Nghiên cứu về thành phần côn trùng bắt mồi trên cây rau họ hoa thập tự và đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt mồi euborrellia annulipes (lucas, 1847) tại phường xuân hòa thị xã phúc yên tỉnh vĩn - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN

===sa£ŨG3===

NGUYỄN THỊ HOA

NGHIÊN CỨU VÈ THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BẮT MỒI
TRÊN CÂY RAU HỌ HOA THẬP Tự
VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA LOÀI BỌ
ĐUÔI KÌM CHÂN KHOANG BẮT MỒI EUBORRELLIA
ANNULIPES

(LUCAS, 1847) TẠI PHƯỜNG XUÂN HÒA - THỊ
XÃ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Động vật học
Nguòi hướng dẫn khoa học PGS. TS.

TRƯƠNG XUÂN LAM

HÀ NỘI, 2015

LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng biết ơn và sự kính trọng em xin gửi tới:


PGS. TS. Trương Xuân Lam - Trưởng phòng Côn trùng học thực nghiệm Viện sinh thái
và Tài nguyên sinh vật đã tận tình và nghiêm túc trong suốt quá trình hướng dẫn em hoàn
Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

1
2

Kíhỉêu

BVTV
Trường ĐHSP Hà Nội 2
IT

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Bảo vệ thực vật

Khóa luận tốt

ít nhất

3

NN

Nhiều nhất

4

TT

Trưởng thành


1. Lý do chọn đề tài
Ở các nước trên thế giới, sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an toàn cho sức khỏe
con người và môi trường là hướng ưu tiên hàng đầu của ngành nông nghiệp từ rất sớm
của những năm đầu của thế kỉ XX, trong đó rau xanh là sản phẩm được quan tâm đặc
biệt về vệ sinh an toàn thực phẩm. Quy trình kĩ thuật trồng rau sạch, rau an toàn cho
phép kiếm soát tốt hơn nguyên liệu đầu vào, làm tăng năng suất, cho phép mùa canh
tác dài hơn, cung cấp sản phẩm an toàn hơn. Gần đây, đế chuẩn hóa tiêu chuấn về an
toàn trong quy trình sản xuất nông nghiệp, tổ chức những người bán lẻ và cung cấp ở
châu Âu EUREP (European Retail Products) đã công bố tiêu chuẩn EUREP GAP
(European Retail Products Good Agriculture Practice) cho thị trường này và hàng hóa
của các nước muốn vào nhũng nước châu Âu phải tuân thủ theo tiêu chuẩn này.
Việt Nam đã gia nhập AFTA và WTO. Thách thức lớn nhất trong thời đại chúng ta
là sản xuất và bán ra thực phấm an toàn đáp ứng nhu cầu cao trong nước và xuất khẩu
ra thế giới, trong đó rau xanh là mặt hàng hết sức quan trọng. Nhưng trên thực tế thì
các sản phẩm rau không an toàn vẫn chiếm tỉ lệ cao trong tống sản lượng rau được tố
chức sản xuất trên địa bàn Hà Nội, một số nguyên nhân chính là do chưa có quy hoạch
vùng chuyên trồng rau, trồng rau theo lối truyền thống tự phát, đặc biệt là việc lạm
dụng thuốc, phân hóa học và chất kích thích sinh trưởng để trồng rau. Việc quy hoạch
xây dựng các khu chuyên sản xuất rau sạch, rau an toàn là một bước đột phá mới trong
việc phát triển nông nghiệp - nông thôn, đồng thời thúc đẩy việc áp dụng các quy trình
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rau an toàn đấp ứng được tiêu chuẩn của GAP (Good
Agriculture Practice - sản xuất nông nghiệp tốt) là những nguyên tắc được thiết lập
nhằm an toàn cho thực phẩm, an toàn cho người sản xuất, bảo vệ môi trường, truy
nguyên được nguồn gốc sản phẩm, đồng thời sản phẩm phải được đảm bảo an toàn từ
ngoài đồng đến khi sử dụng.


