ánh giá những điểm mới trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thòi theo luật trọng tài thương mại 2010 - Pdf 33

NHẬN XÉT CỦA GIẢO VIÊN HƯỞNG DÂN
es so



1.3 Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự nói chung..............................14


2.1.7.1................................................................................................................. C
ăn cứ huỷ phán quyết trọng tài...........................................................................29

2.1.7.2................................................................................................................. Q
uyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài...............................................................29

2.2 Những quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Luật
Trọng tài thương mại 2010...........................................................................................29

2.2.1 Quyền và trách nhiệm các bên trong việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn

cấp tạm thời..............................................................................................................30


LỜI MỞ ĐẰU
OẩBoClcSSO

1. Lý do chọn đề tài
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã tác động sau sắc tới đời sống
kinh tế, xã hội và pháp luật. Sự chuyển hướng của nền kinh tế sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế
ngày càng đa dạng và phức tạp, cần được giải quyết theo các phương thức mới phù
hợp. Sự ra đời của tố tụng trọng tài là một tất yếu trong việc đa dạng hóa các cơ
quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Dù vậy trọng tài trước nay ở nước ta vẫn chưa thật sự phổ biến. Luật Trọng tài
thương mại 2010 ra đòfi là sự phù họp cả yêu cầu của xã hội và chính sách đường lối

riêng và việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói chung đạt hiệu quả.
3. Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy định Luật
Trọng tài thương mại 2010 là một vấn đề mới và chưa có văn bản hướng dẫn thực
hiện cụ thể. Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xoay quanh các vấn đề áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài từ khi có yêu cầu áp dụng đến khi ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong khuôn khổ luận văn cử
nhân luật, tác giả không trình bày một cách chi tiết từng vấn đề mà chỉ trình bày
những điểm cơ bản về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy
định của Luật Trọng tài thương mại 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, trình bày đề tài này người viết sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích luật viết để làm rõ thêm các quy định của pháp
luật.
- Phương pháp phân tích đánh giá biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố
tụng trọng tài.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, chủ yếu là phân tích các điều khoản
của Luật Trọng tài thương mại 2010 nhằm đánh giá và nhìn nhận vấn đề một cách


trọng tài thương mại quôc tê, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, từ đó rút ra
những điểm khác nhau, cũng như mặt tiến bộ và hạn chế của pháp luật Việt Nam về
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài.
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm hai chương:
Chương 1: “KHÁI QUÁT CHUNG VÈ BIỆN PHÁP KHẢN CẤP TẠM
THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI”. Chương này giới thiệu khái quát về
trọng tài, biện pháp khẩn cấp tam thời, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong tố tụng dân sự, tố tụng trọng tài và sự hỗ trợ của tòa án trong tố tụng trọng tài.

> Trọng tài thương mại là loại hình tổ chức phi chính phủ, hoạt động theo
pháp luật và điều lệ trọng tài. Trọng tài có quyền phán quyết như tòa án,
quyết định của trọng tài được cưỡng chế thi hành.
> Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng ừọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố
thỏa thuận và tài phán. Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không
thể phán quyết thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận, có thể nói về nguyên
tắc thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật.
> Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo quyền tự định
đoạt của các bên tranh chấp cao. Phiên họp giải quyết tranh chấp không
diễn ra công khai.
> Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Neu một trong các
1 Giáo trình Luật thương mại 3, Ths. Dương Kim Thế Nguyên, Khoa luật, Đại học càn Thơ, 2008.


