TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Khóa học 2010 - 2014
Đề Tài:
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
TRONG VIỆC XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU
TRÍ TUỆ
Giảng viên hướng dẫn:
ThS.Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Bộ môn Luật Tư pháp
Cần Thơ, 11/2013
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Cẩm Tú
MSSV: 5106206
Lớp:Luật TP2- Khóa 36
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
.....................................................................................................................................
1
1. Lý do chọn đề tài
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
4
1.1.2.
Đặc
điểm
của
biện
pháp
khẩn
cấp
tạm
thời
.....................................................................................................................................
5
1.1.2.
Ý
nghĩa
của
biện
pháp
khẩn
cấp
tạm
thời
.....................................................................................................................................
6
1.2. So sánh biện pháp khẩn cấp tạm thời trong sở hữu trí tuệ với biện pháp khẩn
cấp
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
.....................................................................................................................................
10
1.3.1.1. Hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả
.............................................................................................................................
11
1.3.1.2.
Hành vi xâm
phạm
quyền sở hữu công nghiệp
.............................................................................................................................
12
1.3.1.3.Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
.....................................................................................................................................
15
1.3.2. Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
.....................................................................................................................................
16
1.3.2.1. Xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự
.............................................................................................................................
16
1.3.2.2. Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính và hình
sự, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ
.............................................................................................................................
.....................................................................................................................................
23
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VIỆC XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ
HỮU TRÍ TUỆ
.....................................................................................................................................
25
2.1. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được áp dụng để xử lý xâm phạm
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
.....................................................................................................................................
25
2.1.1.
Biện
pháp
thu
giữ
.....................................................................................................................................
25
2.1.2.
Biện
pháp
kê
biên
.....................................................................................................................................
30
2.2.2.1.
Nghĩa
vụ
chứng
minh
.....................................................................................................................................
30
2.2.2.2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng trong trường
hợp
người đó không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
................................................................................................................................
32
2.3. Thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong sở hữu
trí
tuệ
.....................................................................................................................................
33
2.4. Thủ tục thay đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm
thời
................................................................................................................................
35
2.4.1. Thủ tục thay đổi, bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời.35
2.4.2. Thủ tục hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
..................................................................................................................................... .
36 .................................................................................................................................
thời
.....................................................................................................................................
40
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM
THỜI TRONG XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ MỘT SỐ
VƯỚNG MẮC VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
.....................................................................................................................................
42
3.1. Tình hình chung hiện nay khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong
việc
xử
lý
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
.....................................................................................................................................
42
3.1.1.
Kết
quả
đạt
được
.....................................................................................................................................
42
3.1.2.
50
3.3. Giải pháp nhằm hoàn thiện về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
.....................................................................................................................................
52
KẾT
LUẬN
.....................................................................................................................................
55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đang là vấn đề đặc biệt quan trọng, là mối quan tâm
hàng đầu trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế - một nền kinh tế
đang chuyển sang thời kỳ mới với nhiều sự phát triển, thay đổi về chất và dựa trên tri
thức với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao và trở thành yếu tố quyết định khả năng cạnh
tranh của sản phẩm, dịch vụ. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế tri thức phụ
thuộc trước tiên vào hiệu quả bảo hộ của sản phẩm trí tuệ.
Trước những cơ hội và thách thức đó đòi hỏi chúng ta phải có các cơ chế, chính
sách thúc đẩy hoạt động sáng tạo, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt
động phát triển công nghệ, nghiên cứu khoa học. Đồng thời tạo lập hành lang pháp lý
đầy đủ để bảo hộ các sản phẩm trí tuệ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cải thiện đời
sống vật chất tinh thần cho nhân dân do đó không thể thiếu sự can thiệp của Nhà nước
thông qua hệ thống pháp luật. Một trong những văn bản quy phạm pháp luật đó phải
kể đến Luật Sở hữu trí tuệ 2005, đã ban hành các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có một vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp
pháp của chủ thể quyền sở hữu, góp phần giảm bớt các vụ việc vi phạm về giả mạo
hàng hóa, nhãn hiệu, sao chép bản quyền bất hợp pháp…giúp Tòa án khắc phục được
4. Phương pháp nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu những quy định pháp luật và hoàn thành tốt luận văn, người
viết đã vận dụng các phương pháp phân tích luật viết tìm hiểu quy định của pháp luật
kết hợp với các phương pháp so sánh, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn áp dụng pháp
luật. Bên cạnh đó người viết còn sưu tầm tài liệu từ các trang web, sách báo chuyên
nghành liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. Từ đó đưa ra những kiến thức tổng hợp hỗ
trợ tích cực cho việc hoàn thành luận văn, tìm ra những vướng mắc trong lĩnh vực
nghiên cứu và những ý kiến đóng góp hoàn thiện pháp luật trong phạm vi nghiên cứu.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm ba chương:
- Chương 1. Tìm hiểu chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc xử lý xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Giúp người đọc hiểu được biện pháp khẩn cấp tạm thời là như thế nào, đặc tính của
biện pháp khẩn cấp tạm thời, ý nghĩa của việc áp dụng và các quy định chung khác về
biện pháp khẩn cấp tạm thời.
