Bước đầu đánh giá hoạt động đầu tư khoa học công nghệ của một số xí nghiệp thuộc tổng công ty dược việt nam giai đoạn 1996 2004 - Pdf 30

BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH G È tìĩO Ậ t ĐỘNG ĐAU Tư
KHOA HỌC CONG NGHỆ CỦA MỘT s ố x í NGHIỆP
THUỘC TỔNG CÔNG TY Dược VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1996 - 2004
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Dược SỸ KHOÁ 2000 -

2005 )

NGƯỜI HƯỚNG DẶN 1 : TS NGUYẼN t h a n h b ìn h
NGƯỜI HƯỚNG DẪN 2 : DS v ũ THỊ ĐOAN TRANG
Nơi thực hiện bộ môn quản lý và kinh tế Trường ĐH Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện : Từ tháng 3/2005 - tháng 6/2005

HÀ NỘI - 06/ 2005


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành nội dung của bản khóa luận này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn tận tình chu đáo của các Thầy giáo, Cô giáo trong bộ môn quản lý
và kinh tê trường Đại học Dược Hà nội.
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các
Thầy giáo, Cô giáo những người đã tận tình truyền đạt, hướng dẫn chúng tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tói Tiến Sỹ Nguyễn Thanh
Bình giảng viên bộ môn Quản lý và Kinh tế Trường Đại Học Dược Hà Nội,
người thầy đã trực tiếp, nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

1.3. Công tác đánh giá KH - CN...................................................................10
1.3.1. Khái niệm đánh giá KH - CN, vai trò của việc đánh giá KH - CN 10
1.3.2. Đặc điểm chung của đánh giá KH - CN của thế giới...................11
1.3.3. Hiện trạng đánh giá KH - CN ở Việt Nam ................................... 13
1.4. Vài nét về Tổng công ty Dược Việt Nam và các xí nghiệp sản xuất Dược
phẩm thuộc Tổng công t y .............................................................................15
1.4.1. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Dược Việt N am .....................15
1.4.2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.......................................17
1.5. Phương pháp đánh giá sự đóng góp của tiến bộ KH - CN đối với tàng
trưởng kinh tê ................................................................................................ 19
1.5.1. Mô hình tính toán tác động của tiến bộ KH - CN..........................21
1.5.2. Phương pháp luận chủ yếu tính toán tác động của tiến bộ KH - CN
đối với tăng trưởng kinh tế (Phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân
tố tổng h ợ p ).................................................................................................................22

Phần II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu....................................... 24
2.1. Đối tượng nghiên cứ u............................................................................24
2.2. Phương pháp nghiên c ứ u ......................................................................24
Phần III. Kết quả nghiên cứu và bàn luận................................................ 29
3.1. Khảo sát thực trạng đầu tư KH - CN của một số xí nghiệp sản xuất
Dược phẩm.....................................................................................................29


3.2. Khảo sát tỷ lệ đóng góp của tiến bộ KH - CN đến tốc độ tăng giá trị
tăng thêm của các xí nghiệp...........................................................................31
3.2.1. Kết quả khảo sát tốc độ tăng trưởng vốn của các xí nghiệp.........31
3.2.2. Kết quả khảo sát số lao động và tốc độ tăng trưởng số lao động .. 32
3.2.3. Tốc độ tăng trưởng bình quânnăm củatổng giá trị sản lượng của
các xí nghiệp............................ .......................................................................34
3.2.4. Tốc độ tăng năng suất các nhântố tổng hợp....................................35


: Doanh nghiệp Việt nam

DNNN

: Doanh nghiệp nhà nước

DNTN

: Doanh nghiệp tư nhân

CNH

: Công nghiệp hoá

HDH

: Hiện đại hoá

KT- XH

: Kinh tế xã hội

KHXHNV : Khoa học xã hội nhân văn
KHTN
UNIDO

: Khoa học tự nhiên
: United Nations Industrial Development Organization (Tổ chức
phát triển công nghiệp của liên hiệp quốc)

