TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2011-2015
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
BẢO VỆ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. CAO NHẤT LINH
LÊ THỊ MINH TƠ
Bộ môn Luật Thƣơng mại
MSSV: 5116033
Lớp: Luật Thƣơng mại 2 - K37
Cần Thơ, Tháng 12/2014
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Gia
đình, người thân đã luôn bên cạnh động viên, ủng hộ tinh thần
cho người viết khi gặp trục trặc, khó khăn trong suốt thời gian
qua. Và xin cho con gửi lời biết ơn sâu sắc đến cha mẹ đã bao
năm vất vả lo lắng cho con cả về vật chất lẫn tinh thần, tiếp thêm
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày …. tháng …. năm 2014
Giảng viên hƣớng dẫn
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về kinh doanh dịch
vụ bảo vệ ........................................................................................................................... 11
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO VỆ ...15
2.1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ bảo vệ .......................................................................15
2.1.1 Điều kiện về chủ thể kinh doanh ........................................................................15
2.1.2 Điều kiện về chủ thể thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ.......17
2.1.3 Điều kiện về vốn ..................................................................................................20
2.1.4 Điều kiện, tiêu chuẩn đối với nhân viên bảo vệ .................................................21
2.1.5 Điều kiện về trang thiết bị, công cụ hỗ trợ ......................................................... 22
2.1.6 Điều kiện khác .....................................................................................................23
2.1.7 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ ............................... 24
2.1.8 Các hành vi bị cấm trong kinh doanh dịch vụ bảo vệ .......................................25
2.2 Trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ .................26
2.2.1 Trình tự, thủ tục thực hiện đăng ký doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ bảo vệ................................................................................................................26
2.2.2 Thành phần, số lượng hồ sơ thành lập doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ bảo vệ................................................................................................................27
2.2.3 Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ bảo vệ................................................................................................................29
2.3 Trình tự, thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự ......29
2.3.1 Trình tự, thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự ...30
2.3.2 Thời hạn giải quyết hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về
an ninh, trật tự ..............................................................................................................31
2.4 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ ........................ 31
2.4.1 Quyền và nghĩa vụ chung ...................................................................................31
2.4.1.1 Quyền của doanh nghiệp .......................................................................................... 32
2.4.1.2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp ...................................................................................... 33
cũng đã có từ khá lâu và chỉ mới bắt đầu rõ nhất vào những năm 1990.
Theo thời gian mọi người bắt đầu nhận ra những giá trị cốt lõi mà dịch vụ bảo vệ
mang lại, nó không còn đơn thuần là bảo vệ tài sản, đảm bảo an toàn cho cá nhân hay
doanh nghiệp mà còn góp phần không nhỏ vào công cuộc đảm bảo an ninh, trật tự an
toàn xã hội. Dần dần dịch vụ bảo vệ là một nhu cầu thiết thực của xã hội. Từ đó, mà ngày
càng nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh loại hình dịch vụ đặc biệt này và cạnh
tranh với nhau quyết liệt.
Chính sự phát triển một cách “ồ ạt” của dịch vụ bảo vệ cũng gây ra những tiêu cực
trong hoạt động kinh doanh. Nhận thấy điều đó mà Nhà nước đã có những quy định siết
chặt hơn trong việc quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Để giúp cho những chủ thể có ý
định kinh doanh dịch vụ này có cái nhìn tổng quan về các quy định điều chỉnh hoạt động
kinh doanh dịch vụ bảo vệ cũng như chỉ ra nhưng khiếm khuyết, kẻ hở trong quy định
của pháp luật và đề xuất ý kiến hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này. Vì thế người viết
chọn đề tài “Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
của mình!
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 1
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý về kinh doanh dịch
vụ bảo vệ. Trình bày cho doanh nghiệp, nhân viên bảo vệ và khách hàng hiểu và áp dụng
đúng các quy định của pháp luật, giúp họ hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham
gia vào dịch vụ bảo vệ và giúp cho hoạt động này đi vào “quỹ đạo” của nó.