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tôt nghiệp


Khóa luận tôt nghiệp

những kẻ thù tự nhiên của sâu hại trên rau màu, bọ đuôi kìm được coi là thiên địch
quan trọng.
Ở Việt Nam, cho đến nay, những nghiên cứu về các loại bọ đuôi kìm là tương đối
ít. Nên việc nghiên cứu về loài này là hết sức cần thiết, nó không những cho phép
chúng ta bổ sung thêm các loài bắt mồi quan trọng, mà còn chỉ ra được đầy đủ hơn về
tính đa dạng và vai trò của nhóm này trong hệ sinh thái nông nghiệp. Hơn nữa những
nghiên cứu đặc điếm sinh học, sinh thái học của loài phố biến, nhất là những nghiên
cứu nhân nuôi để sử dụng chúng trên cánh đồng chưa được chú trọng và quan tâm.

Nhằm đáp ứng một số yêu cầu cần thiết và góp phần làm phong phú dẫn liệu
khoa học cho những vấn đề nói trên. Vì vậy, tôi tiến hành thực hiên đề tài: “Nghiên
cứu về thành phẩn côn trùng bắt mỗi trên cây rau họ hoa thập tự và đặc điếm hình thái,
sinh học của loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt mồi Euborreỉlia annulỉpes (Lucas, 1847) tại
phường Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phức”.
2. Mục đích nghiên cún
Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi trên cây rau họ hoa thập tự và
đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt mồi nhằm làm cơ
sở khoa học để sử dụng loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt mồi trong phòng trừ sâu
hại, giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu trên cây rau họ hoa thập tự.
3. Nội dung nghiên cún
-

Điều tra thành phần côn trùng bắt mồi trên rau họ hoa thập tự ở các điểm trồng rau
theo cách truyền thống tại Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ đuôi kìm
chân khoang bắt mồi Euborrellỉa annulỉpes (Lucas)


rệp Aphidius matricariae và họ bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens.


Theo tập hợp kết quả nghiên cứu của Zhang và Liang (2000), có tới 19 loài ong và
34 loài bắt mồi ăn thịt khác là thiên địch của sâu xanh bướm trắng. Các loài bọ xít bắt
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt
mồi họ Riduviidae cũng đã được nghiên cứu rộng rãi. Ở Đông
Dương, Ivo Hodek (1973) đã công bố 14 loài bọ xít bắt mồi bao gồm họ Riduviidae có
11 loài thuộc 9 giống. Lane Greer (2000) [20], đã xác định vùng phân bố và xây dựng
khóa định loại cho các loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Coranus. Risk và Brian (1995), đã
mô tả đặc điếm hình thái trứng của 24 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Riduviidae và mô tả
bọ xít non tuổi 1, tuổi 4 của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ này. Thành phần loài côn
trùng bắt mồi của các loai sâu hại trên rau họ hoa thập tự và các nghiên cứu nhân nuôi
một số loài côn trùng bắt mồi phố biến trong phòng trừ sinh học sâu hại rau ít phun
thuốc, nhà kính cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể là 61 loài côn trùng bắt
mồi là sâu hại rau họ hoa thập tự trồng trong các kiểu nhà lưới, nhà kính đã được ghi
nhận, trong đó có nhiều loài có khả năng sử dụng cho hiệu quả phòng trừ cao như loài
ong bắt môi, bọ xít bắt mồi Orỉorus sp. , và bọ mắt vàng Chrysoperla sp. (Leung, 2004)
[21].
Nhìn chung thành phần loài côn trùng bắt mồi của các loài sâu hại trên rau ít
phun thuốc họ hoa thập tự rất phong phú với hơn 60 loài bắt mồi phố biến ghi nhận
được như bọ rùa bắt mồi Propylea japonỉca, Harmonia axyrỉdỉs, Scỵmnus hojfmanni, ruồi
ăn rệp M. corollae và p. quadriýaasciatus, bọ mắt vàng Chrỵsoperla carnea và Chrysopa

oculata, bọ xít bắt mồi Orỉorus sp. , Coranus sp., Sycanus spp., cánh cứng bắt mồi
Cheilomenes spp., bọ đuôi kìm bắt mồi, ong vàng bắt mồi...vv nhiều loài đã được nhân
nuôi và sử dụng trong phòng trừ sinh học sâu hại rau ở nhiều nước trên thế giới.
1.1.2.


