TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
______
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
ĐỀ TÀI:
XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. DIỆP THÀNH NGUYÊN
Bộ môn: Luật hành chính
Sinh viên thực hiện:
TRẦN THỊ HẰNG
MSSV: S120020
Lớp: ĐT1263B1
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính - lý luận và thực tiển
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………………1
1.
Lý do chọn đề tài…………………………………………………………1
2.
1.4.1Quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện............................................. 14
1.4.2 Quyền và nghĩa vụ của Người bị kiện…………................................ 14
GVHD: Diệp Thành Nguyên
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính - lý luận và thực tiển
1.4.3 Quyền và nghĩa vụ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…14
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LÝ TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ
CÁCH ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH…… ....................... 15
2.1 Vai trò của Tòa án nhân dân trong giải quyết vụ án hành
chính………… ................................................................................................. 17
2.2 Xác định đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính………................. 18
2.2.1 Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành
chính………………… ..................................................................................... 19
2.2.2 Hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
…………… ....................................................................................................... 22
2.3 Xác định người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan trong vụ án hành chính………................................................................. 25
2.3.1 Xác định người khởi kiện trong vụ án hành chính………........ 25
2.3.2 Xác định người bị kiện trong vụ án hành chính……… ............ 26
2.3.3 Xác định người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành
chính……… ...................................................................................................... 30
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ
CÁCH ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH…… ....................... 35
3.1. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính trong
trình áp dụng các quy định của pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng để
giải quyết vụ án hành chính vẫn còn có những tồn tại, bất cập, và không thống
nhất, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án hành chính nói chung, trong đó
có vấn đề xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính được xem là vấn đề
thiết thực trong quá trình giải quyết vụ án hành chính hiện nay.
Mặt khác, việc pháp điển các quy định về thủ tục tố tụng nói chung và quy
định về xác định tư cách đương sự trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010 là
hết sức cần thiết. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao, điều chỉnh
một cách đầy đủ, toàn diện các quan hệ tố tụng trong giải vụ án hành chính, đáp
ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quản lý
xã hội, quản lý nhà nước bằng pháp luật, đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư
pháp và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta và tăng cường bảo vệ các quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó nhằm tìm hiểu sâu thêm về những vấn
đề của Luật tố tụng hành chính cũng như vấn đề xác định tư cách đương sự trong
vụ án hành chính rõ hơn.
Vì vậy việc nghiên cứu nguyên tắc xác định đương sự trong vụ án hành
chính không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn trong thực tiễn xét xử. Thế nên tôi
GVHD: Diệp Thành Nguyên
1
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
quyết định chọn đề tài: “ Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính thực tiễn và kiến nghị” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến mục đích làm sáng tỏ tư cách đương sự trong vụ án hành
chính, cũng như những quy định khác có liên quan. Đồng thời hệ thống hoá được
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH ĐƯƠNG SỰ TRONG
VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
1.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về Tố tụng hành chính ở nước
ta.
Ở Việt Nam, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa được thành lập thì chính quyền cách mạng đã quan tâm
tới công tác giải quyết các khiếu nại tố cáo của nhân dân, trong đó có các khiếu
kiện hành chính. Điều này đã được thể hiện trong tinh thần của các bản Hiến
pháp đầu tiên của nước ta là Hiến pháp năm 1946, Điều 29 Hiến pháp năm 1959.
Ngay từ tháng 11-1945, Ban thanh tra đặc biệt đã được thành lập với hai chức
năng cơ bản: thứ nhất là giám sát việc thi hành pháp luật và chính sách của Nhà
nước ở các cấp hành chính; thứ hai là giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân1.
Sắc luật số 04/SLT ban hành năm 1957 về bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
hành chính các cấp đã trao cho Toà án nhân dân thẩm quyền giải quyết khiếu
kiện về danh sách cử tri nếu người khiếu kiện không đồng ý với việc giải quyết
của cơ quan lập danh sách cử tri (Điều 15). Tuy nhiên trong giai đoạn này, pháp
luật Việt Nam chỉ thừa nhận các khiếu nại hành chính mà không thừa nhận khiếu
kiện hành chính phát sinh giữa công dân, cơ quan, tổ chức với các cơ quan công
quyền và các khiếu nại này được giải quyết theo thủ tục hành chính chứ không
được giải quyết theo con đường tố tụng tại Tòa án.
Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhu cầu của thực tiễn đòi
hỏi phải thiết lập hệ thống cơ quan tài phán hành chính độc lập để giải quyết các
tranh chấp hành chính bằng con đường tư pháp. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8
dân, ngày 21/5/1996, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính (có hiệu lực từ ngày 01-7-1996) làm cơ sở cho hoạt
động xét xử các vụ án hành chính. Trong quá trình thực thi, Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã được sửa đổi, bổ sung
hai lần vào năm 1998 và năm 2006.
Việc Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được ban hành đã
tạo ra một cơ chế mới để giải quyết các khiếu kiện hành chính, góp phần bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân khỏi sự vi phạm từ phía các cơ quan công
quyền, đồng thời góp phần củng cố hoạt động đúng đắn của các cơ quan hành
chính Nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý
Nhà nước2. Tuy nhiên, kể từ khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính đi vào cuộc sống đến nay, thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính cho
thấy các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã bộc
lộ những bất cập nhất định, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy
phạm pháp luật khác (Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Tố cáo...), một số quy định
chưa rõ ràng và chưa đầy đủ, đặc biệt là các quy định về thẩm quyền giải quyết
các khiếu kiện hành chính của Toà án, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện,
vấn đề chứng minh và chứng cứ... Bên cạnh đó, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính còn có một hạn chế lớn đó là chưa có quy định về việc thi hành
bản án, quyết định hành chính, trong khi đó đây một khâu rất quan trọng, có ý
nghĩa đảm bảo tính hiệu lực của các phán quyết của Toà án trên thực tế, cũng như
đảm bảo thiết thực quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Những hạn chế, bất cập nêu trên đã làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết
các vụ án hành chính tại Tòa án thời gian qua, khiến cho việc giải quyết này vẫn
còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, lòng tin của người dân vào cơ chế giải
2
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2006)
GVHD: Diệp Thành Nguyên
nhà nước thì cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét lại, nếu
không thỏa mãn thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng hành
chính. Từ đây phát sinh tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan nhà nước
trước Tòa án – một loại tranh chấp hành chính đặc biệt – được gọi là vụ án hành
chính.
Thực tế có nhiều khái niệm khác nhau về vụ án hành chính. Theo Từ điển
Tiếng Việt thì “vụ là việc, sự việc hay không, rắc rối cần giải quyết, án là tranh
chấp quyền lợi cần được xét xử trước Tòa án”. Như vậy về mặt thuật ngữ “vụ
án” là việc phát sinh trên cơ sở tranh chấp về quyền lợi thuộc nhiệm vụ xét xử của
Tòa án. Có quan điểm cho rằng: “Vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp phát
sinh do cá nhân, cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ, công chức khởi kiện yêu cầu
Tòa án có thẩm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết
định hành chính, hành vi hành chính…”. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật
GVHD: Diệp Thành Nguyên
5
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
học định nghĩa: “vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa hành chính do cá
nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình”3.
Tuy nhiên các khái niệm trên là chưa đầy đủ và đúng với bản chất của tố
tụng hành chính. Bởi vì nếu chỉ có hành vi khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ
chức cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định
hành chính (QĐHC), hành vi hành chính (HVHC) thì chưa đủ để phát sinh vụ án
hành chính (VAHC) mà cần có sự thụ lý đơn khởi kiện của Tòa án. Tòa án chỉ
Tập bài giảng Luật tố tụng hành chính, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Năm học 2008-2009.
Trang13
GVHD: Diệp Thành Nguyên
6
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
Người bị kiện trong vụ án hành chính luôn luôn là cơ quan nhà nước hoặc
người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước mà chủ yếu là cơ quan hành chính
nhà nước; còn người khởi kiện luôn luôn là cá nhân, tổ chức bị tác động bởi
quyết định hành chính, hành vi hành chính. Cũng từ đặc điểm này mà các bên
trong vụ án hành chính được gọi là người khởi kiện, người bị kiện và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan chứ không còn gọi là nguyên đơn, bị đơn như các vụ
án phi hình sự khác.
1.2.2. Khái niệm đương sự trong vụ án hành chính
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010 và theo
Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP Ngày 20-7-2011 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng
hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP) thì đương sự
trong vụ án hành chính bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan.
1.2.2.1. Người khởi kiện
Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2010 thì “Người
khởi kiện là cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết
lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác) có quyền tự mình thực hiện
hoặc ủy quyền cho bất kỳ ai đại diện tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 48,
Điều 54 Luật TTHC, trừ những người không được làm đại diện theo khoản 6, 7
Điều 54 Luật TTHC.