Trên cơ sở những bất cập trong quy định của pháp luật người viết cũng đưa ra
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
Với chương này người viết nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về
các vấn đề như: các điều kiện để tham gia kinh doanh dịch vụ bảo vệ, trình tự thủ tục
thành lập doanh nghiệp bảo vệ, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo vệ,…
Chƣơng 3: Một số bất cập trong quy định về kinh doanh dịch vụ bảo vệ và một
số đề xuất hoàn thiện
Sau khi phân tích những quy định của pháp luật hiện hành, người viết đưa ra những
vấn đề mà theo người viết cần được sửa đổi, bổ sung, thay thế và đưa ra một số giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về kinh doanh dịch vụ bảo vệ.
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 3
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
BẢO VỆ
Trong nền kinh tế thị trường thì kinh doanh dịch vụ là lĩnh vực hứa hẹn nhiều tiềm
năng phát triển. Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi dịch vụ phải thể hiện tính năng ưu
việt, sự toàn diện và khả năng đáp ứng tốt mục đích sử dụng của khách hàng.
Dịch vụ bảo vệ là một ngành kinh doanh không phải mới trên thị trường Việt Nam,
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát
triển”.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu
cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”.1
Dịch vụ là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu cuộc
sống của con người, dịch vụ không tồn tại hữu hình như hàng hóa do đó không thể cầm
nắm, không thể lưu trữ được,… Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, phi vật chất không thể
cầm nắm. Dịch vụ không trực tiếp tạo ra giá trị vật chất và được hình thành trên cơ sở sự
khai thác chất xám con người và sự sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống.
Về mặt luật học thì: “ Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và
tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm
Việt Nam theo quy định của pháp luật”2 và luật cũng đưa ra định nghĩa cho hoạt động của
nó: “ cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng
dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử
dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử
dụng dịch vụ theo thỏa thuận”.3
Có thể thấy dịch vụ là một sản phẩm vô hình với hình thái là một công việc cụ thể
nhằm thỏa mãn nhu cầu con người, hoạt động cung ứng dịch vụ được tiến hành nhằm
mục đích sinh lợi, đây là điểm phân biệt của cung ứng dịch vụ trong thương mại với
những hoạt động dịch vụ khác không nhằm mục đích sinh lợi nhưng ranh giới này ngày
càng mờ nhạt do các hoạt động cung ứng dịch vụ hiện nay đa phần đều nhằm mục đích
sinh lợi.
1.1.2 Khái niệm về bảo vệ
Ta có thể đưa ra khái niệm về bảo vệ dựa trên từ loại của nó bao gồm động từ và
danh từ thì:
Về mặt động từ thì bảo vệ là hành vi cụ thể của con người nhằm mục đích che chở,
chống lại tác nhân gây hại, bảo đảm sự nguyên vẹn cho một đối tượng cụ thể. Đối tượng
của hoạt động này có thể là hữu hình hoặc vô hình. Nó có thể là tài sản, sức khỏe, tính
mạng, hay là công bằng, chính nghĩa,…
Ngoài những đặc điểm cơ bản của dịch vụ như sản phẩm dịch vụ là: “Tính vô hình,
không xác lập được quyền sở hữu trên dịch vụ; khó tiêu chuẩn hóa; quá trình sản xuất,
cung ứng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, dịch vụ không thể cất trữ và lưu kho bãi
được”4 thì dịch vụ bảo vệ cũng có những đặc điểm riêng thể hiện tính chất đặc biệt của
công việc bảo vệ:
Thứ nhất, Đối tượng được bảo vệ là sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của con
người, tài sản, hàng hóa, trụ sở cơ quan, nhà cửa, an ninh trật tự của các sự kiện, hoạt
động vụ chơi giải trí,…
Thứ hai, Sản phẩm của dịch vụ là sự an toàn, toàn vẹn của đối tượng được bảo vệ,
đáp ứng được nhu cầu về an toàn như mong muốn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
Thứ ba, Doanh nghiệp và nhân viên bảo vệ chỉ được thực hiện yêu cầu của khách
hàng trong phạm vi cho phép của pháp luật. Từ chối thực hiện các thực hiện các yêu cầu
trái với quy định của pháp luật và phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền về sự việc
trên. Đây là điểm đặc thù của loại hình dịch vụ này.
Thứ tư, Nhân viên bảo vệ là những người được tuyển chọn nghiêm ngặt và đào tạo
chuyên sâu; phải đáp ứng những tiêu chuẩn về sức khỏe, lý lịch và trình độ văn hóa theo
quy định của pháp luật.