> Trọng tài thương mại tồn taị dưới hai dạng cơ bản: Trọng tài vụ việc
(trọng tài ad-hoc) và Trọng tài quy chế (trọng tài thường trực).
1.1.3 Ưu điểm
> Tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải
quyết tranh chấp.
Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài thương mại có ưu
điểm nổi bật so với Tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là
có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng. Tính chung thẩm của quyết định
trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến
các bên không thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét
xử. Khi tuyên phán quyết xong, Hội đồng ừọng tài hoàn thành nhiệm vụ và chấm
dứt sự tồn tại của mình.
> Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật.
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt. Hầu
hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín,

gia.
Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu
biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên
ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở
hữu trí tuệ...
> Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi
chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án.
1.2 Khái quát chung về biện pháp khẩn cấp tạm thòi
1.2.1 Khái niệm
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đôi khi tòa án phải quyết định áp
dụng một hoặc một số biện pháp cần thiết theo yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo
vệ bằng chứng hay để đảm bảo thi hành án. Neu không áp dụng các biện pháp này
có thể dẫn đến những khó khăn thiệt hại cho đương sự hoặc khó khăn trở ngại cho
quá trình giải quyết vụ án. Các biện pháp này được gọi là biện pháp khẩn cấp tạm
thời.
BPKCTT là biện pháp tư pháp theo luật định - do tòa án tự quyết định hoặc
theo yêu cầu của một bên đưong sự trong vụ việc dân sự nhằm mục đích bảo đảm
quyền vò lợi ích hợp pháp cho đương sự trong trường họp cấp bách, khấn cấp tránh
gây ra những thiệt hại không thể khẳc phục được2.
2 Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án kinh tế - dân sự,
rtruv cảp
ngay:thêm
28/3/20111.
3 Xem
điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự 2004.


So với các biện pháp khác được tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự thì BPKCTT có nhiều điểm khác biệt, nó vừa mang tính khẩn
cấp vừa có tính tạm thời và sẽ có hiệu lực ngay sau khi được ban hành.

nhiên với mục đích đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện
4 Xem Khoản 1 Điều 126 Bộ luật Tố Tụng Dân Sự.


định về BPKCTT có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thủ tục giải quyết vụ án,
góp phần bảo đảm tính thực tế thiết thực cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Bởi thế,
quyết định về BPKCTT là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự nói chung,
tố tụng trọng tài nói riêng trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Trước đây pháp luật Việt nam chỉ quy định việc áp dụng BPKCTT trong tố
tụng tòa án kể cả trong trường họp các bên lựa chọn trọng tài làm phương thức giải
quyết tranh chấp thì khi có nhu cầu áp dụng BPKCTT thì vẫn phải gửi đơn đến tòa
án có thẩm quyền để tòa án quyết định hỗ trợ cho hoạt động giải quyết tranh chấp
của trọng tài và bảo vệ lợi ích cho đương sự5. Tuy nhiên việc ra đời của Luật Trọng
tài thương mại 2010 (LTTTM 2010) đã mở rộng hơn nữa phạm vi của việc áp dụng
các BPKCTT, Tòa án từ chủ thể duy nhất có thẩm quyền ban hành quyết định áp
dụng BPKCTT thì nay Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền ban hành. Các quy
đỊnh này nhằm làm tăng thêm vị thế của phương thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài so với trước đây. Tăng thêm sự chọn lựa giữa các hình thức giải quyết
tranh chấp. Giúp việc giải quyết các tranh chấp được giải quyết nhanh chóng giảm
tải xét xử cho ngành tòa án, tiết kiệm được công sức thời gian cho các bên trong
tranh chấp.
Đến thời điểm hiện nay các quy định về các BPKCTT được ghi nhận tại Bộ
luật Tố tụng dân sự 2004, LTTTM 2010, Nghị quyết 02/2005 của Hội đồng thẩm
phán tòa án nhân dân tối cao ngày 27/04/2005 và các luật chuyên ngành khác.
1.3 Biện pháp khấn cấp tạm thòi trong tố tụng dân sự nói chung6
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện họp pháp của
đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích họp
pháp của người khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự có quyền yêu cầu
Tòa án đang giải quyết vụ án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp nhằm tạm thời giải
quyết yêu cầu của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây


nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan
đến người chưa thành niên chưa có người giám hộ (Điềul03);
>

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng được áp dụng nếu

việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng và xét thấy yêu càu đó là
có căn cứ và nếu yêu cầu cấp dưỡng không được thực hiện ngay sẽ ảnh hưởng đến
sức khỏe và đời sống đời sống của người cấp dưỡng (Điều 104);
>

