ảnh hưởng các mức protein lên năng suất sinh sản của gà ác - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN VĂN CHUẨN

ẢNH HƯỞNG CÁC MỨC PROTEIN LÊN
NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GÀ ÁC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y

CẦN THƠ, 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN VĂN CHUẨN

ẢNH HƯỞNG CÁC MỨC PROTEIN LÊN
NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GÀ ÁC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs.Ts. NGUYỄN NHỰT XUÂN DUNG
Ths. TRƯƠNG VĂN PHƯỚC

CẦN THƠ, 2013


Con xin vô cùng biết ơn bà nội, cha và mẹ những đấng sinh thành đã sinh ra
con, nuôi nấng, dạy dỗ, yêu thương và dành trọn tình cảm cho con. Cảm ơn
chị hai và anh ba đã quan tâm chăm sóc và động viên em trong suốt thời gian
qua, đã tiếp cho em sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn.
Em xin chân thành cảm ơn:
Toàn thể quý thầy cô trong bộ môn Chăn nuôi - Thú Y đã tận tình hướng dẫn,
chỉ dạy và truyền đạt cho em những kiến thức vô cùng quý báo.
Cô Nguyễn Thị Kim Đông đã hết lòng chỉ dạy và hướng dẫn em trong suốt
quá trình học tập.
Cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn và truyền đạt cho
em nguồn kiến thức quý báo trong suốt quá trình học tập, tạo điều kiện tốt nhất
để em hoàn thành tốt đề tài này.
Thầy Trương Văn Phước chủ trại chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm ở xã
Trung An - Tp. Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi
điều kiện để em hoàn thành tốt thí nghiệm. Tất cả anh em ở trại đã giúp đỡ
trong suốt thời gian thí nghiệm.
Chị Ngô Thị Minh Sương và tất cả các bạn ở phòng thí nghiệm dinh dưỡng đã
tận tâm giúp đỡ và chia sẻ những buồn vui và khó khăn trong thời gian qua.
Các anh chị và bạn bè trong ngành Chăn Nuôi - Thú Y đã giúp đỡ và sát cánh
cùng tôi trong suốt quá trình học tập.
Cuối lời, xin chúc mọi người nhiều sức khỏe và có nhiều niềm vui trong cuộc
sống!
Cần Thơ, Ngày …..Tháng …..Năm …..
Sinh viên thực hiện

NGUYỄN VĂN CHUẨN

i




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN CHUẨN

iii


MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ..................................................................................................i
Tóm Lược .......................................................................................................ii
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................... iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................vi
DANH MỤC BẢNG.....................................................................................vii
DANH MỤC HÌNH .....................................................................................viii
Chương 1: GIỚI THIỆU .................................................................................1
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..............................................................2
2.1 Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của một số giống gà nuôi thả
vườn ở Việt Nam.............................................................................................2
2.1.1 Gà Tàu Vàng ..........................................................................................2
2.1.2 Gà Ta .....................................................................................................2
2.1.3 Gà ta lai miên .........................................................................................2
2.1.4 Gà ta lai rừng..........................................................................................2
2.1.5 Gà Nòi (còn gọi là gà chọi).....................................................................2
2.1.6 Gà Tre ....................................................................................................3
2.1.7 Gà Ác .....................................................................................................3



3.2.4 Cách lấy mẫu trứng ..............................................................................23
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi................................................................................24
3.3.1 Tăng trọng gà mái đẻ............................................................................24
3.3.2 Tỷ lệ đẻ ................................................................................................24
3.3.3 Tiêu tốn thức ăn, g/gà/ngày ..................................................................24
3.3.4 Tiêu tốn thức ăn, g/gà/trứng..................................................................25
3.3.5 Khối lượng trứng, g và khối lượng trứng, g/gà/ngày.............................25
3.3.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn .....................................................................25
3.4 Chỉ tiêu về chất lượng trứng ...................................................................25
3.5 Hiệu quả kinh tế ......................................................................................26
3.6 Xử lý số liệu............................................................................................26
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .....................................................27
4.1 Nhận xét chung về đàn gà trong thời gian thí nghiệm ..............................27
4.2 Ảnh hưởng của các mức độ protein lên năng suất và chất lượng trứng.....27
4.2.1 Ảnh hưởng của các mức độ protein lên tỉ lệ đẻ, tăng trọng và hiệu quả
thức ăn ..........................................................................................................27
4.2.2 Ảnh hưởng các mức độ protein lên tiêu tốn thức ăn, dưỡng chất và năng
lượng ăn vào. ................................................................................................29
4.2.3 Ảnh hưởng các mức độ protein lên chất lượng trứng ............................31
4.3 Hiệu quả kinh tế của các khẩu phần trong thí nghiệm ..............................34
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ..........................................................36
5.1 Kết Luận .................................................................................................36
5.2 Đề Nghị...................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................37
PHỤ LỤC

