TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA (2011 – 2015)
ĐỀ TÀI
VAI TRÒ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN
TRONG PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S Mạc Giáng Châu
Lê Thị Tuyết Mai
Bộ môn: Luật Tư pháp
MSSV: 5115816
Lớp: Luật Tư pháp 1 – K37
Cần Thơ, tháng 11/2014
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
MỤC LỤC
xét hỏi .................................................................................................................... 36
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
2.3.3. Đảm bảo bảo vệ quyền tranh luận bình đẳng của những người tham gia tố
tụng trong tranh luận ............................................................................................. 38
2.4. Vai trò của Hội thẩm nhân dân tại giai đoạn nghị án và tuyên án .............. 41
2.4.1. Đảm bảo giai đoạn nghị án diễn ra đúng pháp luật ..................................... 41
2.4.1.1. Hội thẩn nhân dân tham gia nghị án ngang quyền với Thẩm phán ..... 41
2.4.1.2. Hội thẩm nhân dân tham gia nghị án nhằm bảo vệ quyền dân chủ của
công dân ............................................................................................................ 43
2.4.2. Đảm bảo việc tuyên án là đúng với bản án đã đưa ra tại giai đoạn nghị án 45
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA
HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM .............. 49
3.1. Những tồn tại và giải pháp về mặt pháp lí ..................................................... 49
3.1.1. Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét hỏi tại phiên tòa .................. 49
3.1.1.1. Trình tự xét hỏi ..................................................................................... 49
3.1.1.2. Về xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ .............................................. 51
3.1.2. Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa .... 52
3.1.3. Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong giai đoạn nghị án – tuyên án ............ 53
3.1.3.1. Về quy định trở lại việc xét hỏi và tranh luận ...................................... 53
3.1.3.2. Về tuyên án ........................................................................................... 54
3.2. Những tồn tại về thực tiễn và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Hội
thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm ................................................. 55
3.2.1. Tồn tại thực tiễn về vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự
sơ thẩm................................................................................................................... 55
theo quy định của Bộ luật này. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.”
Trong hoạt động tố tụng dân sự, hành chính mà đặc biệt là tố tụng hình sự ít hay nhiều
quyền con người dễ bị xâm phạm nên sự có mặt của Hội thẩm như vậy là rất cần thiết
để đảm bảo tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, đúng với bản chất thực sự của Nhà nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hội thẩm nhân dân đại diện cho nhân dân tham gia xét xử ở Tòa án. Việc tham
gia của Hội thẩm vào hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo đảm khách quan trong
hoạt động tư pháp, đảm bảo được quyền lợi ích của công dân, đồng thời đảm bảo việc
nhân dân tham gia giám sát hoạt động của Nhà nước. Như vậy, ta thấy rằng vai trò của
Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án nói chung và vụ án hình sự nói riêng là
rất quan trọng. Chính vì những lí lẽ trên mà người viết đã chọn đề tài “Vai trò của Hội
thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm” để làm đề tài luận văn cho mình.
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai
1
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người viết tập trung nghiên cứu những quy
định của pháp luật về Hội thẩm nhân dân để làm rõ khái niệm, nhiệm vụ, quyền hạn
của Hội thẩm nhân dân. Bên cạnh đó người viết còn đề cập đến vai trò của Hội thẩm
nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm là đảm bảo tính dân chủ đại diện trong xét xử
và giám sát việc tuân theo pháp luật cũng như việc bảo vệ quyền công dân trong xét
xử. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề trên người viết còn làm rõ những tồn tại, vướng
mắc của pháp luật và thực tiễn dối với Hội thẩm nhân dân nhằm đưa ra những giải
pháp để khẳng định vai trò quan trọng của Hội thẩm nhân dân.
Vì thời gian nghiên cứu có hạn, việc tìm tài liệu còn hạn chế, đây cũng là lần
đầu tiên người viết nghiên cứu một đề tài luận văn tốt nghiệp mang tính khoa học. Do
đó, cũng không tránh khỏi những thiếu sót về việc phân tích, tổng hợp các quy định
của pháp luật cũng như những bất cập còn tồn tại trên thực tiễn về vai trò của Hội thẩm
nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến đánh giá, phê bình của các Thầy, Cô để luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện
hơn.