hoạt động đẩu tư KH - CN, phát triển sản xuất và đã đạt được những thành
tích đáng tự hào, như tốc độ phát triển nhanh (trung bình 15% năm giai đoạn
2002 - 2004) đã đáp ứng được nhu cầu thuốc thiết yếu của nhân dân gắn với
mô hình bệnh tật, chất lượng thuốc ngày được nâng cao cả về nội dung và
hình thức, đa dạng về chủng loại.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hoạt động sản xuất kinh doanh
của ngành Dược còn bộc lộ nhiều yếu kém đó là: Trình độ công nghệ còn lạc
hậu, năng lực quản lý còn hạn chế, do đó mặc dù sản xuất thuốc trong nước có
tăng về số lượng nhưng chất lượng sản phẩm làm ra còn chưa cao, bao bì
mẫu mã chưa phong phú chưa đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của người sử
dụng, sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước trên thị trường còn thấp so với
hàng ngoại nhập, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường với xu thế mở cửa hội
nhập, sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước ngày
càng gay gắt, mỗi doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển đòi hỏi phải
có những chính sách kinh tế thích hợp, đầu tư phát triển nâng cao trình độ
khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, nhằm tạo ra
những sản phẩm mới có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã bao bì đẹp đủ
sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài.
Nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược của công tác khoa học kỹ thuật,
đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp sản xuất Dược phẩm thuộc Tổng công
ty Dược Việt Nam đã có những bước đầu tư trong việc cải tạo khu vực sản
xuất, đầu tư chiều sâu, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, đổi mới công
nghê, nâng cao năng lực quản lý w...Bước đầu của quá trình đầu tư đổi mới

1


KH- CN đã tại cho ngành Công nghiệp Dược Việt Nam có những bước khởi
sắc, thu được những kết quả khả quan.
Tuy nhiên việc đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư KH - CN trong các

TỔNG QUAN
1.1 Khái quát về phát triển khoa học - công nghệ ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về công nghệ và tầm quan trọng của công nghệ [3]
Trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở Việt Nam, chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo định lượng XHCN.
Nhiều thuật ngữ kinh tế - kỹ thuật đã du nhập vào Việt Nam, trong đó có thuật
ngữ công nghệ.
Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài
người nhưng đến những năm 60 của thế kỷ XX khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu
mới sử dụng thuật ngữ công nghệ để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các
hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học
ứng dụng - một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn - nhằm mang lại
hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người.
Ở Việt Nam nghị quyết 26 của Bộ chính trị, ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam. Khoá VI (1991) mang tên "Nghị quyết về KH CN" như vậy thuật ngữ công nghệ đã được sử dụng chính thức tại Việt Nam.
Năm 1992 uỷ ban KH - KT Nhà nước đổi thành bộ KH - CN và môi trường
(nay là bộ KH - CN).
Khái niệm công nghệ được nước ta sử dụng thống nhất theo khái niệm
công nghệ của Uỷ ban kinh tế và xã hội, khu vực Châu á Thái Bình Dương
ESCAP đưa ra là :
Công nghệ là kiến thức có hệ thông về qui trình và kỹ thuật dùng để chế
biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiêh thức, kỹ năng, thiết bị phương
pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ.
*'

Theo định nghĩa này không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, và
khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội.

3




Kết quả cho thấy, có 57% được hỏi đang sử dụng những máy móc thiết bị từ
những năm 1990; 39% sử dụng thiết bị công nghệ những năm 1980 và vẫn
còn 10% sử dụng máy móc của những năm 1970.
Về thiết bị công nghệ nhập khẩu có 56% doanh nghiệp được hỏi cho biết
rất phụ thuộc vào nước ngoài; 38% cho biết ít phụ thuộc và chỉ có 6% các
doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào thiết bị công nghệ nhập khẩu. Nhận
thức về sự cần thiết tiến hành hoạt động đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ,
máy móc thiết bị có 50% doanh nghiệp cho rằng rất cần thiết. 39% doanh
nghiệp cho rằng cần thiết; 11% doanh nghiệp cho rằng không cần thiết, theo
kết quả khảo sát mức đầu tư dành cho đổi mới thiết bị chỉ tương đương bình
quân 3% doanh thu cả năm.
Đầu tư của các doanh nghiệp cho đổi mới công nghệ chủ yếu để mua
sắm, cải tiến máy móc thiết bị phần cứng. (Thông qua nhập khẩu thiết bị hoặc
mua thiết bị trong nước) hơn là đầu tư cho phần mềm công nghệ (như đầu tư
cho cho nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất hay sản phẩm hiện có, hoặc
thiết kế sản phẩm mới. Thông thường, đầu tư cho công nghệ phần cứng tốn
kém hơn nhiều so với đầu tư cho phần mềm công nghệ do vậy sẽ làm giá
thành sản phẩm làm ra cao do giá trị khấu hao lớn. Mặt khác việc đổi mới
công nghệ của các doanh nghiệp phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài.
Các doanh nghiệp tư nhân trong nước có quy mô nhỏ bé thiếu năng lực
về tài chính để thanh toán các hợp đồng chuyển giao công nghệ trong khi đó
các doanh nghiệp Nhà nước thường muốn nhập khẩu thiết bị từ nước ngoài,
mối liên kết và hợp tác trong sản xuất kinh doanh giữa doanh nghiệp trong
nước và doanh nghiệp nước ngoài yếu, nên dẫn tới việc công nghệ của nước ta
chậm đổi mới so với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và trên
thế giới.

