quyền của người khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở việt nam - Pdf 30

Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 – 2015

Đề tài:

QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT TRONG
LĨNH VỰC GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

Giảng viên hƣớng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. THẠCH HUÔN

CHAU SÓC SIÊN

Bộ môn: Luật Thương Mại

MSSV: 5115927
Lớp: Luật Thương Mại 2 – K37

Cần Thơ 12/2014

GVHD: ThS. Thạch Huôn


3. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.....................................................................................6
5. Kết cấu đề tài ........................................................................................................6

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT
TẬT TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM ................................ 7
1.1. Một số khái niệm về quyền con ngƣời và quyền của ngƣời khuyết tật
trong lĩnh vực giáo dục ............................................................................................ 7
1.1.1. Khái niệm quyền con người ........................................................................7
1.1.2. Khái niệm người khuyết tật.........................................................................8
1.1.3. Khái niệm quyền của người khuyết tật .................................................... 10
1.1.4. Khái niệm giáo dục .................................................................................... 11
1.2. Lịch sử phát triển giáo dục cho ngƣời khuyết tật trên thế giới và Việt Nam
.......................................................................................................................... 12
1.2.1. Lịch sử phát triển của nên giáo dục cho người khuyết tật trên thế giới 13
1.2.2. Lịch sử phát triển Giáo dục người khuyết tật ở Việt Nam ...................... 14
1.3. Những vấn đề đặc trƣng về quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực
giáo dục.................................................................................................................... 15
1.3.1. Tính chất của quyền của người khuyết tật nói chung và quyền được giáo
dục nói riêng ........................................................................................................15
1.3.2. Các chủ thể tham gia vào vấn đề quyền của người khuyết tật trong lĩnh
vực giáo dục .........................................................................................................16
1.3.3. Các quyền của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam .................... 19
1.3.3.1. Quyền được giáo dục ........................................................................................ 19
1.3.3.2. Quyền được chăm sóc sức khỏe thường xuyên ................................................ 21

1.3.4. Tầm quan trọng của quyền được giáo dục ở Việt Nam ........................... 22

CHƢƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA
NGƢỜI KHUYẾT TẬT TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC – THỰC TIỄN

2.2.5.2. Quyết định số 23/2006/QĐ-BGD-ĐT về giáo dục hòa nhập danh cho người
tàn tật, khuyết tật ............................................................................................................ 40
2.2.5.3. Quyết định 1019/Qđ-TTg Phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai
đoạn 2012 - 2020 ............................................................................................................ 40

2.2.6. Các chính sách và chương trình tiêu biểu ...............................................41
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực
giáo dục ở Việt Nam ............................................................................................... 43
2.3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật .....................................................................43
2.3.1.1. Trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận giáo dục ........................................ 43
2.3.1.2. Trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ trong lĩnh vực giáo
dục người khuyết tật ....................................................................................................... 45
2.3.1.3. Trong việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ giáo viên ở các trường có người khuyết
tật
..................................................................................................................... 46
2.3.1.4. Trong việc tuyên truyền giáo dục đến các gia đình của người khuyết tật ở địa
phương
..................................................................................................................... 47
2.3.1.5. Phương pháp giảng dạy của cán bộ giáo viên đối với học sinh, sinh viên là
người khuyết tật .............................................................................................................. 48

2.3.2. Kiến nghị ....................................................................................................49
2.3.2.1. Trong việc hoàn thiện pháp luật ...................................................................... 50
2.3.2.2. Trong phát triển kinh tế - xã hội ...................................................................... 51

KẾT LUẬN ................................................................................................... 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: ThS. Thạch Huôn