Thứ năm, Hoạt động của dịch vụ đòi hỏi nhân viên cung ứng dịch vụ luôn trong tinh
thần cảnh giác cao, thích ứng tốt và sẵn sàng ứng phó với những tình huống phức tạp;
trong nhiều tình huống có thể ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của nhân viên bảo vệ,
4
Nguyễn Như Phát, Pháp luật thương mại dịch vụ Việt Nam và hội nhập kinh tế Quốc tế, NXB Bưu Điện, 2006, tr
13.
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 6
vệ mà chủ thể kinh doanh được phép tiến hành quy định tại Nghị định số 52/2008/NĐ-CP
ngày 22/02/2008 của Chính phủ về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ và được hướng
dẫn cụ thể tại Điều 1, Mục I Thông tư số 45/2009/TT- BCA ngày 14/07/2009 của Bộ
Công an hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày
22/04/2008 về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ thì dịch vụ bảo vệ được chia thành 3
loại:
5
Khoản 9, Điều 3, Luật thương mại năm 2005.
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 7
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
+ Dịch vụ bảo vệ con người. Được giới hạn trong phạm vi của hoạt động bảo vệ tính
mạng, sức khỏe của người được bảo vệ. Nhân viên bảo vệ thường được gọi là “vệ sỹ” khi
tiến hành cung ứng dịch vụ bảo vệ này cho khách hàng thay vì là nhân viên bảo vệ.
+ Dịch vụ bảo vệ tài sản. Đối tượng được bảo vệ là tài sản bao gồm: tài sản của cá
nhân, hàng hóa, nhà cửa, cơ sở sản xuất kinh doanh, trụ sở cơ quan, tổ chức. Hoạt động
bảo vệ tài sản, hàng hóa bao gồm cả giao, nhận tài sản, hàng hóa.
+ Dịch vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Đây là dịch vụ bảo đảm an toàn và giữ gìn an
ninh, trật tự cho các hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí, lễ hội.
Thông thường, các doanh nghiệp bảo vệ sẽ phân loại dịch vụ bảo vệ mà doanh
nghiệp mình cung ứng dựa trên tính chất mục tiêu được bảo vệ, gồm có:
+ Dịch vụ bảo vệ mục tiêu cố định. Mục tiêu cố định là những mục tiêu không có sự
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
- Dịch vụ bảo vệ tài sản, hàng hóa, nhà cửa, cơ sở sản xuất kinh doanh, trụ sở cơ
quan, tổ chức bao gồm các hoạt động bảo vệ an toàn về tài sản, hàng hóa (kể cả các hoạt
động giao, nhận tài sản, hàng hóa), nhà cửa, cơ sở sản xuất, kinh doanh, trụ sở cơ quan,
tổ chức theo thỏa thuận trong hợp đồng.
- Dịch vụ bảo vệ an ninh, trật tự các hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí, lễ hội, bao
gồm các hoạt động bảo vệ an toàn và giữ gìn an ninh, trật tự cho các hoạt động này theo
thỏa thuận trong hợp đồng.
Với quy định này sẽ giúp cho các doanh nghiệp bảo vệ xác định được hoạt động nào
doanh nghiệp mình được phép thực hiện. Cũng như giúp cơ quan quản lý phát hiện
những sai phạm của các doanh nghiệp có biện pháp chấn chỉnh, xử lý nhằm đưa hoạt
động này đi đúng trật tự.
1.2.3 Vai trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
Dịch vụ bảo vệ không đơn thuần là một ngành nghề kinh doanh mang lại lợi nhuận
cho doanh nghiệp bảo vệ góp phần phát triền nền kinh tế, mà còn có vai trò quan trọng
đối với an ninh trật tự, an toàn xã hội cũng như cơ hội việc làm cho người dân mà nó tạo
ra. Đó là lý do vì sao Nhà nước cần khuyến khích thương nhân đầu tư, kinh doanh và
phát triển dịch vụ này, nhằm khai thác triệt để những lợi ích mà nó mang lại.
1.2.3.1 Vai trò của dịch vụ bảo vệ đối với nền kinh tế
Dịch vụ bảo vệ góp phần phát triển giá trị của ngành dịch vụ chuyển đổi cơ cấu
ngành theo hướng tăng tỷ trọng của ngành dịch vụ giảm tỷ trọng công nghiệp và nông
nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho xã hội và đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân.