5

- Tập trung đầu tư của nhà nước vào các lĩnh vực trọng điểm ưu tiên,
đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động KH - CN.

6


1.2 Khái quát ngành công nghiệp dược Việt Nam [8].
1.2.1 Trình độ công nghệ dược Việt Nam theo cách phân loại quốc tế.
Theo cách đánh giá của: UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp của
liên hiệp quốc) xác định mức độ phát triển công nghiệp của các quốc gia trên
toàn thế giới, đã phân loại theo năm nhóm.
Nhóm 1: Không có công nghiệp Dược, hoàn toàn nhập khẩu
(Có 59 quốc gia)
Nhóm 2: Đóng gói bán thành phẩm nhập khẩu, gia công
(Có 123 quốc gia)
Nhóm 3: Công nghiệp Dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên
liệu nhập. (Có 86 quốc gia)
Nhóm 4: Sản xuất được nguyên liệu và nguyên liệu trung gian (Có 13 quốc
gia: Ấn độ, Trung quốc, Argentina, Hàn quốc, Mexico, Brazil...)
Nhóm 5: Có khả năng phát minh thuốc mới (Có 17 quốc gia: Các nước công
nghiệp : USA, Canada, Ý, Đức, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung quốc,
Hàn Quốc...)
Việt Nam thuộc nhóm thứ 3, công nghiệp Dược nội địa sản xuất đa số sản
phẩm từ nguyên liệu nhập.
Theo cách đánh giá của WHO & UNCTAD
Phân ra thành các cấp độ sau.
Cấp độ 1 : Hoàn toàn nhập khẩu
Cấp độ 2 : Sản xuất được một số Generic, đa số phải nhập khẩu
Cấp độ 3: Có công nghiệp Dược nội địa sản xuất Generic, xuất khẩu được
một số Dược phẩm.

thuốc tiêu thụ ở Việt Nam.

8


Công nghiệp sản xuất kháng sinh nguyên liệu cũng chỉ có một doanh
nghiệp (CTCP Hoá Dược phẩm Mekopha) chỉ sản xuất kháng sinh nhóm
Betalactam tiêu thụ ở Việt Nam, giá trị sản lượng bằng 1% giá trị thuốc tiêu
thụ ở Việt Nam.
Công nghiệp bao bì có một doanh nghiệp và cũng chỉ cung cấp được 0,6
% lượng bao bì tiêu thụ trong ngành Dược.
Công nghiệp bào chế của nước ta là phát triển hơn cả, đến nay thuốc sản
xuất trong nước đã đáp ứng được khoảng 44 % giá trị tiêu dùng thuốc (năm
2004). Tổng số đăng kí thuốc sản xuất trong nước đến 12/2004 là 7355, trên
tổng số 12181 thuốc đăng kí lưu hành tại Việt Nam (chiếm 60,4%) doanh thu
sản xuất trong nước đều tăng qua các năm: Năm 2002 đạt 3288 tỷ đồng; năm
2003 đạt 3968 tỷ đồng; năm 2004 đạt 4700 tỷ đồng.
Mức tăng trưởng năm 2002/2001 tăng 18,31%; năm 2003/2002 tăng
8,91%; năm 2004/2003 tăng 18%.
Do áp dụng nhiều kĩ thuật mới nên thuốc sản xuất trong nước ngày càng
tăng về chủng loại, chất lượng ngày càng tốt hơn, đã sản xuất được nhiều dạng
bào chế mới: Viên nang mềm, Vi nang, thuốc tác dụng kéo dài, thuốc tiêm
Đông khô, các loại dịch truyền chất lượng cao.
Mặc dù đã đạt được những thành tích nhất định nhưng trong quá trình phát
triển ngành công nghiệp Dược còn có những khó khăn hạn chế sau:
- Quy mô của các Doanh nghiệp Việt Nam ở mức vừa và nhỏ, nên hạn
chế về khả năng đầu tư sản xuất lớn và đổi mới công nghệ.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít.
Sản xuất chủ yếu thuốc Generic, điều trị các bệnh thông thường và các dạng
bào chế đơn giản (>90%), chưa đầu tư sản xuất thuốc chuyên khoa đặc trị,