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai
3
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
Cơ sở lí luận là phần cơ bản đầu tiên trong bất kì đề tài nghiên cứu khoa học
nào, qua đó để thấy được những vấn đề chung nhất, khái quát nhất nhằm giúp người
đọc nắm được những phần cơ bản. Vì vậy, nghiên cứu lý luận là một nền tảng vững
chắc có vai trò quan trọng, tạo tiền đề cho việc đưa ra phương hướng giải quyết những
vấn đề cần hoàn thiện về mặt pháp lí cũng như thực tiễn một cách phù hợp nhất. Với đề
tài “Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm”, thì vấn đề đầu
tiên cần đề cập đến là nội dung chung về chế định Hội thẩm nhân dân, những đặc điểm,
nhiệm vụ, quyền hạn cũng như vị trí của Hội Thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử
của Tòa án và nội dung tiếp theo là việc tìm hiểu khái quát chung về phiên tòa hình sự
sơ thẩm. Những vấn đề trên là cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận để nhằm mục đích thấy
rõ vai trò của Hội thẩm nhân dân trong công tác xét xử của Toà án, cùng với những
xét xử, toàn thể công dân không trừ một ai đều phải tham gia xét xử và quản lý đất
nước”1.Chế định Hội thẩm nhân dân là một trong những chế định quan trọng của pháp
luật tố tụng hình sự đã được Hiến định, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh về
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
Theo từ điển tiếng Việt: Hội thẩm là đại biểu nhân dân người cùng xử án với Thẩm
phán2. Theo sổ tay thuật ngữ pháp lí thông dụng, Hội thẩm nhân dân là một chức danh
để chỉ những người cùng tham gia với thẩm phán trong Hội đồng xét xử ở Tòa án các
cấp khi tham gia xét xử3. Chế định Hội thẩm nhân dân được ghi nhận lần đầu tiên trong
hệ thống pháp luật nước ta tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24-01-1946 về Tổ chức Tòa án
và các ngạch Thẩm phán với tên gọi Phụ thẩm. Theo đó, ở Tòa án Đệ nhị cấp và Tòa
án thượng thẩm, khi xét xử việc tiểu hình và đại hình đều có Phụ thẩm nhân dân tham
gia. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của Nhà nước ta, việc tham gia của Phụ thẩm còn hạn
chế, chỉ những vụ án hình sự và tùy từng cấp tòa, Phụ thẩm có thể phát biểu về tội
trạng hoặc hình phạt, còn Thẩm phán tự quyết định khi xét xử các vụ tiểu hình; khi xét
xử các vụ đại hình, Phụ thẩm mới cùng nghị xử với Thẩm phán về tất cả các vấn đề
thuộc về tội trạng và hình phạt; Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm
1946 quy định sự tham gia xét xử của các Phụ thẩm nhân dân như là một nguyên tắc
Hiến định; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố
tụng tiếp tục ghi nhận nguyên tắc này khi quy định Hội thẩm nhân dân (thay cho phụ
thẩm nhân dân) tham gia xét xử. Trong các bản Hiến pháp nước ta 1959, 1980, 1992,
sự tham gia của Hội thẩm tiếp tục được ghi nhận như là một trong những nguyên tắc cơ
bản trong tổ chức và hoạt động Tòa án. Các Luật về tổ chức Tòa án nhân dân 1960,
1981, 1992, 2002; Bộ luật tố tụng hình sự 1988, 2003 và các Pháp lệnh khác cũng đều
ghi nhận nguyên tắc này.
1
V.I. Lênin, Toàn tập, Tập 36, Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1977 (tiếng Việt), trang 67-68
2
thẩm nhân dân Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
Hội thẩm nhân dân).
Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự quân khu và tương đương; Hội thẩm quân
nhân Toà án quân sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quân nhân).5
Như vậy: Hội thẩm nhân dân là những công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc
và chủ nghĩa xã hội, có kiến thức pháp lí, liêm khiết…được bầu để tham gia xét xử tại
Tòa án; luật pháp Việt Nam qua các thời kì từ 1945 đến nay đều xác định địa vị pháp lý
của chế định Hội thẩm nhân dân và từng bước hoàn thiện hơn; điều này là một yêu cầu
tất yếu khách quan thể hiện nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
của dân, do dân và vì dân.