Khi thực hiện đa dạng hoá các loại hình dịch vụ bảo vệ, các công ty bảo vệ sẽ sử
dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực bảo vệ để thu lại
nguồn lợi lớn. Một khi các dịch vụ bảo vệ phong phú của các công ty có thể đáp ứng tốt
nhu cầu của thị trường thì đây sẽ là cơ hội tốt để các đơn vị kinh doanh loại hình an ninh
chuyên biệt này có thể quảng bá hình ảnh của mình sâu rộng đến khách hàng, tạo niềm
cách toàn diện. Không những thế, lực lượng bảo vệ còn góp phần đáng kể trong việc ổn
định an ninh, giữ gìn trật tự xã hội. Với chuyên môn và nghiệp vụ được đào tạo bài bản,
đội ngũ an ninh chuyên biệt này đã liên kết chặt chẽ cùng lực lượng công an xã, phường
nơi làm việc để duy trì ổn định an ninh địa phương, giúp người dân đề cao tinh thần cảnh
giác, phòng chống tội phạm.
Sự xuất hiện của dịch vụ bảo vệ ngoài việc đảm bảo sự an toàn cho các cá nhân,
đoàn thể doanh nghiệp mà vô hình chung đã góp phần mang lại nhiều giá trị tích cực cho
xã hội. Có thể khẳng định một điều: Trong bối cảnh xã hội hiện đại thì bảo vệ sẽ được
xem là một lực lượng an ninh trọng điểm.
Bên cạnh việc giải quyết nhu cầu về việc làm thì sự phát triển của dịch vụ bảo vệ đã
gián tiếp ngăn chặn, làm giảm tệ nạn xã hội, gánh nặng về an ninh trật tự khi một số phần
tử không có công ăn việc làm ổn định, tụ tập, chơi bời, gây rối làm mất an ninh trật tự.
Khi được tuyển dụng vào làm việc cho các doanh nghiệp bảo vệ thì nhân viên sẽ được
học qua các khóa đào tạo về pháp luật, võ thuật, đạo đức tác phong nghề nghiệp, kỹ năng
cứu nạn,… Phần nào giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của nhân viên, trang bị những
kỹ năng có ích cho nhân viên không chỉ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ mà có thể áp dụng
vào thực tế cuộc sống hằng ngày.
1.2.3.3 Vai trò giải quyết việc làm
Nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo vệ ngày càng tăng và theo quy luật cung - cầu đã kéo
theo đó là sự ra đời của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Sự xuất hiện của
các doanh nghiệp này đã tạo ra cơ hội việc làm cho người dân là khá lớn. Hơn nữa những
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 10
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
yêu cầu về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên bảo vệ không
Và cho đến nay, dịch vụ bảo vệ nói chung và dịch vụ bảo vệ tài sản nói riêng ngày
càng trở nên phổ biến hơn trong xã hội hiện đại, riêng tại Việt Nam, mặc dù dịch vụ bảo
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 11
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
vệ ra đời từ khá lâu ở các nước bạn nhưng rất lâu sau đó dịch vụ bảo vệ ở Việt Nam mới
trở nên phổ biến và được xã hội công nhận.
Bắt đầu từ sau khi đất nước đi vào cải cách, nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyển
dần sang kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước, dịch vụ bảo vệ mới bắt đầu phát
triển. Đây là thời kì ra đời nền kinh tế đa thành phần, trong đó nở rộ nhất là các công ty
tư nhân bao gồm các công ty của người Việt Nam, các công ty của người nước ngoài và
các công ty liên doanh hoặc công ty 100% vốn của nước ngoài.
Các khu chế xuất lần lượt được hình thành ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và
các tỉnh thành khác trong cả nước, thu hút các nhà doanh nghiệp nhỏ và vừa từ nước
ngoài vào xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh. Chính sự ra đời của các công ty nước
ngoài và các thành phần kinh tế tư nhân làm xuất hiện nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo vệ tài
sản, tư nhân, doanh nghiệp… chuyên nghiệp tại Việt Nam.