Vai trò của hoạt động đánh giá KH-CN.
- Hoạt động đánh giá KH-CN góp phần tăng cường tính khoa học cho
quá trình đưa ra quyết sách về các vấn đề liên quan đến KH-CN. Trong quá

10


trình đánh giá, viếc thu thập thông tin phục vụ hoạt động đánh giá từ nhiều
kênh, nhiều góc độ (Bao gồm cả kênh thông tin hành chính và kênh thông tin
phi hành chính) sẽ cung cấp cho quá trình ra quyết sách về các vấn đề có liên
quan đến KH-CN có căn cứ toàn diện hơn và khách quan hơn.
- Các phương pháp đánh giá KH-CN, giúp các cơ quan quản lý có thể
hiểu được một cách chân thực tình trạng thực tế của đối tượng đánh giá, thấy
được nguyên nhân của vấn đề cũng như những điểm mấu chốt cần cải tiến, từ
đó có những điểu chỉnh hợp lý trong công tác quản lý vĩ mô về hoạt động KHCN.
- Phương pháp đánh giá khoa học giúp loại bỏ các khuynh hướng tiêu cực
(làm việc qua loa đại khái, loại bỏ các dự án liên quan đến tình cảm hoặc
trường hợp giả tạo, các dự án có tính hiệu quả kinh tế thấp) do đó sẽ thúc đẩy
được việc đổi mới chế độ quản lý KH-CN và tăng cường mức độ nghiêm túc
trong việc ban hành và thực hiện các chương trình KH-CN của nhà nước.
1.3.2 Đặc điểm chung của đánh giá KH-CN của thế giới.
Hiện nay hoạt động đánh giá KH-CN đã được nhiều quốc gia tổ chức
Quốc tế trên thế giới quan tâm, đặc biệt là những nước đang chuyển đổi sang
kinh tế thị trường như: Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia, Đài loan...Xu
thế chung của thế giới là xây dựng chế độ đánh giá KH-CN trở thành hoạt
động chuyên nghiệp, thể chế hoá hoạt động đánh giá KH-CN. ở Một số nước
phát triển như Mỹ công tác đánh giá KH-CN đã trở thành hành vi công tác
được thể chế hoá, được phát triển hoàn thiện, nội dung đánh giá phong phú và
là hành vi bắt buộc đối với dự án đầu tư. Tại Nga ngày 01/04/1991 Hội đồng
Bộ trưởng Nga đã ra quyết định số 182 về tiến hành đánh giá nhà nước trong

chính phủ áp dụng là:
-

Chúng được xây dựng trên mô hình toán học, tăng cường các chỉ tiêu

định lượng và các phương pháp tính toán nghiêm chỉnh. Mô hình này phù hợp
với hoạt động đánh giá các yếu tố đầu vào sản xuất.

