đó
[2, 43]; vị ngữ biểu thị thuộc tính P (có thể là hành động, qua trình, trạng thái,
đặc điểm, tính chất, hặc quan hệ ) của đối tƣợng nhận thức; vị ngữ là bộ phận
nòng cốt của câu có thể chen thêm phó từ chỉ thời - thế vào phía trƣớc, và
trong trƣờng hợp bộ phận này gồm hơn một từ thì vị ngữ là từ chính của bộ
phận ấy [17, 118].
10
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
b. Những đặc trưng cơ bản của vị ngữ
b1. Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của vị ngữ trong câu
Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu song phần cùng với
chủ ngữ tạo nên nòng cốt của câu. Vị ngữ là thành phần câu thƣờng thông báo
Về mặt cấu trúc: Vị ngữ có thể đƣợc tạo nên bởi một từ, một cụm từ
chính phụ, một cụm từ đẳng lập, một giới ngữ, một kết cấu C -V và những
đơn vị đặc biệt nhƣ là:
+ Từ “đang” + danh từ chỉ thời gian: “Nó đang tuổi ăn, tuổi ngủ.”
+ Các từ sao, vậy, thế nào, ví dụ: “Anh sao thế?”[9,30]
+ Là sự lặp lại một tổ hợp về mặt ý nghĩa vốn là trọng tâm của nội dung
thông báo ở câu trƣớc, ví dụ:
“Mai kia u đƣa con sang với chị.”
“Con không mai kia.”
+ Là một tổ hợp quan hệ từ + danh từ, ví dụ: “Mẹ tôi ngoài vườn.”
[1,150-151]
Về mặt kết nối với chủ ngữ: Vị ngữ có thể kết hợp trực tiếp với chủ
ngữ (không cần đến hệ từ là), có thể kết hợp gián tiếp với chủ ngữ.
Tóm lại, theo chúng tôi, vị ngữ có thể đƣợc hiểu nhƣ sau:
- Về khái niệm: Vị ngữ là thành phần chính của câu thể hiện nội dung
thông báo (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ,….) của đối tƣợng nêu ở
chủ ngữ, cùng với chủ ngữ tạo nên nòng cốt câu.
- Về vị trí: Vị ngữ thƣờng đứng sau chủ ngữ theo trật tự C -V nhƣng vị
ngữ có thể đứng trƣớc chủ ngữ nhằm nhấn mạnh nội dung thông báo hoặc
mang màu sắc tu từ.
- Về cách xác định vị ngữ: Muốn tìm vị ngữ của câu, phải thực hiện
các bƣớc phân tích cấu trúc câu: Xác định nòng cốt câu (tối giản), xác định
chủ ngữ, phần còn lại là vị ngữ của câu (phần nêu lên thông báo về đối tƣợng
nói đến ở chủ ngữ).
- Về cấu tạo của vị ngữ: Vị ngữ có thể đƣợc cấu tạo từ một từ (động
từ, tính từ, danh từ, đại từ, số từ), một cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập,
cụm từ cố định, giới ngữ, cụm C -V. Ví dụ:
12
thuộc vào toàn bộ nòng cốt câu và có tác dụng mở rộng nòng cốt câu để bổ
sung những chi tiết cần thiết cho nòng cốt câu [4,165].
Theo chúng tôi, thành phần phụ của câu là thành phần không tham gia
nòng cốt câu nhƣng có quan hệ về nghĩa với nòng cốt câu. Nó bổ sung, biểu
thị những ý nghĩa về tình huống của sự việc ở nòng cốt câu.
13
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.2.2. Các thành phần phụ của câu
1.2.2.2.1. Trạng ngữ
a. Khái niệm
Các công trình nghiên cứu Việt ngữ đã dùng nhiều thuật ngữ đã dùng
nhiều thuật ngữ để gọi tên trạng ngữ. Nhƣng có thể nói trạng ngữ là thành
phần câu duy nhất có sự thống nhất ý kiến cao của các nhà nghiên cứu.
Trạng ngữ là thành phần phụ của câu có tác dụng bổ sung ý ghĩa tình
huống (nhƣ thời gian, nơi chốn, phƣơng tiện, mục đích, cách thức, nguyên
nhân,….) cho nòng cốt câu [13,51], [20,193], [17,134]…..
b. Những đặc trưng cơ bản của trạng ngữ
b1. Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của trạng ngữ trong câu
Xét về mặt kết cấu ngữ pháp của câu, trạng ngữ là thành phần phụ của
câu, có thể bỏ đi mà câu không sai ngữ pháp [9,33], [5, 115],…
Xét về mặt ý nghĩa trạng ngữ có tầm quan trọng đặc biệt đối với nòng
cốt câu, là thành phần bổ sung ý nghĩa cho câu. Trạng ngữ có khi là phần
ngữ, vị ngữ, phải đƣợc nhấn mạnh tách rời bằng điệu khi nói, dấu phẩy khi
viết và có thể kèm theo một kết từ thích hợp [4, 168].
b3. Cấu tạo của trạng ngữ
Về từ loại: Hoàng Trọng Phiến (1980) xác định trạng ngữ thƣờng đƣợc
biểu hiện bằng danh từ, tổ hợp danh từ với các từ có ý nghĩa không gian, thời
gian, tổ hợp danh từ với các giới từ, tính từ có ý nghĩa không gian; kết cấu
động từ - bổ ngữ [10, 126].