nigroviolaceous,

Neohaematorrhophus therasii, Rhinocoris fuscipes và loài R. marginatus trên cánh
đồng ở Tamil. Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 1984 đến tháng 7 năm
1986 các tác giả nhận thấy rằng biến động số lượng của các loài bọ xít bắt mồi này
có mối quan hệ với số lượng của vật mồi và phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng mưa,
gió. số lượng của loài bọ xít Acanthaspỉs pedestrỉs thường đạt mật độ cao trong
tháng 9/1984 và tháng 3/1985. số lượng của loài bọ xít Edocla slaterỉ đạt mật độ cao
ở tháng 11/1984 và tháng 3/1985. Đối với các loài Catamiarus brevipennis đạt mật
độ cao vào tháng 4 hàng năm. Loài Haematorrhophus nigroviolaceous đạt mật độ
cao vào tháng 10/1984 và tháng 2/1985. Loài Neohaematorrhophus therasỉỉ đạt mật
độ cao ở tháng 3/1985 và tháng 8/1986. Loài Rhỉnocorỉs ỷuscỉpes đạt mật độ cao ở
tháng 7/1984 và tháng 3/1986. Số lượng loài R. marginatus thường đạt mật độ cao
trong tháng 9/1984 và tháng 6/1985 (Dan theo Phạm Văn Lầm và cs. 2003).
Nghiên cứu biến động số lượng của loài bọ xít mù xanh Cyrtorrhỉnus

livỉdỉpennis trên rau. Qua tính toán cho thấy mối tương quan số lượng giữa loài bọ
xít bắt mồi này với vật mồi của nó là loài rầy chặt chẽ (r = 0,8) (Morallo và Sayaboc,
1992).
Nhiều công trình nghiên cứu của các nước đều chỉ rõ việc
dùng các loại thuốc có phố tác dụng thuốc hóa học đế trù’
sâu trên rau họ hoa thập tự đã làm ảnh hưởng đáng kể đến sự
biến động của quần thể thiên địch. Đây là một trong số các
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tái phát các quần thể của
sâu hại. Vì vậy việc dùng thuốc hóa học có tính chọn lọc
một cách hợp lý trên rau họ hoa thập tự là hướng chiến lược
trong điều khiển tính kháng thuốc của sâu hại, đồng thời


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

cứu và phát triển một số loài như ruồi ăn rệp Aphidoletes aphidimyza, bọ rùa bắt
mồi Hỉppodamỉa convergens,Harmonia axyrỉdỉs và bọ mắt vàng


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tôt nghiệp

Chrysoperla sp. . Trong nhà kính để phòng trừ rệp đào Myzus pesicae, rệp bông
Aphis gossypiỉ, rệp khoai tây Macrosỉphum eupphorbỉaend và rệp cây mao
Aulacorthum solanỉ thì biện pháp phòng trừ sinh học được ưu tiên và sử dụng với
việc thả một số loài ruồi ăn rệp Aphỉdoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi

Hỉppodamỉa convergens,Harmonỉa axyridis (Jamie Intosh, 2008). Trong công trình
phòng chống bọ trĩ hại cây trồng trên rau ít phun thuốc thì có thế sử dụng loài bọ
xít nhỏ thuộc họ Anthocorìdae và giun tròn Heterorhabditis bacteriophora (Risk and
Brian, 1995). Lane Greer (2000) đã ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng trên rau
trong nhà kính gồm Chrysoperla carnea, Crufilabris, Chrỵsopa spp. , ruồi ăn rệp