12


- Giải pháp chủ yếu là phương pháp phân tích kết hợp định tính và định
lượng, tiến hành phân tích trình độ thực hiên mục tiêu chương trình đánh giá
và xu thế tốt xấu của đối tượng đánh giá.
- Phán đoán về đối tượng đánh giá một cách khách quan, mô hình này
phù hợp với việc đánh giá các dự toán chương trình và lập dự án.
- Đánh giá theo mô hình tham dự, áp dụng phương thức chủ yếu là những
người có liên quan về lợi ích sẽ tiến hành đối thoại với nhau. Mô hình này phù
hợp cho những đối tượng đánh giá phức tạp và các tập thể có lợi ích không
giống nhau.
Trong quá trình kiểm nghiệm công tác đánh giá trong thực tế, các nước
vẫn không ngừng tìm tòi các mô hình mới cho các đối tượng đánh giá phù
hợp.
1.3.3 Hiện trạng đánh giá KH-CN ở Việt Nam [6].
Những công việc đánh giá đã thực hiện ở Việt Nam.
Công tác đánh giá KH-CN ở Việt Nam được tiến hành ở khâu đánh giá
nghiệm thu. Từ gần 20 năm nay được thực hiện theo quy định 282 (năm 1982)
và hiện nay, quy trình này đang được sửa đổi- đổi mới và chuẩn bị ban hành
với nhiều nội dung được cải tiến.
Việc đánh giá đầu vào về mặt khoa học (đánh giá xác định nhiệm vụ và

trình là không hợp lý, chưa tạo sự bình đẳng thật sự và dễ tạo ra quan hệ riêng
tư và tư tưởng bản vị.
Nước ta chưa có ngân hàng chuyên gia nên cơ quan quản lý chưa nắm
vững năng lực của các chuyên gia, nhiều chuyên gia đánh giá chưa đủ trình độ
và tư cách (như không am hiểu chuyên môn đánh giá, không có công trình
nghiên cứu liên quan đến đối tượng đánh giá, không cập nhật thông tin thường
xuyên.).
Chưa có cơ chế đánh giá uy tín của chuyên gia, chưa có cơ sở dữ liệu
theo dõi hồ sơ chuyên gia, tạo không khí tôn vinh thực sự trong giới KH-CN.

14


Do chưa có quy định đánh giá khoa học và thẩm định dự toán minh bạch
nên không có sự đồng nhất trong nhận thức và đánh giá nên dễ làm cho các
kết quả đánh giá khác nhau gây ra sự hiểu biết không thống nhất trong đánh
giá đầu vào về mặt khoa học, thẩm định dự toán.
Không có hệ thống đánh giá bao quát mọi đối tượng đánh giá trong hoạt
động KH-CN, phương pháp đánh giá mới ở giai đoạn đầu nghiên cứu, mới
được bắt đầu chuyển khai đánh giá đề tài, dự án 2-3 năm nay và đặc biệt là
chưa được quy phạm hoá.
Không có cơ quan chuyên trách, có năng lực và điều kiện đánh giá bên
ngoài, đảm bảo tính khách quan công bằng và trung thực, phục vụ hữu hiệu
công tác quản lý KH-CN khắc phục được những nhược điểm chủ quan của
đánh giá liên quan.
Hiện nay bộ KH-CN của nước ta đang nghiên cứu ban hành dự thảo
“Quy định quản lý hoạt động đánh giá KH-CN” trong đó một mặt quy định
phạm vi của dự thảo này là điều chỉnh mối quan hệ xuất hiện liên quan đến
đánh giá KH-CN đối với các dự án lớn có ý nghĩa quyết định, quy định nhiệm
vụ và nguyên tắc tiến hành đánh giá KH-CN xác định quyền hạn, trách nhiệm

phần; 4 công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài.
Gồm có:
- Khu vực miền Bắc.
1. Xí nghiệp dược phẩm trung ương I
2. Xí nghiệp dược phẩm trung ương n
3. Xí nghiệp hoá dược
4. Công ty dược phẩm trung ương I
5. Công ty cổ phần dược liệu trung ương I
6. Công ty xuất nhập khẩu y tế I
7. Trung tâm dịch vụ - thương mại dược mỹ phẩm
8. Công ty cổ phần dược foripharm
- Khu vực miền Trung.
1. Xí nghiệp dược phẩm trung ương 5 Đà nẵng