Trường hợp đương sự là người chưa thành niên, người người mất năng lực
hành vi dân sự thì quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính của họ được thực
hiện thông qua người đại diện theo pháp luật theo tại khoản 4 Điều 48 Luật
TTHC. Người đại diện theo pháp luật là cha, mẹ đối với con chưa thành niên,
người giám hộ đối với người được giám hộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 54 Luật
TTHC.
Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức: Thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật tại khoản 5
Điều 48 và điểm c, d, đ khoản 2 Điều 54 Luật TTHC. Người đại điện theo pháp
luật của cơ quan tổ chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hay người được
người đứng đầu cơ quan, tổ chức ủy quyền cấp phó của mình hoặc bất cứ người
nào nhân danh mình tham gia tố tụng (trừ trường hợp bị pháp luật ngăn cấm).
Người khởi kiện và người nộp đơn khởi kiện là hai khái niệm khác nhau.
Người khởi kiện có thể không phải là người nộp đơn khởi kiện.
1.2.2.2. Người bị khởi kiện
Theo khoản 7 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010 thì “Người bị kiện
là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết
định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện”.
Theo quy định trên thì người bị kiện là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có
quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị
khiếu kiện. Thực tế hiện nay việc xác định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định
hành chính, hành vi hành chính là người bị kiện có nhiều ý kiến khác nhau. Hơn
nữa trong một vụ án hành chính cụ thể việc xác định một cách chính xác người bị
6
tiếp ban hành quyết định hành chính (còn được hiểu là người trực tiếp ký quyết
định hành chính); Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo qui
định của luật khiếu nại, tố cáo khi quyết định hành chính đó bị khiếu nại. Với ba
cách hiểu này đã khiến cho việc xác định tư cách thành phần tham gia tố tụng đặc
biệt là người bị kiện, gặp nhiều khó khăn, thực tế có trường hợp người trực tiếp
ban hành quyết định hành chính bị kiện đồng thời là người có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật ban hành quyết định hành chính đó và cũng đồng thời là
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo qui định của luật khiếu
nại, tố cáo. Song, cũng có trường hợp người có thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính không đồng thời là người trực tiếp ký ban hành quyết định hành chính
và cũng không đồng thời là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu
theo qui định của Luật khiếu nại, tố cáo. Do vậy, việc xác định người bị kiện ở
các vụ án hành chính cụ thể không thống nhất với nhau. Trong những vụ án hành
chính có đối tượng khởi kiện là hành vi hành chính thì người bị kiện là người có
7
Toà án nhân dân tối cao trường cán bộ toà án – Trao đổi nghiệp vụ năm 2012
GVHD: Diệp Thành Nguyên
9
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
hành vi hành chính. Người có hành vi hành chính bị kiện cũng được hiểu ở ba tư
cách: Người có thẩm quyền chỉ đạo thực hiện hành vi hành chính; Người trực tiếp
thực hiện hành vi hành chính hoặc là người có thẩm quyết giải quyết khiếu nại
Học viện tư pháp, kỹ năng giải quyết các vụ án hành chính, NXB Tư pháp, năm 2010.
GVHD: Diệp Thành Nguyên
10
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác; Những người khác theo quy định của pháp
luật.
Tuy nhiên, khi xác định người đại diện theo pháp luật của người chưa thành
niên, người được giám hộ thì tùy từng trường hợp người đại diện cần phải xuất
trình các giấy tờ cần thiết để chứng mính tư cách đại diện và mối quan hệ liên
quan. Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo
pháp luật phải là người được Tòa án chỉ định mới có quyền đại diện. Đối với người
mất năng lực hành vi dân sự thì phải có quyết định của Tòa án tuyên bố họ bị mất
năng lực hành vi dân sự và người đại diện của họ chính là người giám hộ theo quy
định tại điều 62 Bộ luật dân sự và gọi là người giám hộ đương nhiên của người mất
năng lực hành vi dân sự: “Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì
chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là
người giám hộ.Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc
một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm
người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ
điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.Trong
trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con
hoặc vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là
là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo
pháp luật”.
Do đó, khi phát hiện những người đại diện thuộc một trong các trường hợp
quy định tại khoản 6 và khoản 7 Luật tố tụng hành chính thì Thẩm phán tiến hành
tố tụng tại vụ án không đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người đại
diện cho đương sự nhằm tránh sai sót trong việc xác định tư cách đương sự trong
vụ án hành chính.
1.3. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành
chính của đương sự
1.3.1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính
Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật tố tụng hành chính thì “Năng lực
pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng
hành chính do pháp luật quy định. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực
pháp luật tố tụng hành chính như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình”.
