hợp đồng mua bán lúa, thực tiễn tại huyện tháp mười tỉnh đồngtháp - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƢ PHÁP


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)

HỢP ĐỒNG MUA BÁN LÚA,
THỰC TIỄN TẠI HUYỆN THÁP MƢỜI TỈNH ĐỒNGTHÁP

Giảng viên hướng dẫn:
Ths:NGUYỄN THỊ NGỌC TUYỀN
Bộ môn: Luật Tƣ pháp

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN DUY PHƢƠNG
MSSV: S120064
Lớp: Luật Hành Chính – K38

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................
2. Mục tiêu nghiên cƣ́u của đề tài .............................................................................

̣
̣c Tuyề n

2

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

2.2.1. Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng ...............................................
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán lúa ....................
2.2.2.1. Quyền và nghĩa vụ của bên mua lúa ........................................................
2.2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của bên bán lúa .........................................................
2.3. Các trƣờng hợp hợp đồng vô hiệu .....................................................................
2.4. Chấm dứt hợp đồng mua bán lúa ......................................................................
2.4.1. Chấm dứt hợp đồng mua bán khi hoàn thành hợp đồng mua bán lúa ......
2.4.2. Chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận của hợp đồng mua bán lúa ..............
2.4.3. Chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bị hủy bỏ hợp đồng mua bán lúa ...
2.5. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán lúa ..................................................
2.5.1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán lúa hình thức hòa giải ...........
2.5.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán lúa hình thức thƣơng lƣợng .
2.5.3. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán lúa hình thức Tòa án ............
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN LÚA TẠI
HUYỆN THÁP MƢỜI TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY – MỘT SỐ VƢỚNG
MẮC VÀ HƢỚNG HOÀNG THIỆN..........................................................................
3.1. Tổng quan về nền nông nghiệp huyện Tháp Mƣời ...........................................
3.1.1. Tình hình chung hoạt động mua bán lúa ...................................................
3.1.2. Thực tiễn giao kết hợp đồng mua bán lúa tại huyện Tháp Mười ...............

hàng triệu USD trên năm, ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói chung và huyện
Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp nói riêng đất ngọt ven bờ sông Tiền và sông Hậu, Đồng
bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên hơn 4 triệu ha trong đó đất sử dụng vào mục
đích nông nghiệp khoản 3 triệu ha. Trong đó không có vùng nào có diện tích lớn hơn
như vậy, nó chiếm ¾ diện tích của vùng, diện tích tự nhiên của vùng và 1/3 đất nông
nghiệp vùng được phù sa bồi đấp, nên đất đai màu mỡ, nhất là dãi đất phù sa ngọt màu
mỡ, nhất là dãi phù sa ngọt có diện tích 1.2 triệu ha dọc sông Tiền và sông Hậu, có
điều kiện tự nhiên thiên nhiên ưu đãi, thích hợp cho việc nuôi trồng và phát triển nông
nghiệp, đời sống người dân trong vùng chủ yếu dựa vào ngành sản xuất nông nghiệp là
chính. Vùng khu vực đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi kênh rạch
chằng chịt đặc biệt có, huyện Tháp Mười nằm ở vùng thấp, tương đối bằng phẳng,
kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo và dự trên nền nông nghiệp mua ban lúa diễn
ra rất phổ biến. Nông dân là người trực tiếp sản xuất ra lúa mà cũng là chủ thể đứng ra
giao kết hợp đồng mua bán lúa. Để tìm hiểu sâu hơn những qui định pháp luật cũng
như thực tiễn về hợp đồng mua bán lúa. Hiện nay hệ thống giao thông thuận lợi
phương tiện kỹ thuật phát triển thì các hình thức thâm canh năng xuất thì người nông
dân. Thời gian qua, các địa phương tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức liên kết sản xuất, tiêu
thụ lúa theo từng mùa vụ giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua Hợp tác xã nông
nghiệp, Tổ hợp tác mang lại hiệu quả cao. Nông dân trồng lúa bước đầu xác định việc
phải liên kết lại giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân với doanh nghiệp thì sản
xuất mới bền vững, không sợ tình trạng bị thương lái ép giá. Tuy nhiên, qua từng mùa
vụ, liên kết sản xuất đã bộc lộ một số bất cập như: hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu
thụ giữa doanh nghiệp và nông dân chưa cụ thể, chặt chẽ, chưa có những điều khoản
ràng buộc mang tính pháp lý...
Nguyên nhân khách quan do thị trường xuất khẩu gặp khó khăn thì nguyên nhân
chủ quan do hợp đồng liên kết giữa doanh nghiệp và hợp tác xã đa số còn lỏng lẻo,
thiếu chặt chẽ, các nội dung cơ bản của hợp đồng chưa cụ thể, nhất là các tiêu chí về
chất lượng lúa, thời gian thu hoạch, khảo sát và thỏa thuận giá thị trường, phương pháp
GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣

thật sự phù hợp với thực tiễn của luật để từ đó đưa ra giải pháp giúp hoàn thiện hơn
pháp luật trong hoạt động mua bán.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Hợp đồng dân sự là một đề tài phạm vi nghiên cứu khá rộng tuy nhiện trong thời
gian cho phép cũng như khả năng kiến thức bản thân có giới hạn nên tác giả chỉ tập
trung nghiện cứu về hợp đồng mua bán lúa, thực tiễn tại huyện Tháp Mười tỉnh Đồng
Tháp.
5. Bố cục của đề tài
Đề tài bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, phần nội dung của
đề tài được chia thành ba chương như sau.
Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng mua bán lúa.
Chương 2: Những qui định pháp luật về hợp đồng mua bán lúa.
Chương 3: Thực tiễn giao kết hợp đồng tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
hiện nay – Một số vướn mắc và hướng hoàn thiện.

GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣
̣c Tuyề n

5

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN LÚA
1.1. Lƣợc sử hình thành và phát triển về hợp đồng mua bán lúa

năng xuất cao trình độ thâm canh trồng trọt thì chưa tiến bộ chủ yếu là thâm canh theo
truyền thống ông cha, chỉ gieo sạ một vụ trên năm và năng xuất lại thấp nên trong giai
GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣
̣c Tuyề n

6

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

đoạn này chủ yếu để giải quyết nạn đói năm 1945. Mặt khác, Miền nam là khu vực sản
xuất lương thực chủ yếu thì lại đang bị đế quốc Mỹ xâm chiếm, do chiến tranh nên
hoạt động mua bán nói chung hoạt động mua bán lúa nói riêng cũng ảnh hưởng phần
nào. Chịu sự quản lí của nhà nước, nông dân không có quyền mua bán lúa mà sau khi
thu hoạch sẽ chia cho nhân dân.
Giai đoạn 1975 – 1986
Thời kỳ đất nước ta hoàn toàn giải phóng, độc lập thống nhất đất nước, kinh tế
dần dần phát triển, và cũng là thời kỳ đầu bao cấp do đất nước mới vừa được giải
phóng miền nam thống nhất đất nước. đời sống người dân ngày một được cải thiện. đất
ruộng còn hoang hóa do chiến tranh để lại một phần đất còn phèn mặn, diện tích đất
còn nhiều vùng chưa được đầu tư, họat động mua bán nông sản thời kỳ này diễn ra
trong tập đoàn nhà nước là chủ yếu, người nông dân khi họ sản xuất ra nhiều lúa
nhưng không có quyền tự do mua bán, mua bán thì phải còn lệ thuộc vào chính sách
của nhà nước lúc bấy giờ. Do nguồn lương thực còn ít, đề đảm bảo chiến lược an ninh
lương thực quốc gia nên họat động mua bán lúa chỉ do nhà nước chi phối và điều tiết
là chính.

Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

Từ khi pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991.
Pháp lệnh hợp đồng dân sự quy định hình thức hợp đồng có thể giao kết bằng
miệng bằng văn bản. Đối với hợp đồng mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản,
đăng ký, hoặc chứng thực cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì các bên phải tuân theo
quy định đó. Tuy nhiên hình thức hợp đồng không là điều kiện để hợp đồng có hiệu
lực và chưa được coi trọng, để các chủ thể tự do giao kết dưới hình thức các bên lựa
chọn. bên cạnh đó, pháp lệnh còn quy định hình thức một số hợp đồng trong giao dịch
đảm bảo như hình thức hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng bảo
lãnh phải lập thành văn bản phải được nhà nước công chứng và chứng thực. Pháp lệnh
hợp đồng dân sự 1991 chưa cụ thể hóa một số hợp đồng thông dụng trong giao lưu
mua bán trao đổi hàng hóa chỉ qui định đối với những hợp đồng cần thiết đối với pháp
luật hình thức hợp đồng dân sự. Trong bói cảnh nước ta mới dành được độc lập, cùng
với đang xây dựng nền kinh tế, chính trị… thì pháp luật trong pháp lệnh hợp đồng dân
sự năm 1991 quy định hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng phần
nào đáp ứng mong mỏi của chủ thể giao lưu dân sự lúc bấy giờ và công cuộc xây dựng
và quản lí đất nước của nhà nước ta.
Bộ luật dân sự năm 1995 để đảm bảo pháp lý cho các quan hệ hợp đồng dân sự
trong điều kiện phát triển kinh tế đất nước không ngừng thay đổi, góp phần thúc đẩy
sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa đã cho ra đời của bộ luật dân sự năm 1995.
Bộ luật được thông qua ngày 28/10/1995 quốc hội khóa IX, kỳ họp lần thứ 8 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/1996. Hình thức hợp đồng được quy định hợp đồng có
thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng một hành vi cụ thể khi pháp luật
không qui định hợp đồng đó phải được giao kết dưới một hình thức nhất định, khi các
bên đã thỏa thuận giao kết bằng một hình thức nhất định, khi các bên thỏa thuận giao
kết hợp đồng bằng hình thức nhất định, thì hợp đồng có thể được giao kết theo hình
thức hợp đồng đó, phải được lập thành văn bản có công chứng và chứng thực, có đăng
ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó. Quy định hình thức hợp đồng trong