đối với người khuyết tật ngày càng được hoàn thiện, trong đó tháng 6/2010, Quốc hội
Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật và có hiệu lực thi hành từ ngà y
1/1/2011. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá đầy đủ và toàn diện
các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về người khuyết tật
nhằm tạo môi trường pháp lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với
người khuyết tật theo hướng xây dựng các chính sách đối với người khuyết tật trên cơ
sở tiếp cận và bảo đảm quyền của người khuyết tật.
Tuy nhiên, quy định của pháp luật vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tế,
việc áp dụng còn nhiều bất cập nên đã gây ra không ít khó khăn cho người khuyết tật
khi tham gia vào lĩnh vực giáo dục. Đối với người khuyết tật, ngoài những quy định
chung về quyền, nghĩa vụ như mọi công dân khác, cần thiết phải có hành lang pháp lý
bảo vệ quyền, lợi ích và các chính sách dành riêng cho họ.
GVHD: ThS. Thạch Huôn

5

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
Do đó, người viết chọn đề tài nghiên cứu về “Quyền của người khuyết tật trong
lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của
mình nhằm đáp ứng được yêu cầu về thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật của các
vấn đề ở trên.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài, người viết muốn làm rõ các quy định của pháp luật quốc tế cũng
như quốc gia và thực tiễn áp dụng pháp luật trong vấn đề quyền của người khuyết tật
trong lĩnh vực giáo dục. Qua đó, người viết muốn rút ra những tồn tại, thiếu sót cần
được khắc phục từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường công tác
giáo dục cho người khuyết tật được giáo dục ngay càng tăng và giúp người khuyết tật

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm về quyền con ngƣời và quyền của ngƣời khuyết tật
trong lĩnh vực giáo dục
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người là nên tảng để mỗi người phát triển đầy đủ nhân cách, năng lực
của mình và cũng là nền tảng của sự phát triển và tiến bộ của một xã hội. Thế nhưng,
“Hàng triệu người sinh ra, rồi chết đi mà không hề biết rằng mình là chủ nhân của
các quyền con người…” (Wolfgang Benedek). Kiến thức về quyền con người quan
trọng như vậy cho nên mục tiêu của giáo dục con người phải nhằm thúc đẩy sự tôn
trọng các quyền cơ bản của con người.
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Quyền con người
(OHCHR) thì: “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng
bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm
tổn hại đến nhân phẩm, những sự cho phép và tự do cơ bản của con người”. Như
vậy, quyền con người đều có khi con người vừa được sinh ra, bởi họ là con người và
quyền đó được công nhận trên phạm vi toàn cầu.
Định nghĩa này có hai quan điểm nhìn nhận. Quan điểm coi quyền con người là
quyền tự nhiên, xuất hiện quyền một cách bẩm sinh bởi cá thể là con người cho nên
quyền con người không phụ thuộc bất cứ điều kiện truyền thống, văn hóa, cộng đồng,
nhà nước nào. Theo quan điểm này, rõ ràng Nhà nước hay chủ thể nào khác không
ban phát hay tước bỏ những quyền bẩm sinh đó của cá nhân. Các chính phủ chẳng
qua là một khế ước xã hội trong đó các công dân ký vào kỳ vọng và mong muốn bầu
ra chính phủ là phương tiện bảo vệ các “quyền tự nhiên” của họ chứ không phải ban
phát, quy định các quyền của họ. Quan điểm coi quyền con người là quyền pháp lý
thì cho rằng quyền con người phải do các Nhà nước xác định và cụ thể hóa bằng các
quy phạm pháp luật. Như vậy nó mang tính khác biệt tương đối về mặt văn hóa,
chính trị.
Nhân loại đến nay vẫn còn nhiều khác biệt từ hai quan điểm gốc này. Nhưng dù
sao, cộng đồng quốc tế cũng đều thống nhất bằng Tuyên ngôn quyền con người năm

Thiêng liêng ở chỗ không ai được chiếm đoạt của người khác.
Mặc dù có nhiều gốc độ và cấp độ để nhìn nhận về Quyền con người nhưng có
một điều rõ ràng là Quyền con người chính là những giá trị cao cả được tôn trọng và
bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn của lịch sử.
Quyền con người còn là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ, là kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ dụng cho con
người, cho tất cả mọi người. Nhờ vào Quyền con người, mọi người mới được bảo vệ
nhân phẩm và có điều kiện đầy đủ để phát triển bản thân với tư cách là một con
người.
1.1.2. Khái niệm người khuyết tật
Theo quan niệm của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì có ba thuật ngữ có liên quan
đến thuật ngữ tàn tật, khuyết tật đó là Khiếm khuyết, Giảm khả năng và Tàn tật.
Khiếm khuyết: Thuật ngữ này chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường
một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý.