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính

mạng, sức khỏe bị xâm phạm được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan
đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm và xét
thấy yêu cầu đó là có căn cứ và hoàn cảnh kinh tế của người yêu cầu cấp dưỡng
hoặc người được cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn không tự lo được
và nếu yêu cầu cấp dưỡng không được thực hiện ngay sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe
và đời sống của họ (Điều 105); quyết định về BPKCTT là một chế định quan trọng
trong tố tụng dân sự nói chung, tố tụng trọng tài nói riêng trong quá trình giải quyết
tranh chấp
>

Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi

thường trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động được áp
dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu trả tiền lương, tiền công,
tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp và xét thấy hoàn
cảnh của người bị hại lâm vào tình cảnh khó khăn không thể tự mình khắc phục

trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản
đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc hành vi khác làm
thay đổi hiện trạng tài sản đó (Điều 110);
>

Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác được áp

dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có tài sản đang tranh chấp hoặc liên quan
đến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác ở thời kỳ thu hoạch
hoặc không thể bảo quản được dài. Các tài sản này sẽ được bảo quản và bán theo
phương pháp do pháp luật quy định riêng (theo phương thức bán tài sản kê biên để
thi hành án) (Điều 111);
>

Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà

nước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người
có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và
việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc
bảo đảm cho việc thi hành án. Khi có quyết định áp dụng biện pháp này thì mọi
giao dịch thực hiện đối với tài sản của tài khoản tại các nơi phong tỏa đều vô hiệu.
Khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp này của tòa án ngân hàng, tổ chức tín
dụng, kho bạc nhà nước có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch liên quan đến tài sản
của tài khoản bị phong tỏa cho đến khi có quyết đỊnh khác về tài sản này của tòa án
(Điều 112);
>

Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong quá trình giải

quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp

quả nghiêm trọng xảy ra, việc yêu cầu áp dụng BPKCTT được thực hiện đồng thời
với việc nộp đơn khởi kiện. Tùy thuộc vào từng tình huống và từng BPKCTT áp
dụng mà còn đòi hỏi thêm những quy định riêng biệt và đặc thù để Tòa án có thể ra
quyết định áp dụng các BPKCTT.
1.4 Biện pháp khẩn cấp tạm thòi trong tố tụng trọng tài
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên
thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Đó là một trong
những phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, theo đó các bên chọn một
chủ thể không phải là tòa án giúp mình giải quyết tranh chấp đã phát sinh. Thương
mại là một lĩnh vực đặc thù, các tranh chấp không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích của các bên trong tranh chấp mà còn có thể ảnh hưởng đến người khác, do đó
đòi hỏi việc giải quyết các tranh chấp này theo phương thức nào là họp lý và thuận
lợi cho tất cả là vấn đề cần nhất. Việc đưa vụ án ra Tòa án xét xử là trường hợp bất
khả kháng nhất thường chỉ là giải pháp cuối cùng được chọn lựa, không ai muốn


ưu và thiết thực trong việc này. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có
ưu thế hơn so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác bởi tố tụng trọng tài
được đánh giá là linh hoạt, bảo đảm tốt hơn quyền định đoạt của các bên, cơ chế
này đảm bảo bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp cho các thương nhân có liên
quan tới vụ tranh chấp. Tố tụng trọng tài có thủ tục đơn giản, đảm bảo giải quyết
nhanh chóng các tranh chấp, tiết kiệm thời gian và tiền bạc. Với rất nhiều ưu thế so
với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như vậy nhưng cũng giống như
phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án mục đích cuối cùng của tố tụng trọng
tài là “xác định sự thật khách quan về vụ tranh chấp”. Vì vậy, như khi tham gia tố
tụng tại Tòa án, khi tham gia tố tụng trọng tài, các chủ thể tham gia tố tụng có nghĩa
vụ đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền,
lợi ích họp pháp của mình. Tuy nhiên, nếu như tố tụng Tòa án, thủ tục tố tụng đã
được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng thì tố tụng ừọng tài, các bên có quyền chủ
động trong việc xây dựng, lựa chọn thủ tục tố tụng. Khi các bên chọn trọng tài làm


Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;

Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số
hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố
tụng trong tài;
-

Kê biên tài sản đang tranh chấp;

-

Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một

bên hoặc các bên tranh chấp;
-

Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;

-

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

Các BPKCTT này cũng có nội dung tương tự như đã giải thích ở tố tụng dân
sự nói chung. Sự ra đời của LTTTM 2010 nâng thêm một bước tư cách của Hội
đồng trọng tài. Hội đồng trọng tài từ vị trí chỉ là nơi đưa ra ý kiến tham khảo cho cơ
quan có thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng BPKCTT8, nay đã là cơ quan có
thẩm quyền ban hanh các quyết định áp dụng BPKCTT như là Tòa án. Tạo điều
kiện thuận lợi cho việc áp dụng BPKCTT bảo đảm cho mục đích nhu cầu cấp bách
của đương sự được giải quyết thỏa đáng, không còn phụ thuộc nhiều vào Tòa án

trọng tài không còn quá quan trọng nữa. Từ vị trí chỉ là cơ quan hỗ trợ cho tòa án
trong việc áp dụng BPKCTT theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 (PLTTTM
2003), nay đã là chủ thể có thẩm quyền ban hành các BPKCTT. Trong việc áp dụng
các BPKCTT, tòa án và Hội đồng trọng tài là các chủ thể ngang nhau về quyền lực.
Sự hỗ trợ của tòa án trong việc áp dụng BPKCTT chỉ thể hiện rõ khi các bên trong
tranh chấp yêu cầu áp dụng các biện pháp mà Hội đồng trọng tài không thể ra quyết
định áp dụng, lúc này bắt buộc phải có sự hỗ trợ từ tòa án.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường thì tranh chấp kinh tế là một thuộc
tính mang tính quy luật. Chính vì vậy, đòi hỏi phải có những cơ quan tài phán có
đầy đủ năng lực để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại ngày một gia
tăng và phức tạp. Cùng với sự trưởng thành của các Toà kinh tế trong hệ thống Toà
án nhân dân thì các trung tâm trọng tài thương mại cũng có sự phát triển. Với những
Trọng tài viên có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn, là những chuyên gia đầu
ngành tin rằng Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam nói riêng và hệ thống các
Trung tâm trọng tài thương mại nói chung sẽ không ngừng lớn mạnh đáp ứng yêu
cầu mới của đất nước. Với chức năng thẩm quyền là cơ quan tài phán nhân danh
Nhà nước, Tòa án sẽ có sự phối họp cùng các Trung tâm trọng tài thưong mại đảm
bảo giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại theo thẩm quyền mà pháp luật
8 Xem thêm Pháp lệnh Trọng Tàị
Thương
Mại
2003.
9 Xem
thêm
Điều
120 Bộ luật Tố Tụng
Dân sự 2004.


Tóm lại, BPKCTT được chủ thể có thẩm quyền áp dụng trong quá trình giải

Thỏa thuận trọng tài là hình thức pháp lý trong đó các chủ thể của các quan
hệ kinh tế thể hiện sự nhất trí về việc sẽ đưa các tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh
đến trọng tài để giải quyết theo một nguyên tắc của một tổ chức trọng tài nhất định.
Thỏa thuận trọng tài là nội dung đầu tiên trong trình tự, thủ tục trọng tài. Đóng vai
trò nền tảng tạo cơ sở xác lập cả một quá trình trọng tài mà các bên phải tuân thủ
khi một tranh chấp phát sinh. Nói cách khác, không có thỏa thuận trọng tài thì
không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài11.
về hình thức thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản: thỏa thuận
được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các
hình thức khác theo quy định của pháp luật; thỏa thuận được xác lập thông qua trao
đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên.
Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng
tài trong họp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. Thoả thuận trọng tài hoàn
toàn độc lập với họp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ họp đồng, họp đồng vô
hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng
tài.
2.1.2 Ngôn ngữ và luật áp dụng để giải quyết tranh chấp
2.1.2.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tố tụng trọng tài là tiếng nói - chữ viết
được sử dụng trong suốt quá trình tố tụng, về nguyên tắc, ngôn ngữ trọng tài do các
bên tự thỏa thuận. Hội đồng trọng tài chỉ quyết định khi các bên không có thỏa
thuận hoặc thỏa thuận không được.
Theo Điều 10 LTTTM 2010: “ trong tranh chấp không có yếu tố nước ngoài,
ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt; đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, ngôn
11 Giáo trình Luật thương mại 3, Ths. Dương Kim Thế Nguyên, Khoa
luật, Đại
học
cẩn10
Thơ,
2008.2 010