Aphỉdoletes aphydimyza, ong ăn rệp Aphỉdỉus colemanỉ, Aphidius matricarỉae và bọ
rùa bắt môi Hỉppodamỉa convergens. Các loài thiên địch này là những tác nhân
quan trọng và hiệu quả trong phòng trừ rệp hại. Nhân nuôi và thả các loài ruồi ăn
rệp Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi Hỉppodamỉa convergens tốt nhất là vào
thời gian nhiệt độ lạnh (dẫn theo Ha Quang Trung, 2002).
Việc nhân nuôi và sử dụng các loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sinh
học để giảm bớt hay loại trừ côn trùng hại cây trồng cũng đã được áp dụng ở
nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản, Hà
Lan...W, thậm chí ở nhiều nước như Trung Quốc và Hà Lan còn có nhiều công ty
sinh học sản xuất hàng loạt các loại côn trùng bắt mồi (trong đó thức ăn để nuôi
chúng cũng được nhân nuôi và phôi chế công nghiệp) nhằm cung cấp cho nông

một số kết quả khả quan. Với 50% là nguồn thức ăn là rệp muội và 50% là rầy
trắng thu ở ngoài đồng, các loài trên có khả năng sinh trong và phát triển cao
(Zhang and Liang, 2000).Ở Trung Quốc loài ong bắt mồi đã được thả trên phạm vi
rộng lớn hàng triệu ha cây trồng mang lại hiệu quả cao trên 70% sau 7 ngày thả.
Trên sâu non ngài gạo được thả trong nhà kính phòng trừ sâu hại trên rau và
nhiều loại cây trồng khác. Bọ mắt vàng Chrysopa sp. là loài bắt mồi ăn trứng và cả
sâu non của nhiều lọai sâu hại rau, loài này có thể làm giảm trên 80% số lượng rệp
sáp hại rau màu ở nhiều nước châu Ầu và châu Á. Ong đen kén trắng Cotesỉa

pluteỉlae được sử dụng ở Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc phòng trù’ sâu tơ hại
rau rất hiệu quả và hiện nay nhiều nước trên thế giớ như Trung Quốc, Philippin,
Nhật Bản, Pháp.. .vv đã có quy trình công nghệ sản xuất ong đen kén trắng trên
quy mô lớn (dẫn theo Ha Quang Trung, 2002).


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tôt nghiệp

Thành công lớn nhất trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự là việc
nghiên cứu, sản xuất quy mô công nghiệp và sử dụng rộng rãi các chế phấm sinh
học như NPV, GV đặc biệt là chế phẩm Bt. Một trong những nghiên cứu biện pháp
sinh học được quan tâm nhiều nhất là nhân thả các loài côn trùng hiệu quả cao
trong khống chế sâu hại, việc nhân thả các loài bắt mồi được tiến hành dưới hai
phương thức: nhân thả tràn ngập với số lượng đủ gây áp lực khống chế số lượng
quần thế sâu hại. Nhân thả bố sung nhằm tạo lập quần thế tự nhiên (Lane Greer,
2000) [20].
1.2.Tình hình nghiên cún ở Việt Nam
Bọ đuôi kìm thuộc bộ cánh da (Dermaptera), là bộ côn trùng biến thái không
hoàn toàn, có phần phụ miệng kiểu nghiêng, mắt kép phát triển, chân bò. Phần