v


ME

Năng lượng trao đổi

NT

Nghiệm thức

CP T

Nghiệm thức 1 có mức protein 15,5%

CP V

Nghiệm thức 2 có mức protein 16,5%

CP C

Nghiệm thức 3 có mức protein 17,5%

NTDC

Nghiệm thức đối chứng có mức protein 16,0%

P

Phospho

TTTA


7

2.3

Một số enzyme phát hiện trong ống tiêu hóa của gia cầm

8

2.4

Độ dài của các đoạn ruột ở gia cầm

9

2.5

Một số vitamin và khoáng cho từng giai đoạn của gà

16

2.6

Thành phần acid amin của vài loại thức ăn

19

3.1

Công thức phối hợp khẩu phần thức ăn



Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức ứng từng khẩu
phần.

34

vii


DANH MỤC HÌNH
Hình

Tên hình

Trang

2.1

Gà Ác

3

2.2

Cấu tạo hệ tiêu hóa của gà

5

2.3


Thức ăn của từng nghiệm thức

22

3.6

Trứng gà Ác

24

4.1

Ảnh hưởng các mức protein lên khối lượng trứng và hiệu
quả sử dụng thức ăn.

28

4.2

Ảnh hưởng các mức protein lên tỷ lệ đẻ và mức tăng trọng.

29

4.3

Các mức tiêu tốn thức ăn

30

4.4

càng cao của người tiêu dùng mà nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng
trên vật nuôi, những phát hiện mới về các giống vật nuôi quý hiếm nói chung
hay các giống gia cầm có sản phẩm tạo ra giàu dưỡng chất nói riêng được thực
hiện. Gà Ác là một trong những giống gà quý, có nguồn thực phẩm tạo ra từ
thịt và trứng rất giàu dinh dưỡng được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên
giống gà này chỉ được nuôi phổ biến ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
nhất là ở các tỉnh Tiền Giang, Long An và Trà Vinh. Không như các giống gà
khác, gà Ác chỉ được đại đa số các nhà chăn nuôi nuôi để lấy thịt vì thịt gà Ác
rất thơm ngon và bổ dưỡng, nó có chứa nhiều vị thuốc có thể trị được nhiều
loại bệnh khác nhau còn với mô hình nuôi lấy trứng thì chưa được phổ biến
rộng. Nhưng đây cũng là mô hình nuôi đem lại hiệu quả kinh tế khá cao vì sản
phẩm từ trứng gà Ác cũng chứa nhiều dưỡng chất thiết yếu cho cơ thể đáp ứng
được nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời thì giá thành mỗi trứng gà Ác
cũng tương đối cao hơn các giống gà chuyên trứng khác.
Từ trước đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng với các
mức năng lượng và các mức protein lên khả năng đẻ trứng hay sản xuất thịt ở
nhiều giống gà như: gà tàu vàng, gà nòi và các giống gà công nghiệp khác…
Nhưng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về khả năng ảnh hưởng của các
mức protein lên năng suất sinh sản của gà Ác. Vì protein là một trong những
nguồn dưỡng chất thiết yếu có trong khẩu phần thức ăn của các giống vật nuôi
với nhiều tỷ lệ khác nhau tùy vào mục đích sản xuất các giống vật nuôi. Và ở
gia cầm nói chung hay gà Ác nói riêng, protein có ảnh hưởng trực tiếp lên khả
năng sinh trưởng của gà ở từng giai đoạn và vào từng mục đích sản xuất khác
nhau như: giai đoạn gà con, gà trưởng thành, gà hậu bị và gà đẻ trứng…
Chính vì lý do đó mà chúng tôi tiến hành thí nghiệm “ Ảnh hưởng các
mức protein lên năng suất sinh sản của gà Ác” với mục tiêu đánh giá mức
độ ảnh hưởng của protein lên tỉ lệ đẻ, mức tiêu tốn thức ăn, chất lượng trứng
và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Ác.