ghi nhận thêm hình thức giao dịch bằng điện tử cũng xem là giao dịch bằng văn bản
trong ký kết hợp đồng.
Bộ luật dân sự năm 2005 có nhiều điểm kế thừa và có tiến bộ hơn Bộ luật dân sự
năm 1995 Cụ thể Bộ luật dân sự 2005 qui định hình thức hợp đồng2: “trong trường
hợp pháp luật qui định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng và
chứng thực, đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó”. Ngoài ra hợp đồng
không bị vô hiệu trong trường hợp không vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp
luật có qui định, quy định Bộ luật dân sự năm 2005 chú trọng yếu tố tự do lựa chọn
hình thức hợp đồng trong khi giao kết chính vì vậy cũng đã quy định hợp đồng không
bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm hình thức của hợp đồng.
Theo qui định của Bộ luật dân sự năm 2005 hợp đồng không bị vô hiệu trong
trường hợp không vi phạm về hình thức trừ trường hợp pháp luật không qui định khác.
Theo qui định này thì hợp đồng dân sự là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng khi pháp
luật có qui định. Giao dịch dân sự vi phạm hình thức của hợp đồng mà các bên không
khởi kiện hay yêu cầu giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức hợp đồng thì tòa án không
xem xét, nếu trường hợp đương sự yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi
phạm hình thức quy định tại điều 136 Bộ luật dân sự 2005, thời gian tuyên bố vô hiệu
là 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, quá thời hạn này đương sự mới yêu
cầu thì không được chấp nhận. Sau đó tòa án buộc các bên thực hiện quy định về hình
thức của của giao dịch trong thời hạn: quá thời hạn đó mà không thực hiện thì hợp
đồng vô hiệu.
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Dù được
hình thành trong lĩnh vực quan hệ xã hội nào thì hợp đồng luôn có những điểm chung
sau đây:
1
2

Khoản 2 điều 145 Bộ luật dân sự 1995
Khoản 1 Điều 401 Bộ luật dân sự 2005

ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự
ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như
vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.
- Ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ
năng lực hành vi để xác lập hợp đồng.
- Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng. Sự thống nhất ý
chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể. Mọi hợp đồng phải có đối tượng
xác định. Đối tượng của hợp đồng phải được xác định rõ rệt và không bị cấm đưa vào
các giao dịch dân sự – kinh tế. Chẳng hạn, đối tượng của hợp đồng mua bán phải là
những thứ không bị cấm. Nếu đối tượng của hợp đồng là bất hợp pháp thì hợp đồng bị
coi là vô hiệu.
Một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó có hiệu lực như
pháp luật đối với các bên giao kết. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng.
Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng
buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi
phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu. Khi giải quyết
tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án hoặc trọng tài phải căn cứ vào
các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để ra bản án hoặc quyết định
công bằng, đúng đắn.
GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣
̣c Tuyề n

10

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng
được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể suy luận
ngược lại mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là hợp đồng
những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích
thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây
phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các hợp đồng
được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự
3

SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HỢP ĐỒNG - PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ – Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣
̣c Tuyề n

11

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự
ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như
vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.
Ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ
năng lực hành vi để xác lập hợp đồng.


GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣
̣c Tuyề n

12

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp
đồng, nhưng không được trái với đạo đức xã hội.
Chủ thể hợp đồng mua bán lúa phải có ích nhật từ hai bên, vì giao dich dân sự
phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng mua bán lúa là giao dich pháp lý đơn
phương song phương hay đa phương cácchủ thể hiện hợp đồng khi giao kết, thực hiện
hợp đồng phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của
pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự mục đích hướng tới của các bên khi
tham gia hợp đồng là để xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Hợp đồng mua bán lúa có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hành vi cụ
thể, khi pháp luật không quy định đối với hợp đồng đó phải được giao kết bằng một
hình thức nhất định.
Trong trường hợp pháp luật qui định hợp đồng phải được thê hiện công chứng
chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải theo các qui định đó.
1.3.2. Phân loại hợp đồng mua bán lúa
Là hợp đồng song vụ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia
giao kết hợp đồng. Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại vì bên mua
nhận lúa còn bên bán nhận tiền, bên bán có quyền và nghĩa vụ bảo vệ tài sản cho bên


Ví dụ: anh A sau khi mua lúa của ông B bài tỏ ý chí muốn tiếp tục giao kết hợp
đồng với ông B mua lúa mùa sau với giống và chất lượng như mùa này. Nên hai bên
đã thỏa thuận chấp nhận mua bán với nhau bằng hợp đồng miệng.
Là hợp đồng có tính chất chuyển giao tài sản: hợp đồng đã giao kết khi các bên
thực hiện hợp đồng thì có sự chuyển giao giữa bên bán và bên mua sau khi bên mua đã
thực hiện xong nghĩa vụ tài chính cho bên bán. Trong trường hợp hợp đồng thanh toán
nhiều lần thì bên bán sẽ chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua sau khi nhận được
một khoản tiền hai bên đồng ý hoặc tùy vào sự thỏa thuận của cac bên. Thông thường
mua bán lúa giữa thương lái với nông dân hai bên thỏa thuận việc mua bán thì thương
lái sẽ thanh toán đủ tiền cho bên bán sau khi nhận lúa đầy đủ và đúng chất lượng, việc
chuyển giao từ thương lái và người nông dân là đã chuyển giao quyền sở hữu, lúa là
loại tài sản mà không đăng kí quyền sở hữu nên người nông dân giao quyền sở hữu
cùng với nông sản mà mình sở hữu cho thương lái.
1.4. So sánh hợp đồng mua bán lúa với hợp đồng mua bán tài sản khác
Hợp đồng dân sự trong bộ luật dân sự 2005 và sự đa dạng của các hợp đồng dân
sự mà pháp luật thừa nhận hợp đồng dân sự có thể hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau, tùy theo tính chất và đối tượng hợp đồng và nhu cầu của con người mà hợp đồng
có sự khác nhau.
So sánh hợp đồng mua bán lúa với hợp đồng mua bán nông sản khác
Hợp đồng mua bán lúa với hợp đồng mua bán nông sản có cùng điểm chung là
hợp đồng mua bán tài sản, từ nông nghiệp, có cùng chung là hợp đồng song vụ khi hai
bên giao kết hợp đồng mang tinh chất ưng thuận, “ thuận mua vừa bán”
Nội dung của hợp đồng điều do hai bên giao kết, do sự thoả thuận của hai bên về
cách thức thanh toán do hai bên chọn,
Quyền và nghĩa vụ của hai bên điều bằng nhau sau khi giao kết xong không bên
nào bị thiệt hại so với bên nào.
Phần so sánh này viết sơ sài quá, chưa thấy được gì
So sánh hợp đồng mua bán lúa với hợp đồng mua bán nhà
+ Điểm giống nhau của hợp đồng mua bán lúa và một số hợp đồng mua bán tài sản

chậm nhận nhà thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua thanh toán chi phí hợp lí đó5,
bên mua nhà trả đủ tiền và nhận nhà các giấy tờ liên quan đến nhà và đất các giấy tờ
liên quan tới nhà đúng theo hiện trạng của nhà ở quy định trong hợp đồng, nếu không
giao đúng thời hạn có quyền yêu cầu bên bán bồi thường hợp đồng6. thời hạn của hợp
đồng mua bán nhà chấm dứt hợp đồng khi hai bên giao cho nhau tài sản giá trị của
mình, bên mua phải được đứng tên chủ sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất không bị
bất kỳ ai tranh chấp về tài sản đó.Còn hợp đồng mua bán lúa thì bên bán bên mua cũng
nhận.
1.5. Sự cần thiết điều chỉnh pháp lý về hợp đồng mua bán lúa
Lúa là loại lương thực rất quan trọng trong đời sống người dân không chỉ trong
nước nói riêng mà còn là nguồn lương thực cho toàn thế giới nói chung. Việc sản xuất
cũng như hoạt động mua bán lúa cũng hình thành từ lâu đời, ban đầu là hay việc hay
bên giaom dich mà bên thương lái dùng miện để cắn thử hạt lúa để xem độ khô, độ
chăt của hạt lúa hình thức dùng lúa để đổi những vật dụng nhu yếu phẩm thiết yếu, hay
việc mua bán hai bên sau khi thỏa thuận hai bên tiến hành giao kết hợp đồng bằng
cach tính như đong lúa bằng thùng bằng táo như mua bán chia lúa hay mua bán qui ra
lúa, hình thức giao dịch đáng nói ở đây là mua bán lúa non khi lúa còn trên ruộng
nhưng do vì cần tiền nên thương lái đến để bán lúa non, và theo thỏa thuận hai bên thì
nông dân có quyền bảo quản lúa cho tới khi thu hoạch xong và giao lúa cho thương lái
như thỏa thuận. theo tập quán mua bán lúa thì giao kết mua bán giữa người nông dân
với thương lái khi hai bên thương thảo với nhau xong về giá cả mặt hàng thì bên mua
và thương lái trả tiền nó đã trở thành thói quen của người nông dân khi tiến hành mua
bán lúa với thương lái, chủ thể của hoạt động mua bán lúa chủ yếu là nông dân trực
tiếp sản xuất ra lúa với thương lái. Theo tập quán thì bên bán và bên mua sẽ giao kết
với nhau, dựa trên lòng tin là chủ yếu, nói cách khác thì khi xác lập quan hệ mua bán
4