Xem Khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm Tòa án nhân dân năm 2002, sửa đổi bổ sung năm
2011
4
Xem Khoản 2, Điều 2, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002, sửa đổi bổ sung năm
2011
5
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai
6
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.1.1.2. Tiêu chuẩn để trở thành Hội thẩm nhân dân
Tiêu chuẩn là một điều được quy định làm căn cứ đánh giá. Theo đó tiêu chuẩn
để trở thành Hội thẩm nhân dân được hiểu là những căn cứ tối thiểu của một cá nhân
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai
7
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
càng tinh vi, nhiều thủ đoạn trong mọi lĩnh vực đời sống, chính vì vậy khi Hội thẩm
nhân dân có kiến thức pháp lí tốt sẽ nắm rõ các quy định của pháp luật trong các lĩnh
vực sẽ dễ dàng hoàn thành tốt nhiệm vụ đầy trọng trách của mình trước nhân dân.
Có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu
tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân: Cá nhân
là công dân Việt Nam phải có tinh thần bảo vệ pháp luật của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa được thể hiện triệt để và toàn diện. Cá nhân cần tự giác chấp hành nghiêm chỉnh
pháp luật của Nhà nước, chống lại những tư tưởng phá hoại việc thực hiện pháp luật xã
hội chủ nghĩa. Do chính Hội thẩm nhân dân là người đảm bảo cho pháp luật được thực
hiện thì yếu tố này không thể thiếu trong tiêu chuẩn Hội thẩm nhân dân.
Có sức khỏe tốt để hoàn thành nhiệm vụ được giao: Người Hội thẩm nhân
dân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu
tố ngoại hình đó là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng đến tư thế hoặc việc thực hiện
nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân. Tuổi của Hội thẩm nhân dân từ 70 tuổi trở xuống đối
với nam và từ 65 tuổi trở xuống đối với nữ 7. Do nhu cầu của công việc của Tòa án,
nhiều áp lực nên đòi hỏi người làm nhiệm vụ phải có sức khỏe tốt.
Để những phán quyết của Tòa án được khách quan trung thực thì những người
đang công tác tại các cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát, Điều tra, Thi hành án và luật sư
thì không giới thiệu để bầu làm Hội thẩm Tòa án nhân dân.
Tóm lại, Hội thẩm nhân dân là những công dân Việt Nam, trung thành với Tổ
quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, liêm khiết, trung thực,
có tinh thần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa được bầu làm nhiệm vụ xét xử ở Tòa án.
của Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2005.
Hội thẩm nhân dân là người kiêm nhiệm giữ nhiệm vụ xét xử không chuyên, chịu
sự quản lí của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương theo quy chế về tổ chức và hoạt
động của Hội thẩm. Cũng như Thẩm phán “Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ theo sự
phân công của Chánh án” (Điều 32, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân
dân năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2011). Quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm lúc
này là quan hệ đồng nghiệp trong một đơn vị, gắn bó với nhau trong hoạt động, tác
động qua lại lẫn nhau cùng hướng tới một mục tiêu là chuẩn bị cho việc xét xử thật vô
tư khách quan nhưng phải trên nguyên tắc: “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật”8. Hội thẩm nhân dân được thực hiện tất cả các quyền và
nghĩa vụ do pháp luật quy định kể từ khi nhận được quyết định phân công xét xử của
Tòa án. Quyền hạn của Hội Thẩm pháp luật quy định “khi xét xử Hội thẩm ngang
quyền với Thẩm phán”, nội hàm của quyền này đã được cụ thể hóa ở các văn bản quy
phạm pháp luật, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán từ khi được mời tham gia Hội
đồng xét xử đến tất cả các giai đoạn và trong mọi thủ tục tố tụng giải quyết vụ án khi
có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán được hiểu là
thẩm quyền pháp lý của các thành viên Hội đồng xét xử ngang nhau, ý kiến của mọi
thành viên Hội đồng xét xử đều được tôn trọng và có tính quyết định như nhau, những
quyền đó được quy định trong các lĩnh vực sau: quyền nghiên cứu hồ sơ, việc nghiên
cứu hồ sơ vụ án giúp tạo điều kiện cho Hội thẩm nhân dân hiểu rõ nội dung vụ án, nắm
bắt được cụ thể các vấn đề đang đòi hỏi được giải quyết giúp cho Hội thẩm có quan
8
Xem thêm Điều 103 Hiến pháp 2013
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai
9
năm.” Mặt khác, theo điều 8 Pháp lệnh Thẩm phán va Hội thẩm Tòa án nhân dân năm
2002, sửa đổi năm 2011 thì: “Thẩm phán, Hội thẩm trong khi thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Toà án nơi Thẩm phán, Hội thẩm đó thực hiện
nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán, Hội thẩm đã gây thiệt
hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Toà án theo quy định của pháp luật”. Quy định này
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai 10
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
nhằm nhắc nhở các Hội thẩm phải có tinh thần trách nhiệm, phải thận trọng và cân
nhắc để phán quyết sự việc vì lẽ công bằng chứ không vị nể hay vụ lợi.