1

2.1.5 Gà Nòi (còn gọi là gà chọi)
Số lượng không nhiều, rải rác nhiều nơi, thường nuôi để đi thi gà chọi.
Vùng Hóc Môn và các tỉnh miền Đông thường cho lai với gà ta để nuôi lấy thịt
(Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004).
Gà nòi có bộ lông phát triển đầy đủ với cựa bén nhọn và dài. Gà có
khuôn mặt rất “ bảnh gà” và da mặt mỏng, mắt gà nhỏ và tròn, mí mắt mỏng.
Gà mọc cựa rất nhanh, hình thể gà rất bén nhọn và dài. Lông phủ kín toàn

2


thân, lông cổ mọc dài thành bờm và lông mã mọc dài phủ xuống hai bên hông
trông rất đẹp. Đuôi là loại lông ống nhỏ mềm mại, khó gãy, các lông phủ đuôi
mọc dài và cong vòng như lông đuôi chim phụng (Hội Gà Nòi Việt Nam,
2004).
Lúc trưởng thành, gà trống nặng 2,5-3,0 kg, gà mái nặng 1,8-1,9 kg, sản
lượng trứng bình quân 50-60 quả/năm, vỏ trứng màu hồng, da gà vàng thịt
thơm ngon. Ngoài ra trong đàn gà người ta có thể chọn ra những gà trống tốt
để bán gà đá giá cao (Hội Chăn Nuôi Việt Nam, 2004).
Gà nòi có sức khỏe tốt nhưng đẻ ít, khả năng tăng đàn chậm được người
dân nuôi để làm gà chọi trong các lễ hội (Phạm Tấn Nhã, 2010).
2.1.6 Gà Tre
Gà Tre là gà giống gà nhỏ con có màu sắc lông sặc sỡ, nhanh nhẹn, thịt
thơm ngon, nhiều nơi nuôi để làm cảnh. Khối lượng cơ thể trưởng thành ở gà
mái 0,6- 0,7 kg, gà trống 0,8-1,0 kg. Gà mái đẻ bình quân 70 quả/năm. Số
lượng trứng trung bình là 11 quả/ổ. Tuổi đẻ trứng trung bình 148 ngày (Hoàng
Toàn Thắng et al., 2004).
2.1.7 Gà Ác
Gà ác nhỏ con có lông trắng tuyền, mỏ và da đen, chân có năm ngón đen
xanh. Khối lượng lúc cơ thể trưởng thành ở con mái là 0,5-0,8 kg, con trống

lượng lúc mới nở là 16,3-16,5 g, 60 ngày tuổi là 299 g và 120 ngày tuổi đạt
639-757 g.
Bảng 2.1: Khả năng sinh trưởng của gà Ác Việt Nam
Chỉ tiêu
Đơn vị
Tỷ lệ nuôi sống (0-8 tuần tuổi)
%
Khối lượng cơ thể một ngày tuổi
g
Khối lượng cơ thể 8 ngày tuổi
g
Khối lượng cơ thể 9 ngày tuổi
g
Sinh trưởng tuyệt đối cao nhất (9 tuần tuổi)
g
Tỷ lệ thịt xẻ (8 tuần tuồi)
%
Tỷ lệ thịt lườn (8 tuần tuổi)
%
Tỷ lệ thịt đùi (8 tuần tuổi)
%
Tiêu tốn thức ăn giai đoạn 8 tuần tuổi
kg

Trung bình
95,5
18,5-18,8
309,6-370,4
378,6-446,9
9,8-13,8

tay, riêng mỏ có khía cho nước thoát ra khi chúng lấy thức ăn trong nước. Mỏ
loài chim có hai tác dụng: vừa để lấy thức ăn, vừa để kìm giữ khi tiến hành
giao phối, vừa để làm vũ khí chiến đấu tự vệ. Nó không thích hợp cho sự nhai
nghiền thức ăn như ở động vật có vú. Cũng chính vì lẽ đó khi nuôi gà theo lối
công nghiệp, mật độ cao, những sơ xuất trong kỹ thuật như khẩu phần ăn thiếu
protein, thiếu muối, thiếu xơ hoặc muối quá chật, quá nóng… có thể dẫn đến
sự cắn mổ ăn thịt lẫn nhau (Cannibalismus) gây tổn thất lớn trong chăn nuôi
(Dương Thanh Liêm, 2003).
Xoang miệng: trong xoang miệng có lưỡi và hệ thống tuyến nước bọt rất
phong phú và phức tạp hơn động vật có vú. Về mặt giải phẩu có thể phân biệt
làm 8 loại tuyến khác nhau: tuyến hàm trên (Maxilary), tuyến cạnh lỗ mũi
(Palatine), tuyến trên hầu (Spheno-pterygoid), tuyến giữa miệng và hầu
(Anterior submandibular), tuyến sau xoang miệng (Posterior Submandibular),
tuyến dưới lưỡi (Lingual), tuyến trước thanh quản (Crico-arytenoid), tuyến
khóe miệng (Small) (Dương Thanh Liêm, 2003).

