CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong bối cẩnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),
kinh doanh hàng hoá dịch vụ nói chung và hoạt động giao nhận vận tải quốc tế nói
riêng luôn là một mắt xích trong chuỗi liên hoàn của hoạt động xuất nhập khẩu, nó
phục vụ cho nhu cầu giao lưu buôn bán giữa các khu vực và giữa các quốc gia trên
thế giới. Đây là loại dịch vụ Thương mại không cần đầu tư nhiều vốn nhưng lợi
nhuận thu được lại tương đối ổn định, góp phần làm cho nền kinh tế đất nước phát
triển nhịp nhàng, cân đối, mở rộng các mối quan hệ về nhiều mặt (chính trị, luật pháp
văn hoá – xã hội…) với các quốc gia khác nhau. Có thể nói giao nhận vận tải hàng
hóa quốc tế là nhịp cầu nối giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu, giao nhận vận
tải quốc tế là một khâu quan trọng không thể thiếu trong suốt quá trình kinh doanh
xuất nhập khẩu và nhất là trong thời đại như hiện nay nhu cầu xuất nhập khẩu là rất
lớn.
Ngày nay xuất khẩu là hoạt động quan trọng để thúc đẩy quá trình hội
nhập - Hội nhập để cùng tồn tại và phát triển. Cùng với xu thế toàn cầu hóa,
Việt Nam đang trong quá trình tham gia sâu hơn vào nền kinh tế thế giới,
chính vì vậy vấn đề xuất khẩu hiện nay rất được nhà nước ta quan tâm,
khuyến khích và vai trò của các công ty giao nhận vận tải hàng hóa càng không
thể nào thiếu trong vấn đề quyết định sự thành công của việc xuất nhập khẩu
hàng hóa quốc tế.
Hoạt động giao nhận vận tải tại nước ta trong thời gian gần đây có những
bước phát triển vượt bậc. Đó là sự gia tăng về số lượng của các công ty giao nhận, sự
cải tiến về chất lượng dịch vụ phần nào đáp ứng được nhu cầu cung ứng dịch vụ
Logistics của các nhà sản xuất kinh doanh trong nước.
Nước ta với nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên như: hệ thống sông
ngòi đa dạng, cảng sông cảng biển nhiều rất thuận lợi cho việc giao nhận hàng
hóa đường biển. Tuy nhiên một hạn chế lớn nhất đối với việc giao nhận hàng hóa là
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 1
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
mặt thuận lợi của cơ hội đó để vạch ra chiến lược hoạt động kinh doanh hiệu quả. Do
đó, mục tiêu chính của bài này là:
• Tình hình hoạt động của công ty, cũng như quy trình xuất, nhập hàng
hóa và khai Hải quan đối với hàng nhập và hàng xuất.
• Phân tích hoạt động và quy trình cung ứng dịch vụ xuất nhập hàng tại
công ty, tìm ta những khiếm khuyết để có thể cải thiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đánh giá lại quy trình cung cấp dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hóa và khai Hải
quan của công ty để tìm ra thị trường tiềm năng, khả năng đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng.
Vì thời gian, năng lực và trình độ có hạn nên em chỉ nghiên cứu dựa trên những
tài liệu của công ty, sách và internet.
4. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập số liệu sơ cấp: bằng cách quan sát thực tế, hiện trường.
Thu thập số liệu thứ cấp: thu thập từ các báo cáo, tài liệu của tổ chức, các niên
giám thống kê, thông tin trên báo chí, internet và các nghiên cứu trước đây.
• Phương pháp so sánh, tổng hợp:
So sánh một chỉ tiêu với cơ sở (chỉ tiêu gốc) đối với các thông số thị trường,
các chỉ tiêu bình quân, các chỉ tiêu có thể so sánh khác.
5. Kết cấu chuyên đề
Bài chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ logistics
Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của
công ty TNHH Nhất Phong Vận trong những năm qua.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 3
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh kinh doanh dịch vụ logistics của công ty
TNHH Nhất Phong Vận đến năm 2015.
