BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
CỦA CÔNG TY TNHH NPV ĐẾN NĂM 2015
3.1. Phương hướng phát triển các dịch vụ và dịch vụ logistics của Tp. Hồ
Chí Minh những năm tới.....................................................................................
3.1.1. Phương hướng phát triển các dịch vụ nói chung
Là trung tâm kinh tế của cả nước, những động thái phát triển của Tp Hồ Chí
Minh luôn được người dân cả nước quan tâm.
Với vai trò là một trong hai trung tâm kinh tế lớn nhất nước, Tp Hồ Chí Minh
cần phải phát triển bền vững để thúc đẩy kinh tế đất nước đi lên. Và xu hướng phát
triển kinh tế của Tp Hồ Chí Minh tới đây: dịch vụ là lĩnh vực cần được coi trọng. Đối
với Tp Hồ Chí Minh, xu hướng trong vài ba năm tới sẽ phải chuyển từ dịch vụ nông
nghiệp sang dịch vụ công nghiệp. Nhiệm vụ hiện nay là lựa chọn ngành dịch vụ nào
có ý nghĩa rộng lớn, quan trọng để làm trọng tâm: có thể là ngân hàng, tài chính hay
đối ngoại...
Dịch vụ đối ngoại là lĩnh vực đang được đẩy mạnh, mặc dù là lĩnh vực còn rất
mới, nhưng nó rất cần thiết đối với Tp Hồ Chí Minh. Như thế thì thu nhập của người
dân sẽ được nâng cao. Đồng thời, cũng có một ý nghĩa lớn là tạo điều kiện cho người
dân tiếp cận với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh đó, những dịch vụ truyền
thống và có lợi thế như dịch vụ về du lịch, thương mại, đào tạo và chuyển giao công
nghệ vẫn cần được tiếp tục phát triển.
3.1.2. Phương hướng phát triển dịch vụ logistics
Qua những phân tích về thực trạng cũng như yếu tố ảnh hưởng tới logistics, ta
thấy rõ doanh nghiệp Việt Nam đã làm nhiều việc của dịch vụ logistics tuy sự liên hệ
giữa người giao nhận với khách hàng vẫn tiến hành như cũ, chưa hiện đại hoá, chưa
triển khai mạnh mẽ công nghệ thông tin, nhưng đã làm được những việc cốt lõi của
dịch vụ logistics, đã nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,
các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 1
1
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Nền sản xuất dựa trên logistics kéo đối lập hẳn với cơ chế logistics đẩy truyền
thống trước đây – đó là cơ chế sản xuất được điều khiển bởi cung (supply - driven)
và được dẫn dắt, chỉ đạo theo một kế hoạch sản xuất đã được sắp đặt trước. Trong hệ
thống sản xuất điều khiển bởi cung, các thiết bị và sản phẩm hoàn thiện được “đẩy”
vào các quá trình sản xuất hoặc chuyển vào các nhà kho lưu trữ theo sự sắp sẵn của
công suất máy móc. Rõ ràng, cơ chế sản xuất dựa trên logistics đẩy không thực tế và
phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, dẫn đến sự dư thừa và lãng phí. Logistics kéo
là quá trình sản xuất được dẫn dắt bởi hoạt động trao đổi mua bán trên thực tế hơn là
dự đoán mức nhu cầu. Cơ chế “cần kéo” (logistics kéo) chỉ sản xuất những sản phẩm
đã được bán hoặc được khách hàng đặt hàng mua. Chuỗi cung cấp hậu cần kéo liên
kết quá trình kế hoạch hóa sản xuất và quá trình thiết kế với việc phân phối các sản
phẩm sản xuất. Đây chính là mô hình được điều khiển bởi cầu (demand – driven)
nhằm mục tiêu chính là đáp ứng được nhu cầu dự trữ cuối cùng của người tiêu dùng.
Trong khi, cơ chế hậu cần “đẩy” hạn chế khả năng liên kết giữa các nhà cung cấp,
nhà sản xuất và nhà phân phối, thì cơ chế hậu cần “kéo” đã đạt được mức thành công
cao hơn và tính hiệu quả của quá trình liên kết. Hơn nữa, sự trao đổi số lượng cầu cần
(demand data) bao gồm cá số lượng mua bàn cần thiết sẽ giúp thống nhất hội tụ giữa
mức cung của người sản xuất với cầu của người tiêu dùng.
• Xu hướng thuê dịch vụ Logistics từ các công ty Logistics chuyên nghiệp ngày càng
phổ biến.