Mặc dù dịch vụ bảo vệ đã ra đời từ những năm 1990 nhưng vẫn chưa có văn bản cụ
thể điều chỉnh cho loại hình dịch vụ này. Đến giữa năm 2001 thì Chính phủ mới ban hành
Nghị định số 14/2001/NĐ-CP ngày 25/04/2001 về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Sự
ra đời của Nghị định này đánh dấu bước phát triển của dịch vụ bảo vệ trong hệ thống
ngành nghề của Việt Nam và sự quan tâm của Nhà nước đối với ngành dịch vụ này. Để
hướng dẫn những quy định tại Nghị định này được áp dụng vào thực tế thì Bộ Công an đã
có hướng dẫn thực hiện thông qua Thông tư số 07/2001/TT-BCA ngày 18/09/2001 hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 14/2001/NĐ-CP.
nghiệp bảo vệ phải tuân thủ theo quy định của luật này.
+ Giai đoạn 3:
Thấy được những hạn chế của Nghị định số 14/2001/NĐ-CP và Thông tư số
07/2001/TT-BCA, Chính phủ đã quyết định thay thế bằng Nghị định số 52/2008/NĐ-CP
ngày 22/02/2008 của Chính phủ về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ và được hướng
dẫn cụ thể tại Thông tư số 45/2009/TT- BCA ngày 14/07/2009 của Bộ Công an hướng
dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày 22/04/2008 về quản lý
kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Sự ra đời của hai văn bản này nhằm chấn chỉnh và đưa doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ hoạt động theo đúng trật tự pháp luật, dần loại bỏ
những doanh nghiệp bảo vệ không đủ điều kiện, không đáp ứng được yêu cầu của khách
hàng, thậm chí là vi phạm pháp luật.
Việc làm này cho thấy sự thay đổi trong cách nhìn nhận của các nhà làm luật về
hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ và sự thay đổi này để phù hợp với yêu cầu thực tế
cho sự phát triển, mở rộng quy mô kinh doanh của dịch vụ bảo vệ.
Bên cạnh có sự thay đổi về quy định trực tiếp điều chỉnh về lĩnh vực kinh doanh
dịch vụ bảo vệ thì những quy định về thành lập doanh nghiệp, quản lý công cụ hỗ trợ
cũng có sự thay đổi để phù hợp với nguyên tắc chung,… Cụ thể:
+ Về thành lập doanh nghiệp thì được áp dụng các quy định trong Luật doanh
nghiệp năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013 và các văn bản hướng dẫn thực hiện.
+ Về quản lý công cụ hỗ trợ được áp dụng pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10
ngày 02/07/2002 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 10 Về xử lý vi phạm hành chính
và được thay thế bằng Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Và Nghị định số
167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và
chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thay thế cho Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 1995 và Nghị định số 49/CP ngày 15/08/1996 của Chính phủ Về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự,…
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 13
Nhà nước cho phép cá nhân, tổ chức tự do kinh doanh, nhưng là “tự do trong khuôn
khổ” quy định của pháp luật, phải tuân thủ những quy tắc xử sự chung. Đối với dịch vụ
bảo vệ thì vừa chịu sự điều chỉnh của các quy định chung của Luật doanh nghiệp, Luật
thương mại,… Đồng thời phải tuân thủ các quy định chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp
hoạt động kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp, hoạt động của nhân viên bảo vệ.
2.1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ bảo vệ
Tại Nghị định số 79/2009/NĐ-CP ngày 03/09/2009 của Chính phủ Quy định về điều
kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì không có quy
định cụ thể về điều kiện của dịch vụ bảo vệ mặc dù đây là ngành nghề đòi hỏi phải có
Giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh trật tự.8 Bên cạnh đó còn có quy định về mức vốn
pháp định đối với chủ thể kinh doanh dịch vụ này. Vì thế mà chủ thể kinh doanh dịch vụ
bảo vệ vừa phải đáp ứng đủ các điều kiện chung khi tiến hành hoạt động kinh doanh và
vừa phải có đủ điều kiện đặc thù của dịch vụ bảo vệ.
2.1.1 Điều kiện về chủ thể kinh doanh
Thuật ngữ “chủ thể kinh doanh” được dùng rất phổ biến trong các báo, tạp chí, giáo
trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành pháp lý - kinh tế. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có
một khái niệm chính thức nào.