Mặc dù đã cố gắng bổ sung, tu chỉnh nhiều lần nhưng chuyên đề này chắc
Theo hội đồng Quản trị Logistics của Mỹ (CLM), Logistics là quá trình hoạch
định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả chi phí lưu thông, dự trữ nguyên vật
liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng dòng thông tin tương ứng
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
từ điểm xuất phát đầu tiên đền điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích đáp ứng nhu
cầu của khách hàng.
Logistics được hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát sự lưu
thông và tích trữ một cách hiệu quả tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vật liệu, thành
phẩm và bán thành phẩm, dịch vụ và thông tin đi kèm từ điểm khởi đầu tới điểm kết
thúc nhằm mụch đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng.
Logistics có thể được định nghĩa là việc quản lý dòng chu chuyển và lưu kho
nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan.....từ
nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Hiểu một cách
rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và xử lý rác thải (Nguồn:
UNESCAP..........................)
Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển
và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ
đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (World Marintime
Unviersity‐ Đại học Hàng Hải Thế Giới, D. Lambert 1998).
Một số định nghĩa khác về Logistics cũng khá phổ biến:
• Logistics là hệ thống các công việc được thực hiện một cách có kế
hoạch nhằm quản lý nguyên vật liệu, dịch vụ, thông tin và dòng chảy của vốn… nó
bao gồm cả những hệ thống thông tin ngày một phức tạp, sự truyền thông và hệ thống
kiểm soát cần phải có trong môi trường làm việc hiện nay.
• Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/ sắp xếp và thay thế nguồn
nhân lực và nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc…
• Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá
trình lưu chuyển và dự trữ hàng hóa, dịch vụ … từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi
tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau, phải chịu nhiều rủi ro mất
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
mát, người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với từng người vận tải,
theo đó trách nhiệm với mỗi người vẫn tải chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch
vụ do người đó đảm nhận mà thôi. Từ đó, container hóa đã ra đời, là tiền đề cho sự
phát triển vận tải đa phương thức. Theo phương thức này, người gửi hàng chỉ cần ký
hợp đồng vận tải với một người, người này sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện
toàn bộ vận chuyển hàng hóa bằng một hợp đồng duy nhất mặc dù đó không phải là
người vận chuyển thực sự.
Trong doanh nghiệp thì Logistics là làm tối ưu hóa quá trình về vị trí và thời
gian, lưu chuyển và lưu trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu của quá trình cung ứng cho
đến tay người tiêu dùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
1.1.2. Đặc điểm,vai trò và tác dụng của Logistics
1.1.2.1 Đặc điểm của Logistics
Thực ra Logistics được áp dụng rất rộng rãi trong nhiều ngành không chỉ trong
Quân sự từ rất lâu, được hiểu là hậu cần, mà nó còn áp dụng trong sản xuất tiêu thụ,
giao thông vận tải…
Vì vậy trên cơ sở Logistics tổng thể (Global Logistic) người ta chia hoạt động
logistics thành Supply Chain Managment Logistics – Logistics quản lý chuỗi cung
ứng; Transportation Management Logistics ‐ Logistics quản lý vận chuyển hàng hóa;
Warhousing/ Inventery Management Logistics – Logistics về quản lý lưu kho, kiểm
kê hàng hoá, kho bãi.
Như vậy quản lý Logistics là sự điều chỉnh cả một tập hợp các hopạt động của
nhiều ngành cùng một lúc và chỉ khi nào người làm giao nhận có khả năng làm tất cả
các công việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục
hải quan, phân phối….mới được công nhận là nhà cung cấp dịch vụ logistics. Xét về
điều kiện này thì hầu như chưa có công ty Việt Nam nào có thể làm được, chỉ một số
rất it các công ty nước ngoài và cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay như: DHL Danzas,
TNT Logistics…
hoạt động Logistics phức hợp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát
và các chức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động Logistics. FPL bao gồm lĩnh
vực rộng hơn gồm cả các hoạt động của TPL, các dịch vụ công nghệ thông tin, và các
quản lý tiến trình kinh doanh. FPL được xem là một điểm liên lạc duy nhất, nơi thực
hiện việc quản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các chức năng TPL trong suốt
chuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và mối quan hệ
bền lâu.
1.1.2.2 Vai trò của Logistics
• Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác
động qua lại lẫn nhau. Ở góc độ tổng thể ta thấy logistics gần như là mối liên kết kinh
tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa.
Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 10
Hình 1.1: Mô hình và đường nối điểm nút
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả hoạt động Logistics thì sẽ góp phần quan
trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế chỉ
có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền Logistics hoạt động liên
tục, nhịp nhàng.
Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi Logistics, theo
đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị
tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của mỗi
người.
Hiệu quả hoạt động Logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập của
nền kinh tế. Việc giảm chi phí Logistics có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược
thúc đẩy xuất khẩu phát triển và tăng trưởng của mỗi quốc gia.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 11
Nghiệp vụ quản lý
trường (lợi thế
cạnh tranh)
Tiện lợi về thời
gian và địa điểm
Vận chuyển hiệu
quả đến khách
hàng
Tài sản sở hữu
Đầu ra của
Logistics
Hình 1.2: Các thành phần quản trị và hoạt động Logistics cơ bản
Nguồn: Lamber, Strategic Logistics management, page 3
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Hoạt động Logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh cho một quốc gia trên
trường quốc tế. Trình độ phát triển và chi phí Logistics của một quốc gia còn được
xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia.
Quốc gia nào có hệ thống cơ sở hạ tầng bảo đảm, hệ thống cảng biển tốt… sẽ thu hút
được đầu tư từ các công ty hay các tập đoàn lớn trên thế giới.
• Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn. Logistics giúp giải
quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi
các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu,
hàng hóa, dịch vụ, ... logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh
nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động
đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá
sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics, ví dụ: chọn sai vị trí,
chọn nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển
không hiệu quả.
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chủ động trong việc chọn
logistics
[Type a quote from the
document or the summary of
an interesting point. You can
position the text box
anywhere in the document.
Use the Text Box Tools tab to
change the formatting of the
pull quote text box.]
Sản phẩm
Vị trí/ dịch vụ khách hàng
Chi phí quản lý
kho
Chi phí sản xuất
Chi phí vận tải Chi phí dự trữ
Chiêu thịGiá cả
Chi phí giải quyết đơn hàng
và thông tin
Hình 1.3: Sơ đồ cân đối chi phí trong marketing và logistics
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
1.1.3. Các loại dịch vụ logistics
1.1.3.1. Dịch vụ vận tải
Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm hoán chuyển vị
trí của hàng hoá và bản thân con người từ nơi này đấn nơi khác bằng các phương tiện
vận tải.
Trong nền kinh tế thì vận tải là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, với các đặc
điểm sau:
- Quá trình sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không
gian lên đối tượng chuyên chở chứ không phải là quá trình tác động về mặt kinh tế
lên đối tượng lao động.
- Tàu vận chuyển hàng khối: Thiết kế đặc biệt để chở khoáng sản; Có thể dùng để
chở nhiều loại hàng hóa
• Vận tải đường bộ
Vận tải đường bộ có đặc điểm:
- Mức độ tiếp cận cao
- Thời gian trung chuyển nhanh hơn đường sắt và đường thủy
- Độ tin cậy bị ảnh hưởng lớn bởi thời tiết
- Kích cỡ của xe vận tải nhỏ phù hợp với chiến lược hàng tồn kho thấp và nhanh
chóng nạp lại hàng vào kho
- Chi phí vận tải hơi cao so với đường sắt và thủy nhưng đổi lại là nhanh hơn
• Vận tải đường sắt
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 15
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Vận tải đường sắt có đặc điểm:
- Khả năng vận chuyển nhiều loại hàng khác nhau hơn so với các loại hình khác
- Số lượng nhà cung cấp dịch vụ này là không nhiều.