Nhóm Bùi Tất Tƣơm (1995) nhận định: Tất cả các kết cấu ngữ pháp có
khả năng làm vị ngữ đều đều có thể đảm nhiệm thành phần này. Ngoài ra, một
số phụ từ tình thái và các kết cấu ngữ pháp có quan hệ mở đầu cũng có thể
làm trạng ngữ [19,186].
Nhóm Lê Cận (1983) quan niệm trạng ngữ thƣờng do danh từ (cụm
danh từ), động từ (cụm tính từ), tính từ (cụm tính từ) có quan hệ từ hoặc
không có quan hệ từ đảm nhiệm [5,155].
Nhóm Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) dựa vào dấu
hiệu cấu tạo: Trạng ngữ có giới từ đứng trƣớc (trạng ngữ đƣợc đánh dấu) hoặc
trạng ngữ không có giới từ đứng trƣớc (trạng ngữ không đƣợc đánh dấu).
15
Nguyễn Như Quỳnh – K37GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Về cấu trúc ngữ pháp: Trạng ngữ có thể đƣợc làm từ một từ, một cụm
từ, một giới ngữ, một kết cấu chủ - vị.
Tóm lại, theo chúng tôi, trạng ngữ có thể đƣợc hiểu nhƣ sau:
- Về khái niệm: Trạng ngữ là thành phần có tác dụng bổ sung ý nghĩa
cho tình huống nòng cốt câu. Ý nghĩa tình huống có thể là thời gian nơi chốn,
- Về cấu tạo của đề ngữ: Đề ngữ có thể đƣợc cấu tạo từ một từ, một
cụm từ (chính phụ, đẳng lập), một cụm C -V hay một cụm giới ngữ. Ví dụ:
+ Đề ngữ đƣợc cấu tạo từ một từ:
Hoa, tôi để trên bàn.
+ Đề ngữ đƣợc cấu tạo từ một cụm từ chính phụ:
Tấm áo ấy,bấy lâu nay, con thƣờng mặc.
+ Đề ngữ đƣợc cấu tạo từ một cụm C -V:
Anh ấy hư hỏng như thế nào, tôi đã từng đƣợc nghe nói.
+ Đề ngữ đƣợc cấu tạo từ một giới ngữ:
Với tôi, tất cả nhƣ vô nghĩa.
- Về mặt nghĩa: Vai nghĩa của đề ngữ có thể trùng với bổ ngữ, trạng
ngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu. Ví dụ:
+ Vai nghĩa của đề ngữ trùng với chủ ngữ:
Tôi thì tôi xin chịu.
+ Vai nghĩa của đề ngữ trùng với vị ngữ:
Ăn thì tôi không ăn.
1.2.3. Thành phần phụ của từ trong câu
1.2.3.1. Khái niệm
Diệp Quang Ban (2005) quan niệm: “Thành phần phụ của từ là từ ngữ
phụ thêm vào một từ hay một cụm từ đang giữ một chức vụ nào đó trong
câu.” [4, 178]
Theo tôi, thành phần phụ của từ gồm 2 loại, các từ phụ bổ nghĩa cho
danh từ đƣợc gọi là định ngữ, từ phụ bổ nghĩa cho động từ và tính từ thì gọi là
bổ ngữ.
1.2.3.2. Các thành phần phụ của từ
1.2.3.2.1. Bổngữ
- Về khái niệm: Bổ ngữ là thành phần phụ của vị từ (động từ, tính từ)
trong câu, có quan hệ chính phụ với vị từ, có vị trí phổ biến đứng sau động từ,
đối tƣợng, thời gian, nơi chốn, mục đích, nguyên nhân. Ví dụ:
Tôi học ở lầu hai. (“ở lầu hai” là bổ ngữ chỉ nơi chốn).
1.2.3.2.2. Định ngữ
- Về khái niệm: Định ngữ là thành phần phụ của danh từ trung tâm
trong cụm danh từ làm thành phần câu, có vị trí phổ biến là đứng sau danh từ
trung tâm nhằm miêu tả hay hạn định danh từ trung tâm.
18