- Chương 2. Quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
việc xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Giúp người đọc hiểu được nội dung: chủ thể nào có quyền yêu cầu, quyền và nghĩa vụ
của người yêu cầu, trình tự, thủ tục cần thiết khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời
- Chương 3. Thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong xử lý xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ - một số vướng mắc và hướng hoàn thiện.
Chương này giúp người đọc nắm được việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
thực tiễn có những thuận lợi khó khăn nào, những nguyên nhân chính gây ra những
hạn chế, và cách thức hoàn thiện những bất cập đó trong việc thực thi pháp luật.
khoa học pháp lý hiện hành tồn tại có nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau.
Một số quan điểm cho rằng, “Biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án quyết định
áp dụng trước khi thụ lý hoặc trong giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây
thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án”1.
Nếu nhìn nhận một cách trực diện, biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ là giải pháp
tạm thời được Tòa án quyết định áp dụng trong tình trạng khẩn cấp đáp ứng nhu cầu
cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ và bảo toàn tài sản để bảo đảm cho việc giải
quyết vụ án dân sự được đúng đắn và khách quan, bảo đảm cho bản án được thi hành
trong thực tiễn, từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích của đương sự trong vụ án dân sự.
Quan điểm khác lại cho rằng, “Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp tòa án
quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không
thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án”2.
Từ đó có thể suy ra biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Luật sở hữu trí tuệ cũng
được hiểu là biện pháp, do Tòa án quyết định trong quá trình giải quyết vụ việc có liên
quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của
chủ thể quyền sở hữu, bảo vệ bằng chứng được đúng lúc, kịp thời. Cũng từ đó biện
pháp khẩn cấp tạm thời trong sở hữu trí tuệ mang những đặc điểm đặc trưng của biện
pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự, đó là tính khẩn cấp, tính tạm thời.
1.1.2. Đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong Sở hữu trí tuệ, biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp mà tòa án quyết
định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp
bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc để đảm bảo việc thi hành án. Đặc điểm
của các biện pháp khẩn cấp tạm thời thể hiện ngay trong chính tên gọi của nó: vừa
mang tính “khẩn cấp” vừa mang tính “tạm thời”.
Tính khẩn cấp của biện pháp này thể hiện ở chỗ nhu cầu áp dụng biện pháp này
là rất cấp bách; ngay khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án phải quyết định áp dụng
thời khắc phục những hậu quả, thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, ngăn chặn
những hành vi hủy hoại bằng chứng làm sai lệch nội dung vụ việc. Kịp thời ngăn chặn
hành vi tẩu tán tài sản hoặc bị tiêu hủy và hỗ trợ thêm trong biện pháp dân sự. Ý nghĩa
này càng được thể hiện rõ trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
tại Tòa án.
Trước hết, các biện pháp khẩn cấp tạm thời có tác dụng rất lớn trong việc bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ vì góp phần ngăn chặn được hành vi xâm phạm và hạn chế
thiệt hại xảy ra. Trong khoảng thời gian từ khi khởi kiện vụ án dân sự đến khi phán
quyết cuối cùng của Tòa án được đưa ra và có hiệu lực pháp luật (khoảng thời gian
này có thể kéo dài một vài năm hoặc lâu hơn), chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể đã
phải gánh chịu thiệt hại rất lớn do hành vi xâm phạm gây ra, bao gồm cả thiệt hại về
vật chất và thiệt hại về tinh thần, vì hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thường có
phạm vi ảnh hưởng rộng lớn chỉ trong một thời gian ngắn và khó khắc phục hậu quả.