Năng lực pháp luật tố tụng hành chính xuất hiện ở công dân từ khi người đó
sinh ra và mất đi khi người đó chết. Ðối với cơ quan, tổ chức thì năng lực pháp
luật tố tụng hành chính phát sinh từ thời điểm thành lập và chấm dứt khi không
còn tồn tại. Pháp luật quy định tất cả mọi người đều có năng lực pháp luật tố tụng
hành chính ngang nhau, đây là điểm khác so với năng lực hành vi hành chính.
1.3.2. Năng lực hành vi tố tụng hành chính
Khoản 2 Điều 48 Luật tố tụng hành chính năm 2010 quy định “Năng lực
hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ tố
tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người người đại diện tham gia tố tụng hành
chính”.
Theo quy định trên thì năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng tự
mình hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính thực hiện
quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính.
Trường hợp đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành
vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có
thể thực hiện được; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám
định, định giá tài sản, thẩm định tài sản.
5. Yêu cầu Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
6. Tham gia phiên tòa.
7. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
8. Ủy quyền bằng văn bản cho luật sư hoặc người khác đại diện cho mình
tham gia tố tụng.
9. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.
10. Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố
tụng.
11. Đối thoại trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
12. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
13. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
14. Tranh luận tại phiên tòa.
GVHD: Diệp Thành Nguyên
13
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
15. Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án.
16. Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
17. Được cấp trích lục bản án, bản án, quyết định của Tòa án.
18. Cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ có liên quan theo yêu cầu của
Tòa án.
19. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành các quyết định
14
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
Theo quy định tại Điều 51 Luật tố tụng hành chính 2010 thì quyền và nghĩa
vụ của người bị kiện được quy định như sau:
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 49 của Luật này.
2. Được Toà án thông báo về việc bị kiện.
3. Sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc
thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh,
danh sách cử tri bị khởi kiện; dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện.
Khi tham gia tố tụng hành chính ngoài những quyền và nghĩa vụ chung của
đương sự, người bị kiện còn có quyền và nghĩa vụ sau: Được Tòa án thông báo
về việc bị kiện; có quyền xem xét những yêu cầu của người khởi kiện để chấp
nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu bằng cách sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành
chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện; dừng, khắc phục
hành vi hành chính bị khởi kiện.
1.4.3. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Theo quy định tại Điều 52 Luật tố tụng hành chính 2010 thì quyền và nghĩa
vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định như sau:
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập, tham
gia tố tụng với bên khởi kiện hoặc với bên bị kiện.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì có các
quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện quy định tại Điều 50 của Luật này.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên
GVHD: Diệp Thành Nguyên
16
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH ĐƯƠNG
SỰ TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
2.1. Vai trò của Tòa án nhân dân trong giải quyết vụ án hành chính
Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ
chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công và phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những
chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Toà án nhân
dân. Do vậy, Toà án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Toà án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp. Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến
năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ
tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện
làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động
trọng tâm”10.
Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân
sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Toà án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát
triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Toà án nhân dân là
chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là
xác định được đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Cụ thể, quyết định hành
chính hoặc hành vi hành chính đó có phải là đối tương khởi kiện vụ án hành
chính hay không. Bởi lẻ chỉ có những quyết định hành chính, hành vi hành chính
được quy định tại Điều 28 Luật tố tụng hành chính mới là đối tượng khởi kiện vụ
án hành chính; Cụ thể: Tại khoản 1 điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ.HĐTP Ngày
29/07/2011 Của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao quy định:
“Khiếu kiện quyết định hành chinh, hành vi hành chính, trừ các quyết định
hành chinh, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh
vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định (Nghị
định số 49/2012/NĐ-CP ngày 04/6/2012) và các quyết định hành chinh, hành vi
hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.”
“Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.”
“Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ
Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.”
“Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh.”
Thực tế cho thấy, việc xác định đúng đối tượng khởi kiện trong vụ án hành
chính không phải là chuyện dễ dàng đối với người dân, kể cả công chức nhà
nước. Vấn đề này, một mặt do hoạt động quản lý hành chính nhà nước hết sức đa
dạng, phức tạp, nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều chủ thể được nhà nước giao quyền
quản lý, cho nên các chủ thể này được quyền ban hành quyết định hành
chính(QĐHC), hành vi hành chính (HVHC) để quản lý nhà nước đối với ngành,
lĩnh vực và đơn vị cho nên rất đa dạng các loại quyết định hành chính, hành vi
hành chính; mặt khác, do nhận thức về quyết định hành chính, hành vi hành chính
xưa nay lại có nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có sự thống nhất, do đó việc
xác định đối tượng khởi kiện vụ án hành chính cũng gặp nhiều khó khăn.