5


2.3.2 Thực quản và diều
Thực quản: ống thực quản ở gia cầm dài hơn so với động vật có vú.
Đoạn ống thực quản phía trước xoang ngực được phình to ra thành một cái túi
chứa thức ăn gọi là diều, sau đó nhỏ lại bình thường và nói với dạ dày tuyến
(Dương Thanh Liêm, 2003).
Trong tất cả các khoan của thực quản đều được phủ một lớp nhầy gấp
nếp. Trong bề dày của nó các tuyến nhầy hình ống. Các tuyến của ống thực
quản tiết ra chất nhày thấm ướt bề mặt của vỏ nhày làm viên thức ăn di chuyển
dễ dàng trong diều, các tuyến nhày chỉ có ở thành phía trên chổ tiếp giáp với
thực quản (Lê Hồng Mận và Bùi Lan Hương Minh, 1989).
Hình thức giữa thực quản và diều của gà rất dễ phân biệt lúc no cũng như


lớp tế bào tăng sinh là lớp mô cơ rất phát triển, màu đỏ sậm. Nhờ có hệ thống
này, giúp cho mề co bóp rất mạnh, nghiền nát thức ăn chuẩn bị cho tiêu hóa
thức ăn ở ruột. Mề co bóp có chu kỳ, tùy theo tính chất thức ăn mà chu kỳ co
bóp thay đổi. Để giúp cho việc nghiền thức ăn loài chim thường ăn những hạt
sỏi nhỏ granit. Nếu thiếu sỏi thì làm khả năng tiêu hóa thức ăn hạt trên 10%.
Khi gà ăn xơ nhiều hoặc ăn lông thì sỏi giúp nghiền nát nhanh hơn, gà tiêu thụ
thức ăn nhiều hơn (Dương Thanh Liêm, 2003).
Trong thực hành chăn nuôi gà công nghiệp, một số tác giả đề nghị nên
trộn với tỷ lệ thấp cát to hạt vào thức ăn hoặc thỉnh thoảng cho ăn sỏi một lần
với kích cỡ như sau:
Bảng 2.2: Kích thước hạt sỏi bổ sung cho gà
Tuổi của gà
Gà con dưới 5 tuần tuồi
Gà giò 5-12 tuần tuổi
Gà trưởng thành

Kích thước đường kính hạt sỏi
1-2 mm
3-4 mm
4-6 mm

Nguồn: Dương Thanh Liêm (2003) trích dẫn từ Bogre (1964).

Ngoài tự nhiên thì gà chọn những viên sỏi có kích cỡ thích hợp để ăn.
Tùy theo tính chất của hạt sỏi mà độ bền trong môi trường dịch vị có chứa
HCl khác nhau. Tùy theo ta cho gia cầm ăn liên tục sỏi hay cách quảng mà
viên sỏi tồn tại ở dạ dày mau hay lâu. Nếu cho gia cầm ăn một lần sỏi granit
thì nó có thể tồn tại đến 8-12 tháng. Nếu cho ăn tự do thì hạt sỏi mới sắt cạnh
sẽ thay thế hạt cũ. Như vậy một năm một con gà mái có thể ăn 2kg sỏi. Một

nhất là ở đoạn hồi ruột non giữa (Jejunum).
Bảng 2.3: Một số enzyme phát hiện trong ống tiêu hóa của gia cầm
Vị trí

Dịch
tiết

phân Tên enzyme

Cơ chất enzym Sản phẩm thủy phân
tác động
cuối cùng

Miệng
Nước bọt
Diều
Dịch diều
Dạ dày Dịch vị HCl
tuyến

Ptyalin (ít)
Lactase*
Pepsine

Tinh bột
Latose
Protein

Maltose (rất ít)
Glucose, lactose

Lipid

Glucose
Acid béo, glycerine
Acid amin
Trypsin
Monosacchrarid
Ribose, deroxyribose
Lipid nhũ hóa thành
hạt nhỏ, hấp thụ trực
tiếp

Nguồn: Dương Thanh Liêm (2003) trích dẫn từ Bell Freeman.