“Hội thẩm được bồi dưỡng về nghiệp vụ, tham gia hội nghị tổng kết công tác xét
xử của Toà án. Kinh phí bồi dưỡng về nghiệp vụ cho Hội thẩm được dự toán trong kinh
phí hoạt động của Toà án nhân dân, có sự hỗ trợ của ngân sách địa phương”9. Trình
độ nghiệp vụ của Hội thẩm được nâng cao là điều kiện tiên quyết để Hội thẩm thực
hiện quyền: “Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”. Đồng thời để tạo điều
kiện cho Hội thẩm khi làm nhiệm vụ, Điều 34 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa
án nhân dân năm 2002, sửa đổi bổ sung 2011 còn có quy định “Hội thẩm được cấp
trang phục, Giấy chứng minh Hội thẩm để làm nhiệm vụ xét xử”.
1.1.2. Khái quát chung về phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.1.2.1. Tội phạm và đặc điểm tội phạm hình sự
Tội phạm là một danh từ diễn tả một hành vi mà con người cho đó là xấu xa, tai hại,
đáng bị lên án và trừng phạt10. Một góc độ khác thuật ngữ pháp lí định nghĩa: Tội phạm
là những hành vi gây nguy hại cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự11. Theo
luật hiện đại, tội phạm được xem là một hành vi vi phạm pháp luật hình sự với tất cả
các dấu hiệu pháp lí của nó. Tội phạm là hành vi nguy hiểm nhất trong tất cả các hành
vi, vi phạm pháp luật nói chung.
đoạn điều tra, với bị cáo trong giai đoạn xét xử.
Có tội là khái niệm chỉ thuộc tính của chủ thể mà ở đây là con người, là tính từ
chỉ tính chất của một sự vật, hiện tượng; người có tội hay không có tội là sự đánh giá
của xã hội đối với một con người, cũng như ta thường nói người này tốt người kia xấu.
Tuy nhiên sự đánh giá một con người có tội hay không chỉ có Tòa án mới có quyền,
ngoài Tòa án không một cơ quan hay một các nhân nào có quyền này.
Phạm tội là động từ chỉ hành động (hành vi) của con người đã thực hiện một tội
phạm do Bộ luật hình sự quy định. Vì vậy, khi nói hành vi phạm tội, tức là nói đến một
thực trạng khách quan đã và đang xảy ra và việc ngăn chặn hành vi này là rất cần thiết
như bắt giữ, ra lệnh tạm giam, tiến hành các biện pháp điều tra xác minh theo quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự để chứng minh hành vi phạm tội của một người.12
Tội phạm là khái niệm pháp lí, là danh từ chỉ một hiện tượng xã hội tồn tại khách
quan. Theo Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác
của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Theo Luật hình sự hiện hành, dựa trên khái niệm về tội phạm, hành vi bị xem là tội
phạm phải có đủ bốn dấu hiệu, đồng thời là bốn đặc điểm của tội phạm hình sự: Tính
nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi và tính chịu hình phạt. Tội
phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính lịch sử, thay đổi theo sự phát triển
của xã hội. Tội phạm được quy định xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị trong các
hình thái kinh tế xã hội khác nhau, vì vậy tội phạm luôn mang bản chất giai cấp13. Việc
nghiên cứu khái niệm tội phạm có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong luật hình sự,
12
Đinh Văn Quế: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, trang 26
ứng cho từng loại tội phạm cụ thể.