Chẳng hạn, khi hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ được đưa vào các kênh thương
mại thì sẽ nhanh chóng gây tổn thất lớn về lợi nhuận cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ,
không những thế danh dự, uy tín của chủ thể đó cũng bị ảnh hưởng. Do đó, kể cả
trường hợp tòa án quyết định áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại để khôi phục quyền
lợi cho chủ thể quyền thì cũng chưa chắc là một giải pháp thỏa đáng, nếu như bị đơn
không có tài sản để bồi thường; hơn nữa việc tính toán chính xác, đầy đủ thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra hoàn toàn không đơn giản. Nếu hành vi
xâm phạm được ngăn chặn ngay từ đầu thì vấn đề bồi thường thiệt hại có thể sẽ không
phải đặt ra hoặc việc giải quyết vụ việc sẽ đỡ khó khăn hơn nhiều.
Thứ hai, các biện pháp khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa về mặt tố tụng. Về phía tòa
án, các biện pháp khẩn cấp tạm thời giúp bảo vệ chứng cứ và bảo đảm nguyên trạng
cho tới khi xét xử chính thức vụ kiện, để duy trì một vị trí khiến công lý có thể được
thực hiện dễ dàng nhất khi quyết định cuối cũng được đưa ra. Ngoài ra, một số biện
pháp khẩn cấp tạm thời đặc thù trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ còn giúp nguyên đơn tìm
kiếm, thu thập chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
người áp dụng vào sản xuất, kinh doanh dịch vụ.
Sự khác biệt về thuộc tính của đối tượng dẫn đến sự khác biệt về nội dung của
các quyền. Với tài sản thông thường, việc khai thác các giá trị của tài sản được bảo
đảm trên cơ sở sự chiếm hữu tài sản đó, quyền chiếm hữu trở nên đặc biệt quan trọng
đối với tài sản vật chất. Còn trong sở hữu trí tuệ, quyền chiếm hữu không được đề cập
như là cơ sở quan trọng cho việc khai thác các giá trị tài sản. Việc nắm giữ các đối
tượng sở hữu công nghiệp hoàn toàn quyết định khả năng bảo hộ và khai thác của
chúng, nếu không được sử dụng, việc nắm giữ là vô nghĩa.
1.2.2. Chủ thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong sở hữu trí tuệ hay trong tố tụng dân sự đều là chủ thể mà quyền và lợi ích hợp
pháp của họ có thể bị xâm phạm hoặc bị đe dọa, họ cần được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên trong sở hữu trí tuệ, “quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời thuộc về chủ thể quyền sở hữu trí tuệ”3. Còn trong Tố tụng dân sự, chủ
thể có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đa dạng hơn được
quy định tại khoản 1 Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân sự gồm có “đương sự, người đại
diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức xã hội đã khởi kiện vụ án để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162
của Bộ luật này có quyền yêu cầu tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc
nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời…”. Do đó khi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại hoặc có
khả năng bị thiệt hại thì đương sự có quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, trong tố tụng dân sự còn cho
phép cá nhân, cơ quan, tổ chức, có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp
pháp để khởi kiện vụ án, tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Thêm vào đó, ngoài đương sự, người đại diện hợp pháp của đương
sự, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời để bảo vệ quyền lợi của người khác. Luật còn cho phép, Tòa án có quyền tự mình
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không cần dựa trên yêu cầu của
người có quyền yêu cầu.
12. Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định;
13.Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định”.
Trong số các biện pháp nêu trên thì trong quan hệ tranh chấp về quyền sở hữu trí
tuệ, chủ thể quyền sở hữu chỉ có thể yêu cầu Tòa án áp dụng một số biện pháp khẩn
cấp tạm thời sau đây: kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài
sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong toả
tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài sản của người có nghĩa vụ; cấm hoặc buộc đương
sự thực hiện hành vi nhất định.
Điều 207 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định một số biện pháp khẩn cấp tạm thời
được áp dụng đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên
liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa đó:
- Thu giữ;
- Kê biên;
- Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển;
- Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.
Như vậy, có thể thấy các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật
hiện hành có thể áp dụng trong các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là tương
đối ít, đặc biệt là các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định trong Bộ luật tố tụng dân
sự chưa được cụ thể hóa đối với các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, còn mang tính
chung chung. Điều này đã gây không ít khó khăn cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
trong việc yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền
và lợi ích của mình. Các quy định của pháp luật hiện hành về áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời chưa góp phần làm ngăn chặn một cách nhanh chóng, kịp thời các hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 4.