GVHD: Diệp Thành Nguyên
18
cơ quan tư pháp, cơ quan lập pháp, hoặc các tổ chức khác được Nhà nước trao
quyền cũng có thẩm quyền hành chính. Đặc điểm này làm thay đổi về một số
nhận thức cho rằng chỉ có cơ quan hành chính nhà nước - cơ quan duy nhất ban
hành quyết định hành chính.
Thứ hai, hình thức cơ bản của quản lý hành chính nhà nước là ban hành
văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh
của các cơ quan dân cử và các văn bản pháp luật khác để thực hiện chức năng
chấp hành và điều hành các quan hệ trong đời sống xã hội.
Một hình thức khác vừa cơ bản, vừa được thực hiện thường xuyên và thể
hiện rõ nhất chức năng quản lý hành chính là việc cơ quan hành chính nhà nước,
cơ quan, tố chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tố chức đó ban
GVHD: Diệp Thành Nguyên
19
SVTH: Trần Thị Hằng
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, tức là văn bản cá biệt dưới dạng các
quyết định hành chính. Các quyết định này trực tiếp tác động đến quyền, lợi ích
của các đối tượng có liên quan, đến các cá nhân công dân.
Nội dung quyết định hành chính luôn tồn tại những quy định có tính ràng
buộc pháp lý làm xuất hiện, thay đổi hoặc hủy bỏ các quyền và nghĩa vụ của chủ
thể trong một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Đó là những mệnh lệnh hành
chính như cho phép, ngăn cấm hoặc buộc thực hiện. Vì vậy, quyết định hành
chính được ban hành trái pháp luật, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của công dân
thì nó sẽ bị phản ứng và làm phát sinh các khiếu kiện hành chính. Đây là đặc
điếm có ý nghĩa quan trọng thể hiện tính chất pháp lý của một tranh chấp hành
Xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính – lý lụân và thực tiễn
quyết định hành chính ban đầu là một quyết định hành chính thuộc đối tượng
khởi kiện vụ án hành chính, nếu Toà án không xem xét để huỷ bỏ quyết định giải
quyết khiếu nại đó thì nội dung của quyết định này và có thể quyết định hành
chính ban đầu vẫn còn hiệu lực.
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn quy định tại
khoản 1 Điều 28 Luật tố tụng hành chính tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số
02/2011 /NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 như sau:
“Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải
quyêt vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc
dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, cống văn do cơ quan hành chỉnh
nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan,
tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp
dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể
trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích
hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan,tổ
chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá
nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc
giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó
bao gồm:
a) Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong
khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính;
b) Quyết, định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội
dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết, định hành
chính được hướng dẫn tại điểm a khoản này”.
Thế nhưng, quyết định giải quyết khiếu nại theo nghĩa là quyết định hành
hình thức có tính chuẩn mực là một “quyết định”. Đặc điểm này không phủ nhận
hình thức văn bản có ảnh hưởng tới nội dung của nó, vì theo quy định của pháp
luật hình thức văn bản luôn chứa đựng nội dung phù hợp, một biểu hiện về bản
chất pháp lý của nó. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn xuất hiện quyết định hành
chính được ban hành dưới nhiều hình thức văn bản khác nhau như: công văn,
thông báo, kết luận... thì đặc điếm này của khái niệm sẽ có ý nghĩa quan trọng
cho việc xác định đâu là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính, để bảo vệ quyền khiếu kiện của công dân.
Từ phân tích trên có thể rút ra kết luận: Khi xác định quyết định hành chính
là đối tượng khiếu kiện của Toà án phải dựa vào các đặc điểm, trong đó chủ yếu
phải căn cứ vào đặc điểm về nội dung và mục đích của nó. Các đặc điểm của
khái niệm không chỉ giúp cho người khiếu kiện nhận diện dễ dàng hơn về đối
tượng khiếu kiện mà còn giúp cho Toà án xác định đúng về thẩm quyền giải
quyết, cũng như căn cứ để đưa ra phán quyết của mình.
2.2.2. Hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
Việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các chủ thể có
thẩm quyền không chỉ được phản ánh trong việc ban hành các quyết định hành
chính mà còn được thể hiện ở các hành vi cụ thể của những chủ thể này trong
thực tiển quản lý hành chính nhà nước. Như vậy, hành vi hành chính được xem là
đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính được khái niệm cụ thể tại khoản 2,
Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010 như sau: “ Hành vi hành chính là hành
vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có
thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ,
GVHD: Diệp Thành Nguyên
22
SVTH: Trần Thị Hằng