Điều 451 Bộ luật dân sự 2005
Điều 452 Bộ luật dân sự 2005
6


16

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

CHƢƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN LÚA
2.1. Giao kết hợp đồng mua bán lúa
Giao kết hợp đồng mua bán lúa là sự ưng thuận trong giao kết hợp đồng mua bán,
trong bất kỳ hợp đồng mua bán hàng nông sản nào thì sự ưng thuận là yếu tố quan
trọng, nó thể hiện ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán. Nó thể hiện
ý chí của bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán. Lúa là loại hàng hóa có thể bán
trước khi thu hoạch người ta có thể xác định được chất lượng của sản phẩm nông sản,
khi các bên tham gia giao dịch mua bán tài sản khi đại diện bên bán và bên mua bán
sản phẩm của mình, sự ưng thuận trong mua bán hàng hóa nộng sản thể hiện việc mua
bán thể hiện bên làm ra nông sản và người tiếp nhận việc phân phối nộng sản ra thị
trường tiêu thụ đã thỏa thuận với nhau bằng giá cả và chất lượng và phương thức thanh
toán thời gian địa điềm giao nhận sản phẩm.
2.1.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán lúa
Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự, theo quy định tại điều 389 BLDS, khi giao
kết hợp đồng dân sự, các bên phải tuân theo nguyên tắc sau:
Thứ nhất, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái với pháp luật, đạo đức
xã hội.
Các bên Giao kết phải tuân thủ qui định của pháp luật trong hợp đồng dân sự,
như: được phép cầm đoán, hoặc buộc phải giao kết hợp đồng hoặc trong trường hợp cụ
thể phải làm như thế nào. Điều 11 BLDS quy định khi xác lập nghĩa vụ dân sự các bên

quyển tự do giao kết theo nguyên tắt này, mọi cá nhân tổ chức này, mọi cá nhân, tổ
chức, có đủ chủ thể có quyền tham gia bất kỳ hợp đồng dân sự nào, nếu họ muốn mà
không ai có quyền ngăn cản bằng ý chí tự do của mình các chủ thể có quyền giao kết
những hợp đồng dân sự khác dù rằng pháp luật chưa qui định. Tuy nhiên, sự tự do ý
chí đó phải trong “ tầm kiểm soát” của pháp luật. bên cạnh đó chú ý đến quyền lợi của
mình, các chủ thể phải hướng đến quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích
của toàn xã hội. Vì vậy, tự do của mọi chủ thể phải không trái vời đạo đức xã hội nằm
trong mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi chủ thể chỉ có quyền “tự do
giao kết hợp đồng” vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội. Lợi ích của
cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi là sự giới hạn ý
chí tự do của mọi chủ thể trong việc giao kết hợp đồng dân sự nói riêng, cũng như đối
với mọi hành vi nói chung của họ, luật không cho phép các chủ thể giao kết lợi dụng
sự tự do giao kết hợp đồng, tự do ý chí thành phương tiện kiếm lợi bất chính.
Thứ hai, nguyên tắc tự nguyện bình đẳng, thiện chí, hợp tác trung thực và ngay
thẳng.
Theo nguyên tắc này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng
phải bảo đảm nội dung của các quan hệ đó, thể hiện được sự tương xứng về quyền và
nghĩa vụ trong hợp đồng, bảo đảm lợi ích cho các bên. Trong nền kinh tế thị trường,
các cá nhân, tổ chức dù thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý khi ký kết
hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Khi hợp đồng đã được xác lập thì phải
bảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủ thể, có thực hiện đúng, đầy đủ
nghĩa vụ thì mới được hưởng quyền, nếu vi phạm phải bị xử lý.
Sự tự nguyện quyền tự do cam kết, tiệc xhỏa thuận trong việc xác lập quyền và
nghĩa vụ dân sự được pháp luật đảm bảo, nếu cam kết và thỏa thuận đó không vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội7.1c bên tham gia giao kết hoàn toàn tự
nguyện được hiểu là các bên tham gia giao kết hoàn toàn tự do bày tỏ ý chí, nguyện
vọng của mình, tự nguyện thỏa thuận với nhau về nội dung của giao kết mà không bị
lừa dối, đe dọa, cưỡng ép từ phía bên kia hoặc của người khác; các bên tự nguyện thỏa
thuận các vấn đề nhằm làm phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự của mình.
Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và phải được cá