1.3. Khái quát chung về các hành vi xâm phạm và các biện pháp xử lý xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ
1.3.1. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
càng đa dạng làm cho vấn đề xâm phạm quyền tác giả ngày càng vi phạm trầm trọng.
Ví dụ: Nếu tổ chức, cá nhân lấy một tác phẩm như tiểu thuyết, bài báo, luận văn
hay một tác phẩm nào khác được công bố hợp pháp trên internet đưa lên một trang
web khác hoặc chỉ ra đường link để cho người khác truy cập vì mục đích thương mại
mà không trả tiền cho chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác
giả thì hành vi này được xem là xâm phạm quyền sao chép tác phẩm5.
Tương tự như quyền tác giả, hành vi xâm phạm các quyền liên quan cũng không
tránh khỏi, tại Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ cũng liệt kê hầu hết các hành vi vi phạm
phổ biến.
Ví dụ: Nếu một tổ chức, cá nhân sử dụng các bản ghi âm, ghi hình thuộc sở hữu
của tổ chức, cá nhân khác để lưu trữ trên máy chủ, trên website của mình, cho phép
người truy cập nghe nhạc trực tuyến, tải nhạc, tải phim, chia sẻ mã code để nhúng vào
blog… mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu thì bị xem là hành vi sử dụng bản
ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại đã công bố.
5
Nguyễn Ngọc Duy Mỹ: “Quyền tác giả, quyền liên quan trên Internet”
[Truy cập ngày 5/10/2013].
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan xét về khía cạnh nhân thân,
những người sao chép, ăn cắp thành quả lao động sáng tạo của người khác đã xúc
phạm đến uy tín của cá nhân, tổ chức đã tạo nên sản phẩm đó. Xét về khía cạnh kinh
tế, người sao chép tác phẩm của người khác để kinh doanh không phải nộp thuế và trả
thù lao. Vì vậy, họ được lợi bất chính từ thành quả lao động của người khác. Các hành
vi trên đã xâm phạm đến lợi ích của chủ thể quyền sở hữu, người tiêu dùng và cả lợi
ích của Nhà nước.
1.3.1.2. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
a) Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
Theo quy định tại Điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi sau đây bị coi là hành
pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
- Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ
sở hữu bí mật kinh doanh đó;
VD: Về việc đánh cắp bí mật kinh doanh của công ty Coca - Cola là một trong
những ví dụ về sự tinh vi trong hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. Nhân viên của
công ty Coca - Cola đã xâm nhập các dữ liệu và đánh cắp công thức chế tạo một sản
phẩm mới của công ty Coca - Cola và sau đó đề nghị bán thông tin cho Pepsico là đối
thủ cạnh tranh hàng đầu của Coca - cola8.
- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ đỗ,
lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm lộ bí
mật kinh doanh;
- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ
tục cấp giấy phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện
pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;
- Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật
kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong bốn loại hành vi kể
trên;
- Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật dữ liệu thử nghiệm theo quy định tại Điều
128, Luật Sở hữu trí tuệ.
Do đặc điểm của bí mật kinh doanh là chỉ được bảo hộ khi nào các thông tin mang
tính sáng tạo, hữu ích còn trong tình trạng bảo mật. Chính bởi vậy, hầu hết các hành vi
bị coi là vi phạm quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đều liên quan đến việc bộc
lộ hay tiết lộ bí mật các thông tin đó. Người nào không được phép của chủ sở hữu bí
mật kinh doanh mà tiết lộ, sử dụng hay tìm cách tiếp cận, thu thập…thông tin thuộc bí
7
Nguyễn Thanh Hà: Bí Mật Kinh Doanh và phương thức bảo vệ, , [truy cập ngày 25/9/2013].
8
từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu
chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
9
Lê Đình Nghị-Vũ Thị Hải Yến: Giáo trình Luật Sở Hữu Trí tuệ, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr/56.
Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang
chỉ dẫn địa lý nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý;
Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho
người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó;
Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối với rượu vang, rượu mạnh cho những loại
rượu vang hoặc rượu mạnh không có xuất xứ từ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn
đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về nguồn gốc xuất xứ thật của hàng hóa hoặc chỉ
dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm hoặc được sử dụng kèm theo
các từ như kiểu, dạng, phỏng theo, hoặc theo các từ ngữ tương tự như vậy10.