Việt Nam: 1 nhà vận tải
Mỹ: một vài nhà vận tải
- Tàu hỏa là hệ thống vận tải đường dài, với khối lượng lớn (chi phí cố định cao)
- Mức độ tiếp cận không cao
- Thời gian trung chuyển không đều và thường dài
• Vận tải hàng không
Vận tải đường không có đặc điểm:
- Bất cứ hãng vận tải hàng không nào cũng có thể chở hàng hóa, mặc dù vậy có
một vài hãng không chở gì khác ngoài hàng hóa
- Cấu trúc giá với chi phí biến đổi cao so với chi phí cố định
- Thời gian trung chuyển là nhanh nhất trong các loại hình vận tải, nhưng giá cước
vận tải thì cao nhất
- Thường vận chuyển hàng có giá trị cao, khối lượng thấp
- Mức độ tiếp cận và năng lực là thấp
Logistics. Những thành tựu của công nghệ thông tin giúp cho việc trao đổi thông tin
được nhanh chóng, chính xác, hỗ trợ cho chuỗi tích hợp hoạt động Logistics trên toàn
bộ hệ thống với công cụ không thể thay thế - máy vi tính.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 17
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Máy vi tính dùng để lưu trữ các dữ liệu của đơn đặt hàng, quá trình thực hiện
đơn hàng, quản lý thành phẩm, theo dõi dự trữ, quá trình sản xuất, thanh toán và quản
lý kho bãi, vận tải… Máy vi tính giúp lưu trữ, xử lý thông tin nhanh chóng, chính xác
và khi các máy được kết nối sẽ giúp cho trao đổi thông tin diễn ra chính xác, kịp thời.
Hệ thống thông tin (máy tính và mạng) là yếu tố không thể thay thế trong việc
hoạch định và kiểm soát hệ thống Logistics, với hệ thống xử lý đơn hàng là trung
tâm. Những thành tựu của công nghệ thông tin giúp cho người ta đưa ra những quyết
định đúng đắn vào thời điểm nhạy cảm nhất.
Xử lý đơn đặt hàng của khách hàng chính là trung tâm thần kinh của toàn bộ
hệ thống Logistics. Tốc độ và chất lượng của luồng thông tin để xử lý đơn hàng tác
động trực tiếp đến chi phí và hiệu quả của toàn bộ quá trình. Nếu thông tin được trao
đổi nhanh chóng, chính xác thì hoạt động Logistics sẽ tiến hành hiệu quả, ngược lại
sẽ làm tăng chi phí lưu kho, lưu bãi, vận tải, làm ch việc giao hàng diễn ra không
đúng thời hạn và làm mất khách hàng sẽ là điều không thể tránh khỏi. Nghiêm trọng
hơn nữa thông tin không chính xác, kịp thời có thể làm cho quá trình sản xuất kém
hiệu quả do phải thường xuyên thay đổi kế hoạch, quy mô để đáp ứng yêu cầu thực
tế; nếu tình trạng đó kéo dài sẽ đẩy doanh nghiệp tới thua lỗ, thậm chí phá sản.
1.1.3.5. Dịch vụ khách hàng
Dịch vụ khách hàng là quá trình diễn ra giữa người mua – người bán và bên
thứ ba – các nhà thầu phụ; kết quả của quá trình này là tạo ra giá trị gia tăng cho sản
phẩm hay dịch vụ được trao đổi.
Dịch vụ khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu được thực hiện tốt,
chúng không chỉ giúp doanh nghiệp giữ chân được khách hàng cũ mà có thể lôi kéo,
thu hút thêm được khách hàng mới. Đây chính là điểm mấu chốt giúp các doanh
nghiệp đứng vững trên thương trường và thành công.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu
Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Vùng
cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen
kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại,
vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung
bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các
quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình,
khoảng 5 tới 10 mét.
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài
Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Sông
Sài Gòn với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông
Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng
225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông
Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của
Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng
Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong
đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài
các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng
chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông,
Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi...Hệ thống
sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh phát triển trong vận tải đường sông.
1.2.2. Cơ sở hạ tầng
Cả nước có hơn 150 cảng, trong đó có 49 cảng được phân loại là cảng biển
bao gồm 166 bến, 332 cầu tàu với tổng chiều dài hơn 40 km. Phần lớn cảng ở Việt
Nam là cảng nhỏ, chỉ có 14 cảng được xem là mức trung bình của quốc tế như Hải
Phòng, Cát Lái hay VICT… nhưng đều là “cảng biển ở trên sông. Các cảng biển
đang gánh nhiều hàng hoá nhất Việt Nam ở TPHCM là một điển hình, vì đều nằm
trên sông.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 20
trạng chồng chéo, gây ra những ách tắc không đáng có cho hoạt động của doanh
nghiệp.