lại. Ờ đây, chủ thể của hợp đồng mua bán lúa là nông dân người làm ra sản phẩm này
và thương lái là người tiêu thụ sản phẩm. Quyền của nông dân đạt được khi thương lái,
hoàn thành nghĩa vụ đã giao kết trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Kể
từ khi hợp đồng được xác lập các bên tham gia trong hợp đồng thì có nghĩa vụ đối với
nhau. Nghĩa vụ có thể là hành vi cụ thể gồm các hành vi khác nhau và có thể tiến hành
cùng lúc, và cùng một thời điểm, hoặc có thể tiến hành theo một quá trình trong một
thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận giữa các bên.
Bên bán chủ tài sản đem bán, ở đây bên bán cụ thể là người nông dân sản xuất ra
lúa, nhưng không phải bất kỳ hợp đồng mua bán nào được xác lập cũng có hiệu lực
pháp luật mà chỉ có những hợp đồng mua bán lúa được giao kết giữa các chủ thể có
thể có đầy đủ năng lực chủ thể theo quy địnhpháp luật về hợp đồng mua bán mới có
hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên tham gia giao dịch đó. Năng lực chủ thể
theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, thì bao gồm năng lực hành vi dân sự, năm lực
pháp luật và năng lực hành vi dân sự, mỗi cá nhân điều có năng lực pháp luật như nhau
và có tư cách khi cá nhân được sinh ra và sẽ kết thúc khi người đó chết8, Năng lực
hành vi dân sự cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực
hiện và nghĩa vụ dân sự. người từ đủ mười lăm tuổi trở lên mà không bị mất hạn chế
năng lực hành vi dân sự thì là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự năng lực hành
vi dân sự, có tài sản riêng thì có thể tự mình đứng ra xác lập hợp đồng mua bán lúa
ruộng. Khi đó, cá nhân bằng chính năng lực hành vi dân sự, sự hiểu biết của mình
đứng ra xác lập hợp đồng mua bán tài sản của chính mình không bị ai ngăn cản, và
khi cá nhân đó thừa kế từ cha mẹ mình 5000m đất sau khi tự sản xuất được 250 giạ lúa
( 5800/kg). lúc này, tự bản thân đứa trẻ tự đứng ra xác lập hợp đồng mua bán thương
lái mà không cần phải thông qua vai trò của người giám hộ. theo quy định tại khoản 2
Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 thì trong trường hợp người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18
8

Điều 14 Bộ luật dân sự 2005.

GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo

lực hành vi dân sự đầy đủ.
Bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền đúng theo thời hạn đã thõa thuận. bên
bán có nghĩa vụ giao lúa cho bên thương lái đúng chủng loại đúng số lượng đúng thời
hạn, địa điểm chất lượng đã thỏa thuận, Đối với lúa người nông dân có trách nhiệm
cung cấp đầy đủ thông tin về mặt hàng mà họ đem bán như: lúa gì, chất lượng thế nào
giá cả thanh toán hình thức nào, thời gian và địa điểm giao nhận hàng hóa như thế
nào… để bên mua biết vì lúa bán ra cùng một mặt hàng nhưng có nhiều loại nhiều
giống kiểu dáng kích cở sản phẩm vì mỗi loại có giá khác nhau, nên nhầm tránh sự
nhầm lẫn. ngoài ra bên bán còn phải đảm bảo chất lượng cho bên mua, tuy nhiên do tài
sản bán là lúa bên bán có nghĩa vụ đảm bảo chất lượng chủng loại sản phẩm cho bên
mua, nhận đúng chủng loại. nếu không đúng chất lượng tại thời điểm giao tài sản do
bên bán lúc giao kết hợp đồng thì bên bán phải thay đổi giống khác cùng chủng loại
cho bên mua hoặc bên thỏa thuận khác.
Chủ thể của bên mua là người mua lúa có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán nông sản.
bên mua chính là thương lái đi thu mua lúa trong nông dân và cũng phải đáp ứng điều
kiện về độ tuổi, năng lực hành vi dân sự… tuổi thì đủ mười tám tuổi trở lên, tuy nhiên
9

Điề u 107 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005.

GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣
̣c Tuyề n

20

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin

đồng các bên có thể thỏa thuận về những nội dung được qui định tại Điều 402 bộ luật
dân sự 2005 sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng
- Số lượng, chất lượng
- Giá, phương thức thanh toán
- Quyền, nghĩa vụ của các bên
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Các nội dung khác.
GVHD: Ths. Nguyễn Thi Ngo
̣
̣c Tuyề n

21

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

Không nên liệt kê thế này
Nội dung của hợp đồng có thể chia thành ba loại điều khoản với những ý nghĩa
khác nhau: điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ và điều khoản tùy nghi.
Điều khoản chủ yếu.
Các điều khoản chủ yếu nêu lên những quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bên,
làm cơ sở cho việc thực hiện mà nếu thiếu nó thì quan hệ hợp đồng chưa được coi là
đã xác lập. Có những điều khoản luôn được coi là điều khoản chủ yếu vì không có nó
không thể nói là đã hình thành hợp đồng. Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá thì điều
khoản về đối tượng luôn là điều khoản chủ yếu. Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng

̣c Tuyề n

22

SVTH: Nguyễn Duy Phƣơng


Hơ ̣p đồ ng mua bán lúa - Thƣ̣c tiễn ta ̣i huyêṇ Tháp Mƣời tin
̉ h Đồ ng Tháp

Trong mua bán giá được qui định tại Điều 431 Bộ luật dân sự 2005: giá là do hai
bên thỏa thuận hoặc do người thứ 3 xác định theo yêu cầu các bên. Giá là là số tiền mà
bên mua trả tiền cho bên bán để đổi lấy sản phẩm hoặc tài sản và quyền sở hữu đối với
tài sản đó. Theo đó Điều 402 Bộ luật dân sự năm 2005, Nội dung của hợp đồng dân sự,
theo từng loại hợp đồng các bên thỏa thuận như: đối tượng của hợp đồng, số lượng, giá
và phương thức thanh toán, thời hạn, địa điểm, phương thức thanh toán, thời hạn địa
điểm, phương thức thực hiện hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên.
Trên thực tế mua bán lúa trong nhân dân thường giá cả mua bán không đúng so
với thực tế, khi họ sản xuất ra được vụ mùa kêu thương lái bán lúa thì bị ép giá. Như
giá thực tế ngoài thị trường là 5.300/kg đối với lúa nàng hoa người dân kêu thương lái
bị ép giá thỏa thuận việc mua bán giá chỉ 5000/kg lúa. Người dân phải chịu mất đi
300/kg lúa. Nhằm đảm bảo quyền lợi cho nông dân khi sản xuất ra vụ mùa nhưng lại
mất giá Chính phủ sẽ qui định giá sàn lúa gạo nhằm bảo vệ người nông dân, còn
những mặt hàng giống lúa khác người nông dân bùn phát sản xuất ăn theo các chủ
ruộng khác thì điệp khúc của nhà nông tiếp tục diễn ra khi thương lái ép giá, so với
giá ngoài thị trường hay điều kiện tự nhiên là ảnh hưởng tới việc mua bán lúa của nông
dân. Quy định giá sàn lúa nhằm tránh đảo lộn giá hay giá ảo mà các tiểu thương hay
các công ty thu mua đưa ra như đối với lúa giá sàn chính phủ qui định các công ty thu
mua lúa không được thấp hơn so với mức giá 4800/kg như hiện nay. Việc qui định giá
giá sàn cho từng loại lúa khi người dân tham gia vào việc mua bán với tiểu thương ,