1.1.2.2. Khái niệm phiên tòa hình sự sơ thẩm
Phiên tòa là nơi diễn ra hoạt động xét xử của tòa án nhân dân. Theo từ điển Luật
học thì định nghĩa sơ thẩm là lần đầu tiên đưa ra xét xử vụ án tại một Tòa án có thẩm
quyền. Phiên tòa hình sự sơ thẩm là phiên tòa xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) vụ án
hình sự do Tòa án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Phiên
tòa hình sự sơ thẩm gồm bốn giai đoạn: thủ tục bắt đầu phiên tòa, giai đoạn xét hỏi,
tranh luận tại phiên tòa, nghị án - tuyên án.
Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, thì xét xử tại phiên tòa là quan trọng nhất. Bởi
lẽ, suy cho đến cùng thì việc xử lí một người phạm tội được thể hiện và tập trung nhất
Cảnh Kiên: Luật sư kể về bàn tay lạnh của Lê Văn Luyện, http://www.24h.com.vn/an-ninh-hinh-su/luat-su-keve-ban-tay-lanh-cua-le-van-luyen-c51a581450.html [truy cập ngày 19-09-2014]
14
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai 13
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
ở hoạt động xét xử của Tòa án. Tại phiên tòa sau khi đã nghiên cứu, xem xét hồ sơ và
các tình tiết của vụ án một cách công khai, khách quan, toàn diện, Tòa án ra một bản án
khẳng định bị cáo có tội hoặc không có tội, nếu có phạm tội, thì phạm tội gì theo quy
định tại điều khoản nào của Bộ luật hình sự. Tòa án có áp dụng hình phạt đối với bị cáo
hay không, nếu có áp dụng hình phạt thì hình phạt đó là loại hình phạt gì. Đồng thời
Tòa án quyết định các biện pháp đối với bị cáo cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho hành vi phạm tội của bị cáo gây ra hoặc kiến nghị với các cơ quan nhà nước; tổ
chức xã hội sửa chữa những thiếu sót trong công tác quản lí Nhà nước; quản lí con
người.
Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng với một chức năng nhất định trong hoạt
Tòa án. Chính vì vậy, bản án mang một ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc và trước hết
trực tiếp ảnh hưởng tới người bị đưa ra xét xử - bị cáo.
Tóm lại, mọi hoạt động phương thức đều có những đặc điểm riêng, phiên tòa hình
sự sơ thẩm cũng không ngoại lệ, nếu nắm được và hiểu được các đặc điểm của nó thì
người tiến hành tố tụng nói chung và Hội thẩm nhân dân nói riêng sẽ nhanh chóng áp
dụng pháp luật phù hợp với từng đặc điểm của phiên tòa, đó cũng chính là cơ sở để
hoạt động của phiên tòa có chất lượng, có tác dụng nâng cao ý thức pháp luật cho mọi
công dân.
1.2. Cơ sở lý luận về vai trò và nguyên tắc xét xử độc lập của Hội thẩm nhân dân
trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.2.1. Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong xét xử án hình sự sơ thẩm
Trong thành phần của Hội đồng xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân
đó chính là việc luật hóa quan điểm tư tưởng của Đảng và Nhà nước về nội dung: “Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”16 Nhà nước
pháp quyền là nơi ý chí của giai cấp thống trị xã hội được xây dựng thành luật và các tổ
chức phù hợp để thực thi quyền lực của mình. Bản chất nhà nước ta là nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức
dân chủ đại diện.