Sự hấp thụ các dưỡng chất trong đường tiêu hóa của gia cầm rất khẩn
trương. Điều này thể hiện qua mật độ lông nhung trên 1cm2 ở ruột non gia
cầm rất lớn, hơn tất cả các loài gia súc khác. Chất bột đường tiêu hóa nhanh và
hấp thu nhanh ở giai đoạn trên của ruột non, protein phân giải thành acid amin
chậm hơn nên nó được hấp thu nhiều nhất ở đoạn kế tiếp của ruột non.
Ruột già: ruột già của gia cầm được chia làm ba phần: manh tràng, kết
tràng và trực tràng. Manh tràng (Caecum) có cấu tạo thành 2 nhánh đối xứng
nhau rất phát triển, chỗ tiếp giáp giữa ruột non và ruột già có van gọi là van
hồi manh tràng không cho thức ăn đi ngược từ ruột già lên ruột non. Ở manh
tràng có sự lên men vi sinh vật, vì vậy một phần chất sơ dễ tiêu hóa cũng được
tiêu hóa ở đây. Song khả năng tiêu hóa chất sơ ở gia cầm có giới hạn. Ở gà chỉ

8


tiêu hóa được 0.1% chất xơ, ở ngỗng thì tiêu hóa chất xơ khá hơn khoảng

85-120
90-140
Đoạn dưới ruột non (Ileum)
13-18
10-18
Đoạn ruột già
15-25
10-20
Tổng chiều dài ruột
120-250 115-230

Ngỗng
40-49
150-183
20-28
22-34
250-365

Bồ câu
11-12
45-72
8-12
0,3-0,5
70-130

Nguồn: Dương Thanh Liêm (2001) trích dẫn Hoffman – woolker (1966).

2.4 Bộ phận sinh dục của gia cầm mái và sự hình thành quả trứng
Cơ quan gia cầm mái gồm nhiều bộ phận hợp thành với những chức năng
khác nhau, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành quả trứng.

Phễu (Infundibulum): là phần mở rộng ở phía đầu của ống dẫn trứng, dài
4-7 cm, đường kính 8-9 cm, nằm dưới buồng trứng, niêm mạc phễu xếp nếp,
miệng phễu loa rộng để hứng trứng. Trứng được thụ tinh và dừng lại ở đây

10


không quá 20-30 phút. Phễu được chia thành 2 phần: phần phễu và cổ. Cổ là
phần chuyển tiếp, lớp lòng trắng đầu tiên được bao bọc xung quanh trứng là cổ
ở cổ phễu. Lòng trắng nhày hơi đặc được các tuyến hình ống tiết ra quấn lấy
lòng đỏ. Lòng đỏ đi qua phần đầu của ống dẫn trứng quay chậm, chỉ có sợi
nhày cuộn quanh nó tạo nên dây chằng. Dây chằng cho lòng đỏ ở tâm của quả
trứng. Đến cuối phần phễu thì lòng đỏ được tạo thêm một lớp nằm gần bên
trong của lòng trắng loãng.
Phần rộng (Magnum): là phần dài nhất của ống dẫn trứng, 30-50 cm.
Niêm mạc có những nếp xếp dọc trong đó có một lượng lớn tuyến ống có cấu
tạo giống như các tuyến ở phần cổ phễu. Đầu tiên những tuyến hình ống tiết ra
chất tiết đặc để bao quanh lòng đỏ, sau đó tiết ra chất tiết loãng (ở bên ngoài)
của lòng trắng. Ngoài ra nó còn là nguyên liệu để tạo nên dây chằng. Thời
gian trứng ở trong này là không quá 3 giờ.
Phần eo (Isthmus): là phần hẹp nhất của ống dẫn trứng, dài 8 cm. Tại đây
lớp vỏ ngoài của lòng trắng được bổ sung và tạo màng vỏ trứng. Các tuyến ở
eo tiết ra chất hạt giống như keratin tạo nên lớp sợi quấn chắc lấy nhau để hình
thành lớp màng. Các lỗ của màng dưới vỏ tạo điều kiện cho dung dịch muối
vào lòng trắng làm gia tăng khối lượng của lòng trắng. Trứng nằm trong phần
này khoảng 1 giờ.
Tử cung (yterrus): là phần mở rộng tiếp theo của phần eo có dạng hình
túi, có chiều dài từ 10-12 cm. Các nếp nhăn của niêm mạc rất phát triển được
xếp theo chiều ngang và xiên. Tuyến của vách cùng tiết ra một loại dịch loãng.
Chất dịch này thấm qua màng dưới vỏ trứng và lòng trắng. Trong thời gian