hàng nào đó thì bên mua có thể trả bằng tiền hay chuyển khoản hoặc nhận tiền tại công
ty tùy theo sự thỏa thuận.
Trong trường hợp thoả thuận về phương thức thanh toán. Đây là nghĩa vụ quan
trọng mà các bên tham gia giao kết hợp đồng và buộc các bên phải thực hiện. theo tập
quán mua bán lúa của nông dân ta từ trước đến nay, thông thường thì khi hai bên thực
hiện việc mua bán lúa xong thì thương lái sẽ trả tiền cho nông dân ngay lập tức.
Trường hợp thanh toán bắt buộc phải được ghi nhận trong hợp đồng đối với hợp đồng
có giá trị tài sản mua bán lúa số lượng lớn để tránh rủi ro tranh chấp xảy ra tranh chấp.
thì các bên ký kết hợp đồng sẽ được lập thanh văn bản để đảm bảo quyền và nghĩa vụ
giữa các bên.
Ví dụ: hợp đồng mua thu mua lúa giữa công ty A với ông E mà ông M là người
ký kết hợp đồng vì ông là người đại diện cho các tổ viên tổ hợp tác sản xuất nông sản
chất lượng cao. Thì nội dung của hợp đồng được ghi nhận về hình thức thanh toán cụ
thể về thời gian công ty phải thanh toán tiền cho bên bán khi nào thanh toán một lần
hay nhiều lần tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán. Trên thực tế việc
mua bán lúa người nông dân luôn đặt ra yêu cầu bên mua thương lái phải thanh toán
một lần. trường hợp bên mua thanh toán từng lần. Trường hợp bên mua thanh toán
từng lần khi bên mua thương lái đi xem lúa của người nông dân trước cho bên bán
nông dân trước cho bên bán nông dân một khoản tiền sau thời hạn hai ba ngày thương
lái mới đến lấy nông sản và đưa đủ tiền. Thông thường việc đặt cọc được thực hiện
trong trường hợp người nông dân mong muốn giao kết.
2.1.4. Hình thức hợp đồng mua bán lúa
Khi tham gia giao kết hợp đồng dân sự cũng đạt mục đích cụ thể và các hợp đồng
dân sự được thể hiện dưới một hình thức nhất định, Bộ luật dân sự 2005 hiện hành qui
định hình thức hợp đồng rất phong phú và đa dạng có thể bằng lời nói, hành vi cụ thể,
bằng văn bản thông thường bằng văn bảng dưới bất kỳ hình thức nào nhưng có công
chứng chứng thực, các qui định về hình thức ề hợp đồng là sự kết hợp hài hòa giữa
phong tục, tập quán, với nguyên tắc hiện đại. theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hình
thức hợp đồng là sự kết hợp hài hòa giữa phong tục tập quán. Theo pháp luật hiện
hành, thì hình thức hợp đồng được đề cập đến nhiều tại Khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân

miệng với nhau với những nội dung chủ yếu của hợp đồng, hợp đồng được giao kết
khi các bên đã thỏa thuận đầy đủ các nội dung cơ bản của hợp đồng.
Ví dụ: ngày 22 tháng 02 năm 2013, C cho ông A xem lúa mình tại ruộng thỏa thuận
tuần sau sẽ đến mua lúa của C với số lượng là 250 giạ với giá 5000 đồng/kg.
2.1.4.2. Hình thức hợp đồng được thể hiện bằng hành vi
Cụ thể là trường hợp của mình bày tỏ ý chí nhằm tạo ra quan hệ hợp đồng dân
sự, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng mặt nhiên thừa nhận những hành vi đó đó
dối với nhau. Hình thức này cũng như hình thức hợp đồng bằng lời nói cũng được áp
dụng đối với các hợp đồng phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày, các hợp đồng có giá trị
nhỏ, các bên có sự tin tưởng quen biết lẫn nhau. Pháp luật qui định “Hợp đồng dân sự
có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật quy
định loại hợp đồng đó tham gia giao kết bằng hình thức nhất định”11. nguyên tắc các
bên khi tham gia giao kết hợp đồng có thể thỏa thuận với nhau bằng hình thức hợp
đồng, có quyền tự do lựa chọn hình thức bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể phù hợp với
hoàn cảnh, mục đích, nội dung tính chất của giao dich dân sự, hạn chế tranh chấp có
thể. Ưu điểm của hình thức bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể là tiết kiệm được
thời gian tiền bạc các bên tham gia gaio kết hợp đồng có thể đi đến sự thống nhất ý
chí, giao kết hợp đồng một cách nhanh chóng trong quan hệ dân sự hình thức này rất
thông dụng, một số hợp đồng điển hình trong cuộc sống hằng ngày thường được áp
dụng hình thức này như: sau khi trao đổi trò chuyện qua điện thoại cùng A chủ doanh
nghiệp là B đề nghị muốn bán cho A 5000kg lúa thơm zetmin với gía là 6000đồng/kg
địa điểm giao hàng tại trụ sở của doanh nghiệp A, bảo đảm chất lượng vàng, sáng,
bóng,… Nếu A vần giữ im lặng trong thời hạn mường ngày kể từ ngày nhận được đề
nghị coi như chấp nhận hợp đồng.
2.1.4.3. Hình thức bằng văn bản
Hợp đồng được thể hiện bằng văn bản là trường hợp các bên tham giao giao kết
hợp đồng dân sự lập thành văn bản thỏa thuận theo điều khoản của hợp đồng và cùng
11

Khoản 1 Điều 401 Bộ luật dân sự 2005


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status