không ảnh hưởng đến bọ đuôi kẹp sọc.
Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Xuân Niệm (1996) [6] đã tìm thấy trên cây
dừa ở các tỉnh phía Nam có 5 loại bọ đuôi kìm thuộc bộ cánh da Dermaptera trong
đó có 2 loài phố biến và có khả năng khống chế bọ cánh cứng hại dừa. Loại bọ đuôi
kìm màu vàng Chelỉsoches varỉegatus tìm thấy ở hầu hết các vườn dừa ở Đồng bằng
sông Cửu Long còn loại bọ đuôi kìm màu đen Chelỉsoches morio chỉ tìm thấy trên
đảo Phú Quốc, cả 2 đều thuộc họ Chelisochỉdae và có khả năng khống chế hiệu quả
bọ cánh cứng hại dừa. Ket quả nhân nuôi bằng thức ăn nhân tạo đã tạo ra số lượng
lớn bọ đuôi kìm và lây thả trên một số diện tích vườn dừa, bước đầu nhân nuôi
loại bọ đuôi kìm màu vàng Chelisoches variegatus bằng thức ăn là ấu trùng ngài
gạo. Đã mở ra một triển vọng chuyển giao cho nông dân chăn nuôi bọ đuôi kìm
bằng thức ăn là ấu trùng ngài gạo để thả trên vườn đừa, để diệt bọ cánh cứng hại
dừa. Bọ đuôi kìm màu vàng có vòng đời khoảng 70 ngày, nên có thể nhân số lượng
khá nhanh, hơn nữa bọ đuôi kìm này từ trưởng thành đến ấu trùng đều ăn sâu non
của bọ dừa, đây là ưu điểm để khống chế mật độ của bọ cánh cứng hại dừa trên
vườn dừa.
Trung tâm BVTV miền Trung (2008) [14] đã điều tra tại Quảng Ngãi năm
2008 ghi nhận có 4 loại bọ đuôi kìm hiện diện trên cây dừa là loài Chelisoches

varỉegatus (đuôi kìm màu vàng), loài Chelisoches morỉo (đuôi kìm màu đen), loài
đuôi kìm cỡ vừa ( chưa xác định tên), loài đuôi kìm cỡ nhỏ (chưa xác định tên).
Trong đó loài đuôi kìm màu vàng rất phổ biến trên các vườn dừa Quảng


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tôt nghiệp

Ngãi, hai loài còn lại chưa định danh được có kích cỡ nhỏ xuất hiện với mật độ rất
thấp. Ket quả nghiên cứu cho thấy vòng đời của Chelisoches variegatus khoảng 67


Khóa luận tôt nghiệp

đó pha trứng 7-10 ngày, pha thiếu trùng 38-63 ngày, pha trưởng thành 21-35 ngày
trong điều kiện nhiệt độ trung bình 19-32°c, ẩm độ trung bình 71-89%, vòng đời
của bọ đuôi kìm màu đen (Euborellỉa sp.) biến động từ 66- 108 ngày, trong đó thời
gian bọ non kéo dài hơn so với thời gian trứng và trưởng thành. Trưởng thành đẻ
trứng thành từng 0 trung bình 45 quả, cao nhất 60 quả, thấp nhất 27 quả. Chúng
tạo các lỗ (hang) ở trong đất đẻ trứng, trứng mới đẻ có màu trắng sữa, sau đó
chuyến sang màu trắng đục, khi trứng sắp nở xuất hiện một chấm đen bằng đầu
kim ở giữa. Âu trùng mới nở rất nhỏ, màu đen hoạt động rất nhanh nhẹn, thường
sống trong các kẽ của đoạn cây thân thảo đã đặt sẵn trong hộp hoăc chui xuống
đất.
Trong điều kiện tự nhiên bọ đuôi kìm tồn tại trên đồng mông nhưng mật độ
không cao. Ket quả nghiên cứu chỉ ra rằng thời điểm thả bọ đuôi kìm tốt nhất khi
sâu hại bắt đầu xuất hiện trên đồng ruộng, số lượng bọ đuôi kìm phóng thích từ 12 c/m2. Thuốc trừ sâu ảnh hưởng lớn đến bọ đuôi kìm trên đồng ruộng.
Qua thí nghiệm Trung tâm hạch toán hiệu quả kinh tế của mô hình trên cây
cà tím cho thấy năng suất ruộng mô hình và mộng nông dân tương đương nhau,
ruộng mô hình chi phí ít hơn ruộng nông dân (do giảm số lần phun thuốc trù’ sâu).
Trung tâm xây dựng quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm màu đen Euborellia