Theo Từ điển tiếng Việt, “kinh doanh” được hiểu là “tổ chức việc sản xuất buôn
bán sao cho sinh lời”9. Với nghĩa phổ thông này từ “kinh doanh” không những có nét
nghĩa “buôn bán” mà còn bao hàm cả nét nghĩa “tổ chức việc sản xuất”. Hơn thế nữa,
không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là “kinh doanh”. Về mặt pháp lý
thì: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lợi”.10
8
Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày 22/04/2008 của Chính phủ Về quản lý kinh doanh dịch vụ
bảo vệ.
9
ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.14 Vì vậy mà các chủ thể khác như
Hộ gia đình, Hợp tác xã,… không được phép kinh doanh dịch vụ bảo vệ.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ trong nước chỉ được liên
doanh với doanh nghiệp bảo vệ nước ngoài khi thực hiện dịch vụ bảo vệ mà đòi hỏi phải
có trình độ kỹ thuật, công nghệ cao mà phía Việt Nam chưa đáp ứng được và chỉ thực
hiện dưới hình thức liên doanh góp vốn, đầu tư trang bị kỹ thuật, nghiệp vụ bảo vệ. Do
đó cần có văn bản xác nhận trang bị, kỹ thuật của doanh nghiệp nước ngoài có công nghệ
cao mà Việt Nam chưa sản xuất được của cơ quan quản lý khoa học và công nghệ từ cấp
tỉnh trở lên.
Và phần vốn góp của doanh nghiệp nước ngoài chỉ được dưới 50% vốn pháp định
và tổng tài sản của doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp nước ngoài phải là doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ bảo vệ,
có số vốn và tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp từ 500.000 USD trở lên. Doanh nghiệp
11
Phan Công Thương, Một số vấn đề về chủ thể kinh doanh, Nghiên cứu lập pháp, số 6, tháng 7/2001, tr 52-53.
Bùi Xuân Hải, Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, 2013, tr 16.
13
Khoản 2, Điều 3, Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày 22/04/2008 của Chính phủ Về quản lý kinh doanh dịch vụ
bảo vệ.
14
Điều 1, Luật doanh nghiệp năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013.
12
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 16
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013:
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản
nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình.
Là việc sử dụng tài sản được mua sắm bằng vốn ngân sách nhà nước và có nguồn
gốc từ ngân sách nhà nước, kinh phí cấp từ ngân sách nhà nước, đất được giao để thực
GVHD: TS.Cao Nhất Linh
Trang 17
SVTH: Lê Thị Minh Tơ
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
hiện chức năng và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, kinh phí được tài trợ bởi Chính
phủ, tổ chức và cá nhân nước ngoài, thu nhập được tạo ra từ việc sử dụng các tài sản và
kinh phí nói trên.15
Thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là việc sử dụng thu nhập dưới hình thức có
được từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần vào mục đích chia cho một số
hoặc tất cả cán bộ, nhân viên của cơ quan, đơn vị dưới mọi hình thức; bổ sung vào ngân
sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách nhà
nước; lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ riêng cho lợi ích của cơ quan, đơn vị.16
+ Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.17
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan,
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ
+ Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh
doanh.
+ Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.18
“1. Người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng
quản trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được đảm
đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp
100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản.
2. Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước mà
doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ quản lý ở bất
kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.
3. Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản mà
cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều 48 của Luật
này thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được quyền thành lập doanh
nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm
kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.
4. Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không áp dụng trong trường hợp
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản với lý do bất khả kháng.”
Vậy đối với chủ thể thành lập doanh nghiệp bảo vệ nếu vi phạm một trong các
trường hợp trên sẽ không được thành lập, quản lý doanh nghiệp nói chung và doanh
nghiệp bảo vệ nói riêng. Và thời gian bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp là 3 năm kể
từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.
Tuy Luật doanh nghiệp quy định tổ chức, cá nhân không thuộc trường hợp bị cấm
thành lập, quản lý doanh nghiệp thì được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp, không
bắt buộc tổ chức phải có tư cách pháp nhân nhưng Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng
dẫn chi tiết thi hành Luật doanh nghiệp giới hạn khả năng thành lập, quản lý doanh
nghiệp của tổ chức, chỉ có tổ chức có tư cách pháp nhân mới được thành lập doanh
nghiệp.19
Bên cạnh quy định chung thì Nghị định số 52/2008 về quản lý kinh doanh dịch vụ