và các cơ quan khác. Protein còn là thành phần của các enzym, hoocmon và
kháng thể (Grigorev, 1981).
Protein tham gia cấu tạo tế bào, là thành phần quan trọng của sự sống,
chiếm khoảng 1/5 khối lượng cơ thể gà, 1/7-1/8 khối lượng trứng. Thịt, trứng,
tế bào trứng, tinh trùng… đều cấu tạo từ prôtid tham gia cấu tạo các men sinh
học, các hocmon… protein cung cấp năng lượng cho cơ thể, (Bùi Xuân Mến,
2008).
Protein là cơ sở của sự sống, chúng thực hiện vai trò tạo hình và cấu tạo
nên tế bào, hormone, kháng thể. Protein là nguồn năng lượng duy trì trạng thái
cân bằng acid-bazơ điều hòa và trao đổi chất trong cơ thể (Melkhin &Grindin,
1997).
Tỷ lệ protein trong khẩu phần gà con 0-4 tuần tuổi là 22-24%, 5-8 tuần
tuổi 21-22%, gà dò 19-21%, gà nuôi thịt 20-22%, gà đẻ pha I là 17-18%, pha
II là 15-16%.
Acid amin gồm nhóm acid amin không thay thế và nhóm acid amin thay
thế.
Nhóm không thay thế là axit amin thiết yếu, trong cơ thể động vật không
tổng hợp được, phải cung cấp từ nguồn thức ăn đưa vào. Nhóm này gồm 10
loại là: Arginin, Histidin, Leucin, Isoleucin, Phenylalanin, Valin, Treonin,
Lyzin, Methionine, Trypthophan.
Trong các loại axit amin không thay thế thường chú ý cân đối bổ sung
vào khẩu phần methionine và lyzin bằng loại tổng hợp là Dl-methionine và
L-lyzin.
Lyzin là acid amin quan trọng nhất cho sinh trưởng, sinh sản đẻ trứng,
cần cho tổng hợp nucleoproteid, hồng cầu, trao đổi azot, tạo sắc tố melanin ở
lông, da.

12



amin thiết yếu trong thức ăn được yêu cầu để giúp cho tốc độ tăng trưởng mô
cơ thể có thành phần không thay đổi. Tuy nhiên, khi nhu cầu protein được biểu
thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc
vào sự tiêu thụ thức ăn. Mức năng lượng trong khẩu phần có thể là sự xem xét
quan trọng nhất trong việc đánh giá lượng thức ăn ăn vào. Vì lý do này mà các
nhu cầu được biểu diễn theo phần trăm của khẩu phần luôn có liên quan tới
mức năng lượng của khẩu phần đó.
Nhu cầu đẻ trứng: với mỗi quả trứng được đẻ, một gà mái phải sinh sản
ra khoảng 6,7 g protein. Lượng protein này tương đương với lượng protein

13


tích lũy hàng ngày của một gà thịt đang sinh trưởng có mức tăng trọng
37 g/ngày. Mặc dù gà mái không đẻ thường xuyên hàng ngày nhưng protein
cho duy trì cũng phải được xem xét và nhu cầu protein hàng ngày cho những
gà mái đang đẻ cao cũng đầy đủ như gà thịt đang sinh trưởng nhanh (Bùi Xuân
Mến, 2008).
Trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng trọng nên
chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng. sau đó nhu cầu
của protein cho tăng trọng giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên. Để
có thể tạo ra được những trứng lớn và đạt tỷ lệ đẻ tối đa, một gà mái một ngày
cần phải tiêu thụ 17 g protein (cân đối các acid amin).
Trong bất cứ nghiên cứu nào về nhu cầu protein của gà mái đang đẻ phải
đương nhiên thừa nhận một sự cân đối hợp lý các acid amin trong protein của
khẩu phần. Thiếu hụt một acid amin thiết yếu sẽ làm giảm sút khả năng sản
xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và giảm mức protein tổng số. Việc xác định
nhu cầu các acid amin riêng rẽ cho gà mái có khó khăn hơn cho gà thịt. Vì thế
những ước lượng nhu cầu acid amin cho gà mái đẻ chủ yếu dựa vào thành
phần các axit amin của protein trong trứng. Tỷ lệ của các axit amin thiết yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status