16


2. Công ty cổ phần dược phẩm trung ương Huế
3. Công ty Dược trung ương 3
- Khu vực miền Nam.
1. Xí nghiệp dược phẩm trung ương 25
2. Công ty cổ phần dược phẩm VIDIPHA
3. Công ty cổ phần dược phẩm OPC
4. Công ty cổ phần dược liệu trung ương 2
5. Công ty xuất nhập khẩu y tế II
6. Công ty liên doanh Sanoíi Synthelabo Việt Nam
7. Công ty cổ phần hoá dược phẩm MEKOPHA
8. Trung tâm Bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười
9. Công ty cổ phần bao bì dược
10. Công ty cổ phần dược phẩm IMEXPHARM

TL % so
với 1996

Nộp ngân
sẩch (tỷ)

TL % so
với 1996

Lợi nhuận
(Tỷ đồng)

TL % so
với 1996

1996

1.813

100

62,32

100

17,77

100

1997


177

243,16

390

35,17

198

2000

4.096

226

210,22

337

44,11

248

2001

5.135

283


725

142,68

803

2004

8.054

444

472,58

765

189,61

1067

Trong những năm đầu mới thành lập cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật
của các đơn vị thành viên còn nhiều khó khăn: Trang thiết bị máy móc nhà
xưởng lạc hậu, sản xuất còn ở quy mô nhỏ, phương án sản xuất nghèo nàn, các
mặt hàng sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên còn trùng lặp.
Năm 1996 số đăng ký sản phẩm sản xuất của Tổng Công Ty trên 1000
sản phẩm, nhưng số hoạt chất đăng kí chỉ khoảng 200, số hoạt chất này hầu
hết lại trùng lặp với những hoạt chất có trong các sản phẩm của các doanh
nghiệp Dược địa phương.
Đầu ra cho sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn, tổng doanh thu đạt được

trưởng kinh tế [6,10].
Từ khi Việt Nam bắt đầu đổi mới mở cửa ra thế giới đến nay, đặc biệt từ
khi có nghị quyết TW 2 (Khoá VIII), nhận thức về vai trò của KH-CN của
toàn xã hội nâng cao rõ nét và ngày càng khẳng định vai trò động lực của KHCN trong phát triển kinh tế, trong trào lưu hội nhập quốc tế và khu vực, nhiều
doanh nghiệp đã nhận thức là, chỉ có đổi mới công nghệ mới đủ sức cạnh
tranh và tồn tại được trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên vấn đề làm thế

19


nào để có thể đánh giá tác động hay đánh giá sự đóng góp của KH-CN đối với
tăng trưởng kinh tế trong một quốc gia hoặc một ngành nào đó luôn là vấn đề
thời sự, thu hút nhiều quốc gia, nhiều giới xã hội quan tâm. Hơn 3 năm gần
đây nhiều đại biểu trong quốc hội trong văn phòng Chính phủ nhiều lãnh đạo
các bộ ngành đã phát biểu công khai đòi hỏi các nhà khoa học và các nhà
quản lý nhanh chóng đưa ra phương pháp tính toán và đánh giá sự đóng góp
của KH-CN đối với tăng trưởng kinh tế, phục vụ việc đánh giá hiệu quả đầu tư
cho KH-CN. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời dù chỉ là những nét
phác thảo và tư tưởng chỉ đạo ban đầu.
Gần đây một nhóm tác giả của bộ KH-CN môi trường gồm có Tiến sĩ
Nguyễn Nghĩa và Kĩ sư Phạm Hồng Trường sau khi nghiên cứu và tham khảo
các phương pháp đánh giá KH-CN trên thế giới đặc biệt là phương pháp đánh
giá sự đóng góp của tiến bộ KH-CN đối với sự tăng trưởng kinh tế, nhóm tác
giả này đã mạnh dạn giới thiệu và đề xuất phương pháp đánh giá sự đóng góp
của tiến bộ KH-CN đối với sự tăng trưởng kinh tế [6].
Phương pháp mà các tác giả lựa chọn giới thiệu chủ yếu dựa theo kinh
nghiệm của Trung Quốc đã được các cơ quan quản lý tổng hợp của Trung
Quốc (Cục thống kẽ nhà nước, uỷ ban kế hoặch và phát triển nhà nước), công
nhận và ban hành trên cơ sở gần 10 năm nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới
của nhiều đơn vị nghiên cứu KH-CN của Trung Quốc. Phương pháp này có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status