1.3.1.3. Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
Theo quy đinh tại Điều 188 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi xâm phạm quyền
đối với giống cây trồng bao gồm các hành vi sau đây:
- Khai thác, sử dụng các quyền của chủ văn bằng bảo hộ mà không được phép của
chủ văn bằng bảo hộ;
- Sử dụng tên giống cây trồng mà tên đó trùng hoặc tương tự với tên giống cây
trồng đã được bảo hộ cho giống cây trồng cùng loài hoặc loài liên quan gần gũi với
giống cây trồng đã được bảo hộ;
- Sử dụng giống cây trồng đã được đăng ký bảo hộ mà không trả tiền đền bù theo
quy định về quyền tạm thời tại Điều 189, Luật Sở hữu trí tuệ.
Yếu tố xâm phạm đối với giống cây trồng có thể thuộc một trong các dạng sau đây:
a) Sử dụng vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ để thực hiện các hành
quan khác có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình. Theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2004, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sở hữu trí tuệ
được xác định như sau: (1) nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ thuần túy là tranh chấp dân
sự, thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện; (2) nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ thuần túy
là tranh chấp dân sự nhưng có đương sự hoặc đối tượng sở hữu trí tuệ ở nước ngoài,
thuộc quyền của tòa án cấp tỉnh; (3) Nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh
doanh và thuộc thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh. Theo yêu cầu của chủ thể quyền thì
Tòa án có thể bảo vệ quyền cho chủ sở hữu thông qua các biện pháp dân sự theo khoản
1 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ là: Buộc người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt
hành vi xâm phạm; buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại, phải
thực hiện nghĩa vụ dân sự, phải xin lỗi cải chính công khai; buộc tiêu hủy hoặc phân
phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa,
nguyên liệu, vật liệu, và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh
hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả
năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ12.
Làm rõ vấn đề này, Luật Sở hữu trí tuệ dành 9 điều (từ Điều 202 đến Điều 210),
trong đó gồm các nội dung khá chi tiết về các biện pháp dân sự, quyền và nghĩa vụ
chứng minh của đương sự, các biện pháp khẩn cấp tạm thời và quyền yêu cầu Tòa án
12
Lê Đình Nghị-Vũ Thị Hải Yến: Giáo trình Luật Sở Hữu Trí tuệ, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2009, tr/60.
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đáng chú ý là quy định về nguyên tắc và căn cứ
xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây
ra trong trường hợp xử lý vi phạm bằng biện pháp dân sự. Việc thiệt hại được xác định
cụ thể bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất được
xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế, nếu không xác định được thì mức bồi thường
thiệt hại do Tòa án ấn định nhưng không quá năm trăm triệu (căn cứ vào điểm c, khoản
[Truy cập ngày 11/11/2013].
- Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn
địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.
Khi một hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bị xử phạt vi phạm hành
chính xảy ra, thì cơ quan Nhà nước sẽ yêu cầu chủ thể vi phạm quyền sở hữu công
nghiệp phải chấm dứt hành vi xâm phạm và buộc áp dụng một trong các hình thức
phạt hành chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền được quy định tại Điều 214 Luật này. Bên
cạnh hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung, tùy theo tính chất và mức độ xâm
phạm của các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm đó có thể bị áp dụng một
hoặc các hình phạt bổ sụng khoản 2 Điều 3 Nghị định 97/2010/NĐ-CP ngày 21-92010, các hình phạt đó bao gồm: tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý; nguyên liệu, vật liệu,
phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh, gồm cả phương tiện dịch
vụ, phương tiện quảng cáo có chứa yếu tố vi phạm; đình chỉ có thời hạn hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm.
b) Biện pháp hình sự
Về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự là biện pháp xử lý vi
phạm pháp luật ở cấp độ mạnh nhất, thể hiện thái độ cương quyết của nhà nước ta
trong việc cấm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Các biện pháp xử lý về
hình sự được ghi nhận cụ thể thông qua một loạt các quy định của Bộ luật Hình sự
năm 1999 về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, gồm 03 nhóm tội xâm phạm sau:
tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131); tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
(Điều 171) và nhóm các tội có liên quan đến việc xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp (Các điều 156,157,158 và Điều 170).
Theo quy định tại Điều 212 thì Luật Sở hữu trí tuệ tiếp tục có ghi nhận việc áp
dụng các biện pháp hình sự để xử phạt vi phạm “Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật hình sự”. Đây là quy định có tính chất viện dẫn tới các
quy định có liên quan tại Bộ luật hình sự năm 1999. Pháp luật Việt Nam không có quy