sp. Gồm 5 bước: chuấn bị hộp nuôi, làm ấm giá thế, thả bọ đuôi kìm, cung cấp thứ
ăn, thu hoạch. Vật liệu là cá hộp kích thước 10x15x15 cm, trên khoét lỗ rộng, dán
lưới li cỡ nhỏ, nếu nuôi bằng chậu thì trên miệng bịt bằng vải màn để bảo đảm độ
thông thoáng, không cho bọ đuôi kìm chui ra ngoài. Thức ăn để nuôi bọ kìm là rệp,
sâu tơ, sâu xanh tuổi nhỏ, mật ong... Định kỳ thay thức ăn 2- 3 ngày/lần, trong
trường hợp không có thức ăn tươi sống thì thay bằng cám mèo. Thường xuyên
đảm bảo độ ẩm hỗn họp trong hộp nuôi 70-75%, sau 2-2,5 tháng thu hoạch bọ đuôi
kìm và thả ra ngoài đồng ruộng để trừ sâu hại.


nghiệp như cám mèo, cám cá cảnh nhưng thích ăn cám mèo hơn.


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tôt nghiệp

Quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm do trung tâm đề nghị cũng
tương tự như của trung tâm BVTV miền Trung nhưng thức ăn sư
dụng đế nuôi là trúng, sâu non, sâu tơ, sâu xanh, sâu
khoang, rệp muội...thức ăn công nghiệp là cám mèo. Nếu nuôi
bằng hộp thì thả vào mỗi hộp 20- 25 cặp bọ đuôi kìm trưởng
thành, nếu nuôi bằng chậu thì thả vào mỗi chậu 45- 50 cặp
bọ đuôi kìm trưởng thành.
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIÉM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1.Địa điếm và thòi gian nghiên cún
2.1.1.

Thòi gian nghiên cún

Nghiên cứu được thực hiện từ 10/2014 đến tháng 4/2015
2.1.2.

Địa diểm điều tra nghiên cún

- Tại vùng trồng rau của phường Xuân Hòa- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh
Phúc.
- Nghiên cứu tại phòng thí nghiệm: Tại phòng Côn trùng học Thực nghiệm Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Viện Hàn Lâm Khoa Học và Công Nghệ Việt
Nam.
2.2.Đối tượng nghiên cún

Tiến hành quan sát, theo dõi ngoài tự nhiên và ghi chép để xác định vật mồi
của chúng và những tập tính sinh học, sinh thái của các loài bọ đuôi kìm có ý nghĩa
để từ đó đưa ra các phương pháp và điều kiện thích họp khi nuôi chúng trong
phòng thí nghiệm.
Đe xác định được diễn biến mật độ của một số loài bọ đuôi kìm trên rau họ
hoa thập tự, tôi tiến hành điều tra định kỳ 5-7 ngày/lần tại các địa điểm đã chọn
theo tính ngẫu nhiên trong từng vụ cây trồng. Đơn vị điều tra là 25- 30m 2/điểm,
điều tra các điểm lần sau không trùng với các điểm lần trước. Đơn vị tính mật độ
của các loài bọ đuôi kìm là con/m2.
Điều tra bằng bẫy hố: Điều tra 10 điếm ngẫu nhiên trên đường chép góc của
khu vực điều tra. Mỗi điểm một bẫy hố (kích thước 20x20x5 cm), hố được làm bằng
cách trộn tàn dư cây rau, cỏ dại với đất ẩm.
Bọ đuôi kìm sẽ được bắt tại địa điểm nghiên cứu: Vùng trồng rau màu của
Xuân Hòa.
2.3.2.

Phương pháp theo dõi trong phòng thí nghiệm

Bố trí thí nghiệm:


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tôt nghiệp

Chuấn bị vật liệu thí nghiệm: Đối tượng thí nghiệm là rau họ hoa thập tự tại
địa điểm nghiên cứu, bọ đuôi kìm và vật mồi của chúng; đĩa Petri, hộp nhựa, môi
trường nuôi cấy, vật liệu nuôi cấy...
Theo dõi thí nghiệm: Theo dõi các đặc tính sinh học, đặc điểm hình thái; xác
định vòng đời, khả năng ăn con mồi của bọ đuôi kìm trong một ngày và trong cả