Việc xét xử của Tòa án nhân dân có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là yêu
cầu tất yếu khách quan của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa. Trước tiên về mặt pháp lí,
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân
có Hội thẩm tham gia”,“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật”. Đối với một Nhà nước pháp quyền Hiến pháp là đạo luật gốc có giá trị pháp lí
cao nhất. Hiến pháp đã qui định và điều chỉnh những quan hệ căn bản nhất của con
người, tổ chức xã hội về mọi mặt chính trị - kinh tế, văn hóa… Mọi văn bản luật đều
phải chịu sự chi phối của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp. Do vậy việc
quy định chế định Hội thẩm nhân dân trong công tác xét xử của Tòa án là một nguyên
tắc Hiến định. Sự tham gia của Hội thẩm vào công tác xét xử của Tòa án nhằm:
tố tụng khác trong vụ án với một số nội dung chính như sau:
Hội thẩm nhân dân với vai trò đảm bảo bảo vệ quyền dân chủ của người bị xét
hỏi và bảo vệ quyền dân chủ của công dân trong khi nghị án.
Những người tham gia tố tụng bao gồm bị cáo, người bào chữa, người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ khác phải được Hội
đồng xét xử và nhất là Hội thẩm quan tâm, bảo vệ quyền dân chủ ở những khía cạnh
khác nhau tuỳ vào địa vị tham gia tố tụng của họ trong phiên toà. Đối với bị cáo trong
phiên toà, theo quy định của pháp luật họ vẫn không bị coi là có tội, quyền dân chủ của
họ vẫn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Giai đoạn xét hỏi là để Hội đồng xét xử
xem xét các tài liệu, vật chứng của vụ án kết hợp với việc hỏi các đối tượng được xét
hỏi để tìm ra sự thật khách quan của vụ án, cách xét hỏi của Hội thẩm phải mang tính
khách quan, không áp đặt. Thái độ của Hội thẩm đối với những người được xét hỏi
phải dân chủ và bình đẳng và tôn trọng họ. Khi nghị án Hội thẩm phải có tầm nhìn
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai 16
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
khách quan, toàn diện, chính xác về các vấn đề của vụ án để xét xử đúng người, đúng
tội, không để lọt tội phạm cũng không được xảy ra oan sai đối với người vô tội.
Hội thẩm còn có vai trò đảm bảo cho việc xét hỏi khách quan, công bằng, chí
công vô tư và đảm bảo bảo vệ quyền tranh luận bình đẳng của những người tham gia tố
tụng trong tranh luận. Việc xét hỏi và tranh luận là hai giai đoạn quan trọng của phiên
toà tuy tính chất có khác nhau nhưng việc xét hỏi phải khách quan, công bằng, chí công
vô tư giữa những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Quyền
tranh luận phải bình đẳng giữa những người tham gia tranh luận và Hội thẩm phải có
trách nhiệm cùng với Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà làm tốt vai trò trọng tài công lý
trong giai đoạn tranh luận của vụ án.
giải quyết vụ án kịp thời và đúng đắn, phù hợp nguyện vọng quần chúng nhân dân, đáp
ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thứ tư, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Toà án với quần chúng nhân dân
Thông qua hoạt động của Hội thẩm nhân dân, Tòa án có điều kiện nắm bắt ý kiến quần
chúng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Giúp quần chúng nhân dân hiểu
rõ về hoạt động của Tòa án nói chung, hoạt động xét xử nói riêng. Quần chúng nhân
dân được nâng cao ý thức pháp luật, tự giác chấp hành và bảo vệ pháp luật.
Thứ năm, Hội thẩm còn góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung,
kết quả xét xử các vụ án cho quần chúng nhân dân nói riêng. Là những người cùng sinh
sống, làm việc trong các cụm dân cư, các đơn vị sản xuất, các cơ quan hành chính, sự
nghiệp; người có sự hiểu biết pháp luật nhất định. Sau mỗi phiên tòa, Hội thẩm nhân
dân trở về với dân cư nơi sinh sống và nơi làm việc, nên Hội thẩm nhân dân có điều
kiện phổ biến pháp luật và kết quả xét xử vụ án của Tòa án cho quần chúng nhân dân.
1.2.2. Những nguyên tắc cơ bản của việc xét xử án hình sự sơ thẩm
Nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng, quan điểm cơ bản mang tính chỉ đạo
các hành động cụ thể, nguyên tắc thường được thể hiện dưới hình thức các luận điểm,
các nguyên lý có tính xuất phát điểm, định hướng và nhất thiết phải được tôn trọng và
quán triệt trong một loạt việc làm17.