Tên, địa chỉ của các bên; tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;

-

Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;

-

Cơ sở và chứng cứ khởi kiện, nếu có;

-

Các yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và giá trị vụ tranh chấp;

-

Tên, địa chỉ người được nguyên đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề

nghị chỉ định Trọng tài viền.
Đơn kiện được gửi đến Trọng tài trong thời hiệu khởi kiện mà pháp luật quy
định đối với từng loại tranh chấp.
13 Khoản 1 Điều 14 LTTTM 2010.
14 Khoản 2 Điều 14 LTTTM 2010.
15 Xem thêm Khoản 1 Điều 30
LTTTM 2010.


Tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của
nguyên đơn hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh



Địa điểm giải quyết tranh chấp là nơi công việc giải quyết tranh chấp được
tiến hành, vấn đề xác định địa điểm giải quyết tranh chấp thích họp có ý nghĩa tạo
điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp. Chính vì thế, mà theo nguyên tắc tôn
trọng sự thỏa thuận của các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết
tranh chấp. Hội đồng trọng tài chỉ quyết định địa điếm giải quyết tranh chấp khi các
bên không có sự thỏa thuận. Địa điểm giải quyết tranh chấp có thể ở trong hoặc
ngoài lãnh thổ Việt Nam.
2.1.4 Thành lập Hội đồng trọng tài
2.1.4.1 Thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài
Mặc dù giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài cũng là một phương
thức giải quyết mang tính tài phán nhưng không giống như Tòa án, không có Hội
đồng trọng tài cố định để giải quyết tranh chấp. Hội đồng trọng tài chỉ được thành
lập khi có đơn yêu cầu giải quyết. Các bên tranh chấp sẽ tham gia vào việc thành
lập Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp cho họ.
Thông thường, nếu không cỏ sự thỏa thuận về số lượng trọng tài viên thì Hội
đồng trọng tài bao gồm ba thành viên17. Mỗi bên có quyền chọn cho mình một
trọng tài viên. Hai trọng tài viên này sẽ cùng nhau chọn một trọng tài viên thứ ba
làm chủ tịch Hội đồng họng tài.
Neu các bên không có thỏa thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày nhận được đơn kiện và yêu cầu chọn trọng tài viên do Trung tâm trọng tài gửi
đến, bị đơn phải chọn trọng tài viên cho mình và báo cho Trung tâm họng tài biết
hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho mình. Het
thời hạn này, nếu bị đơn không chọn được Trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủ
tịch Trung tâm họng tài chỉ định trọng tài viên, thì trong thời hạn bảy ngày, Chủ
tịch Trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kế từ ngày hai trọng tài viên được các bên lựa
chọn hoặc được Trung tâm họng tài chỉ định, các trọng tài viên này chọn một họng
tài viên thứ ba có tên trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài làm

các bên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện,
các bên không có thoả thuận yêu cầu một Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài
viên.
2.1.5 Giải quyết tranh chấp
2.1.5.1 Chuẩn bị giải quyết tranh chấp
Đe tiến hành giải quyết tranh chấp mà Trung tâm trọng tài đã nhận đơn, các
Trọng tài viên, sau khi được chọn hoặc chỉ định phải tiến hành các công việc cần
thiết cho việc giải quyết tranh chấp.
Thứ nhất, nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc.
Trên cơ sở đơn kiện và các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn, của bị đơn,
các Trọng tài viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ và các văn bản pháp luật có liên quan



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status