thời gian từ khi cá thể cái đẻ 0 trứng đầu tiên cho đến khi cá thể chết vì sinh lý. Các
thí nghiệm được nhắc lại ít nhất 3 lần. Thức ăn chủ yếu của bộ đuôi kìm là cám
mèo.
Tiếp đó chúng tôi nuôi tập thể ấu trùng tuổi 1 (mới nở từ trứng) trong một
hộp thí nghiệm để xác định khả năng sống trong tập thế của bọ đuôi kìm phục vụ
cho quá trình nhân nuôi bọ đuôi kìm. Hàng ngày theo dõi thức ăn, bông thấm
nước, theo dõi thời gian lột xác của thiếu trùng, thu xác đã lột (đế xác định tuối) và
thường xuyên ghi lại nhiệt độ, ẩm độ ở trong phòng.
2.3.3. Điều tra thành phần loài côn trùng bắt mồi và yật mồi của chúng trên
rau họ hoa thập tự

a)

Điều tra thu thập mâu côn trùng

Tại mỗi điểm điều tra tiến hành điều tra sơ bộ để xác định và chọn lựa các
điểm điều tra có tính chất đại diên cho vùng nghiên cứu. Chọn các điểm ngẫu
nhiên tại các khu vực điều tra. Tiến hành thu mẫu theo cùng một phương pháp
trong tất cả các điểm diều tra. Tiến hành thu thập sâu hại, côn trùng bắt mồi, kí
sinh ở tất cả các giai đoạn phát triển của chúng (trứng, thiếu trùng, trưởng thành)
trên lá, thân cây rau, dưới đất và khu vực xung quanh. Ghi chép các thông tin và
chụp ảnh các nơi thu mẫu cũng như sinh cảnh sống của chúng. Việc thu bắt mẫu
theo phương pháp thu mẫu côn trùng thông thường gồm: thu mẫu bằng tay, sử
dụng ống hút côn trùng và sử dụng vợt côn trùng (đường kính: 40 cm, dài: 2m) để
thu bắt. Tiến hành thu thập mẫu côn trùng bắt mồi và vật mồi trên rau vào thời
điểm nhất định trong ngày từ 5h30 - 8h30, từ 17h - 19h.Trước khi thu bắt quan sát
hoạt động bắt mồi, gây hại và các hoạt động khác trên ruộng rau.
Điều tra chi tiết:
-Chọn ruộng điều tra


Làm tiêu bản và phân tích mâu

Sau mỗi đợt thu mẫu vật tai thực địa, tiến hành xử lý và phân loại sơ bộ mẫu.
Mau phân loại được định vị bằng kim côn trùng hoặc ngâm cồn, mỗi cá thể mẫu
gắn êteket ghi nhận các thông tin về mẫu. Mầu được định vị bằng kim côn trùng
được sấy khô trong vòng 24 - 48 giờ ở nhiệt độ 50°c, xử lý sạch và được bảo quản
trong các hộp gỗ đựng mẫu.

d)

Phương pháp phân loại bằng hình thái

Phân loại học truyền thống bằng hình thái của các loài côn trùng hại và thiên
địch của chúng trên rau họ hoa thập tự theo các tài liệu phân loại côn trùng của các


Trườìĩg ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tôt nghiệp

tác giả: Ivo Hodek, 1973; De Back, 1974; Kenneth A. Sorensen, 1995...VV. Các loài
khó xác định tên tiến hành nhờ kiểm định và so sánh mẫu vật.
2.4. Xác định sự ảnh hưởng của môt số yếu tố sinh thái
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ cnh tác rau đến sự xuất hiện và biến động
mật độ của một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến trên rau ít phun thuốc và rau
phun thuốc nhiều tại Phúc Yên với các công thức thử nghiệm bao gồm: Công thức
1 là công thức rau được trồng quanh năm (rau ít phun thuốc), công thức 2 là công
thức rau trồng theo thời vụ (rau phun thuốc nhiều). Mỗi công thức được chọn với
diện tích 1000 m2. Điều tra diễn biến mật độ (con/m 2) của loài côn trùng bắt mồi
phổ biến (nhóm bọ xít bắt mồi, bọ đuôi kim bắt mồi, bọ cánh cộc 3 khoang và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status