Toàn cầu hoá nền kinh tế càng sâu rộng thì tính cạnh tranh lại càng gay gắt trong mọi
lĩnh vực của cuộc sống. Trong lĩnh vực Logistics cũng vậy, để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng, thì ngày càng có nhiều nhà cung cấp dịch vụ Logistics ra
đời và cạnh tranh quyết liệt với nhau. Bên cạnh những hãng sản xuất có uy tín đã gặt
hái được những thành quả to lớn trong hoạt động kinh doanh nhờ khai thác tốt hệ
thống Logistics như: Hawlett - Packerd, Spokane Company, Ladner Buiding
Products, Favoured Blend Coffee Company, Sun Microsystems, SKF, Procter &
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 3
3
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
• Dịch vụ giá trị gia tăng
NPV sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều loại dịch vụ giá trị gia
tăng (VAS) hữu ích, giúp hoàn thiện việc quản trị chuỗi cung ứng của quý
khách và đáp ứng những yêu cầu từ khách hàng của quý khách:
- Kiểm kiện, phân loại, tuyển chọn, tái chế, lắp ráp, tu chỉnh, sửa
chữa, thử mẫu, đóng bao, dán nhãn sản phẩm, trao đổi hàng hoá, vệ sinh
công nghiệp, quản trị đơn hàng bán buôn và bán lẻ, thu hồi bao bì/ dụng cụ,
logistics thu hồi (reverse logistics), dịch vụ bảo hiểm... và các VAS khác.
• Vận tải, Dịch vụ Vận tải
- Nhất Phong Vận nhận vận tải, xếp dỡ các loại hàng hoá: hàng thông thường,
hàng bao, hàng máy thiết bị, sắt thép, hàng rời, hàng lỏng, hoá chất nguy hiểm,
container FCL/LCL…
- Vận tải đường ngắn, vận tải Bắc-Trung-Nam, vận tải quá cảnh và quốc tế
- Vận tải ôtô, biển, thuỷ nội địa, vận tải liên hợp (complex transport), vận tải đa
phương thức (MT), dịch vụ vận tải đường sắt, vận tải hàng không…
- Vận tải và giao nhận đường ngắn, door to door services…
- Đặc biệt dịch vụ thu gom hàng lẻ đóng container chung chủ đi các cảng trên
thế giới…
• Dịch vụ giao nhận vận tải và khai thác kho bãi:
Công ty cũng đang có kế hoạch đầu tư vào phát triển hệ thống kho bãi hiện đại
tại khu vực sân bay Tân Sơn Nhất giúp nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị
trường của Công ty trong lĩnh vực dịch vụ kho bãi.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 5
5
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
3.2.2.2. Dịch vụ tư vấn khách hàng
- Tư vấn khách hàng về việc lựa chọn đối tác 3PL, 4PL trong chiến lược tăng cường
outsoursing.
- Một giải pháp hữu hiệu cho khách hàng trong chọn lựa đại lý vận tải cạnh tranh khi
Việt Nam gia nhập WTO.
- Phối hợp và tranh thủ hợp tác với các tổ chức FIATA, IATA và các tổ chức phi chính
phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thường xuyên hơn.
- Nên tổ chức xuất bản một tờ tạp chí riêng (chẳng hạn tờ Việt Nam Logistics) hoặc
website chung để làm diễn đàn cho các hội viên tham gia đóng góp ý kiến về các vấn
đề thuộc về ngành nghề của mình, có tiếng nói với chính phủ, các cơ quan quản lý và
hoạch định chính sách cũng như xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành logistics
Việt Nam. Các chương trình đào tạo sẽ được thông báo rộng rãi đến các hội viên để
tích cực tham gia và tổ chức đào tạo, sẽ cung cấp các sách báo, tài liệu nghiệp vụ cho
các hội viên để tham khảo.
Về ngắn hạn các công ty, doanh nghiệp có thể thông báo cho Hiệp hội về nhu cầu đào
tạo, các lĩnh vực quan tâm cũng như mời các chuyên gia kinh nghiệm đào tạo nội bộ
doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp hiện nay đang có kế hoạch đầu tư con người để đảm bảo cạnh
tranh thắng lợi và cung cấp dịch vụ có hàm lượng chất xám cao hơn. Đào tạo và
chuyên môn hóa lực lượng lo thủ tục Hải quan trong các công ty giao nhận quốc tế.
Xây dựng kế hoạch, cử người đi tham quan, học hỏi ở nước ngoài, có chính sách đãi
ngộ tốt và xứng đáng với các nhân viên giỏi chuyên môn, kỹ thuật. Đào tạo và tái đào
tạo nguồn lực hiện có, thu hút lao động từ xã hội có trình độ đại học, cao đẳng
chuyên ngành liên quan, am tường ngoại ngữ, có kiến thức địa lý, ngoại thương, cập
nhật thường xuyên kỹ thuật mới trong nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 7
7
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
- Các công ty cần có chương trình hỗ trợ sinh viên thực tập, thuyết trình về thực tiễn
hoạt động ngành hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới cho sinh viên. Các công ty phải
có đóng góp vật chất cụ thể cho đào tạo, hỗ trợ chuyên môn cho các trường nếu muốn
sử dụng sinh viên tốt nghiệp từ những trường này.
Về chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề trong ngành logistics hiện nay, nên thực
hiện ở 3 cấp độ:
- Tại các cơ sở đào tạo chính thức