Công tác xét xử nói chung và xét xử án hình sự nói riêng đều phải tuân theo
những nguyên tắc, qui định của phát luật. Những nguyên tắc tố tụng cơ bản khi xét xử
vụ án hình sự đều được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự với mục đích bảo đảm
các quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng nhằm tìm ra sự thật của vụ án, xét xử đúng người, đúng tội, không để lọt tội phạm
cũng không để làm oan người vô tội.
Tòa án là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam nên cũng được tổ chức theo nguyên tắc chung của việc tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước như các nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ,
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa…Tuy nhiên, Tòa án là một cơ quan nhà nước
17
tố tụng hình sự qui định những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm trực tiếp tôn
trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. “Khi tiến hành tố tụng,Thủ trưởng,
Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách
nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng,
kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm hoặc không
còn cần thiết nữa”18. Nguyên tắc này còn được các nguyên tắc khác cụ thể hoá và bảo
đảm cho nguyên tắc này được thực hiện như: Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm
18
Xem thêm Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai 19
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong phiên tòa hình sự sơ thẩm
phạm về thân thể của công dân, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân
trước pháp luật.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Đây là một nguyên tắc xuyên suốt trong
quá trình tố tụng ở tất cả các giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có nột yêu cầu riêng để
nguyên tắc này được thực hiện. Tại phiên toà việc chủ yếu của Hội đồng xét xử là kiểm
tra lại tính hợp pháp của các chứng cứ đã được cơ quan điều tra,viện kiểm sát thu thập;
hoạt động đánh giá chứng cứ là nhiệm vụ chủ yếu của Hội đồng xét xử.
Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực của Tòa án.
Một người thực hiện hành vi phạm tội nếu họ chưa bị Toà án xét xử và kết án thì họ
chưa bị coi là có tội. Việc quy định nguyên tắc này trong Luật tố tụng hình sự có ý ngĩa
phiên tòa được niêm yết công khai trước khi xét xử. Trong trường hợp để đảm bảo bí
mật nhà nước hoặc bí mật của đương sự thì Toà án không xét xử công khai nhưng vẫn
phải tuyên án công khai.
1.2.2.2. Nhóm nguyên tắc có liên quan trực tiếp đến vai trò của Hội thẩm
nhân dân trong xét xử sơ thẩm hình sự
Như trên đã phân tích, Hội thẩm nhân dân có một vai trò quan trọng trong việc
xét xử của Tòa án, nên trong hệ thống các nguyên tắc gải quyết án hình sự cũng có một
nhóm nguyên tắc xét xử của Tòa án liên quan đến chế định này.
Thứ nhất, nguyên tắc việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội Thẩm nhân dân
tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Một trong những đặc trưng của Nhà
nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Bản
thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc
thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Tòa án là cơ
quan quyền lực của Nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực tư
pháp của mình. Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành
với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích
của nhân dân. Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện
quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào
công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng. Nguyên tắc này
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xét xử, bởi việc tham gia của Hội thẩm giúp cho
Tòa án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân
dân. Tại Hội nghị học tập của ngành cán bộ Tư pháp năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh
từng nói: “Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng
chưa đủ. Không chỉ giới hạn hoạt động của mình trong khung Tòa án mà phải gần
dân, hiểu dân, giúp dân, học dân…”. Muốn đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các
tranh chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng, xử phạt đúng người, đúng tội, hiển
nhiên đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh,
có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng. Ngoài ra, để Hội đồng xét xử có phán
quyết đúng đắn, đòi hỏi họ cũng phải có kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh
nghiệm hoạt động xã hội. Vì thế pháp luật quy định khi xét xử có Hội thẩm nhân dân
thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cũng chính vì vậy mà khi
nói đến một nền tư pháp công bằng, dân chủ mà ở đó tồn tại những con người thật sự
công minh, vô tư và liêm khiết thì phải nhắc đến nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án
mà đại diện là Thẩm phán và Hội thẩm, những người trực tiếp xét xử; đưa ra các phán
quyết có ảnh hưởng đến danh dự Nhà nước và tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm của nhân dân.
19
Điều thứ 10 Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Lê Thị Tuyết Mai 22