1.2.4. Tình hình phát triển vận tải đa phương thức tại Tp.Hồ Chí
Minh
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu
mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Khác với Hà Nội,
vận tải thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng. Tính riêng vận tải
hàng hóa, đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng chiếm 20% tổng
khối lượng thông qua đầu mối thành phố. Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tại hàng hóa
nhưng chiếm tới 85,6% vận tải hành khách. Về giao thông đường không, Sân bay
quốc tế Tân Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt Nam về cả diện tích và công suất
nhà ga. Năm 2006, vận tải thành phố đã vận chuyển tổng cộng 73.743 tấn hàng hóa,
239 triệu lượt người và bốc xếp 44.341 tấn hàng. Toàn thành phố hiện nay có khoảng
340.000 xe hơi và 3,5 triệu xe máy, gần gấp đôi so với Hà Nội.
Giao thông đường sắt của thành phố gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận - do
Xí nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc - Nam và một vài đoạn đường
chuyên dụng. Trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần và Sài Gòn. Bên cạnh
đó còn có một số nhà ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò Vấp. Do mạng
lưới đường sắt không được nối trực tiếp với các cảng, cơ sở đã cũ kỹ nên giao thông
đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh không phát triển, chỉ chiếm khoảng 6% khối
lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách.
Giao thông đường bộ, thành phố có 6 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở
các cửa ngõ ra vào: Miền Đông, Văn Thánh, Miền Tây, Chợ Lớn, Tân Bình - Tây
Ninh, Ký Thủ Ôn. Mạng lưới khả năng tiếp nhận trên 1.200 xe/ngày, vận chuyển gần
41.000 khách/ngày đi các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng
bằng sông Cửu Long.
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 22
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến
Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất
Về hạ tầng thông tin, đây chính là điểm yếu các doanh nghiệp logisitics Việt
Nam. Mặc dù các doanh nghiệp logisitics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng
CNTT vào hoạt động kinh doanh của mình những điều này vẫn còn kém xa so với
các công ty logisitics nước ngoài. Nếu chỉ xét về khía cạnh xây dựng website thì phần
lớn website của doanh nghiệp Việt Nam chỉ đơn thuần giới thiệu về mình, về dịch vụ
của mình nhưng thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ track and
trace (theo dõi đơn hàng), lịch tàu, e-booking, theo dõi chứng từ … Chúng ta nên biết
visibility (khả năng nhìn thấy và kiểm soát đơn hàng) là một yếu tố được các chủ
hàng đánh giá rất cao khi họ lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logisitics cho mình. Ví
dụ: Bản thân các công ty như APL Logisitics, Maersk Logisitics được Nike chọn là
nhà cung cấp dịch vụ cho mình là họ có thể cung cấp cho Nike công cụ visibility –
trong bất kỳ thời điểm nào, tại bất kỳ nơi nào nhân viên của Nike cũng có thể nắm
bắt và có thể kéo ra bất kỳ các loại báo cáo liên quan đến các đơn hàng của mình đã,
đang và sẽ được thực hiện bởi các công ty trên. Điều này sẽ giúp Nike tính toán tốt
những dự báo, kiểm soát hàng tồn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng ở chi phí
tối ưu nhất.
1.2.6. Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ Logistics
Ngành dịch vụ logistics (giao nhận - kho vận) tại Việt Nam thời gian gần đây
đã phát triển khá nhanh về tốc độ và số lượng.
Theo thống kê sơ bộ, hiện nay trên địa bàn Tp.HCM có khoảng 600 - 700
doanh nghiệp hoạt động dịch vụ logistics trong tổng số khoảng 800 - 900 trên cả
nước. Theo ước tính của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM, trung bình mỗi tuần có
một công ty giao nhận, logistics được cấp phép hoạt động hoặc bổ sung chức năng
logistics.
- Nhân lực chưa đồng bộ
SVTH: PHẠM THỊ THÙY UYÊN 24
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: TS ĐỖ QUỐC DŨNG
Việc phát triển nóng của ngành logistics là điều đáng lo ngại, do các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay, xét về quy mô (con người, vốn, doanh số...) vẫn rất nhỏ
bé, ngoại trừ vài chục doanh nghiệp Nhà nước và cổ phần là tương đối lớn (từ 200-