1

Khoản 1, điều 14 Hiến pháp 2013.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

8

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc
bẩm sinh. 2
Giảm khả năng: Thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ cá nhân là tình trạng giảm

2

Trần Thị Ngọc Lan, Tổ chức Y tế thế giới xuất bản hướng dẫn về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho
người khuyết tật, website:
http://203.162.20.210/homebyt/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=222&cat=1908&ID=8691 [ngày truy cập:
12/8/2014].
3
Công ước về quyền người khuyết tật của Liên hiệp quốc năm 2006.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

9

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
quy định của Luật Người khuyết tật thì người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện
dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.4
Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bị khuyết tật
bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh... Như vậy, Luật
Người khuyết tật đã đưa ra khái niệm người khuyết tật dựa vào mô hình xã hội và phù
hợp với Công ước về quyền của người khuyết tật. Từ cách tiếp cận này, Luật Người
khuyết tật cũng phân loại dạng tật và mức độ khuyết tật.5 Đây là một điểm mới của
Luật so với Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998.
Sự phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các chính sách của
nhà nước đối với người khuyết tật. Thực tế cho thấy, người khuyết tật khó có cơ hội
tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội do những khiếm khuyết về cơ thể hay
chức năng, song khó khăn đó sẽ tăng thêm do ảnh hưởng bởi những rào cản khác

10

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
đảm và thúc đẩy sự công nhận đầy đủ tất cả các quyền con người và tự do của tất cả
người khuyết tật mà không có bất cứ hình thức phân biệt đối xử nào do bị khuyết tật”.
Hiện nay, khái niệm quyền của người khuyết tật được chia sẻ ở cấp độ toàn cầu và
nhờ đó nó dần là một phương tiện mà người khuyết tật có thể sử dụng như một công
cụ để biến đổi nhận thức xã hội. Bởi vì, cũng như quyền con người, quyền của người
khuyết tật xét ở phương diện giá trị trưu tượng lẫn ở phương diện giá trị hiện thực, ở
phương diện tự nhiên lẫn ở phương diện pháp lý là một trong những hiện tượng xã
hội gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người nói chung, của một quốc gia nói
riêng. Nói cách khác, quyền của người khuyết tật dần mang tính phổ quát có nghĩa là
chúng được thừa nhận và áp dụng ở khắp nơi.
Ở Việt Nam, tại khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định sự cam kết của nhà
nước và xã hội về những đảm bảo cho người khuyết tật. Ngoài ra, Quốc hội Việt Nam
đã thông qua luật Người khuyết tật (ngày 17 tháng 06 năm 2010 và có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 01 năm 2011) trong đó tư tưởng pháp lý chủ đạo là tiếp cận quyền của
người khuyết tật trong mối quan hệ với quyền con người theo tinh thần của Công ước
về Quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã ký kết.
Nhìn chung, người khuyết tật có quyền được tôn trọng, bất kể nguồn gốc, bản
chất, mức độ nghiêm trọng của những người khuyết tật đều phải được hưởng những
quyền cơ bản của công dân như công dân khác cùng độ tuổi mà trước hết là quyền
được hưởng một cuộc sống đầy đủ và họ cần được hưởng những chính sách hỗ trợ để
tiếp cận những quyền đó.
Tóm lại, Quyền của người khuyết tật là những gì bẩm sinh, vốn có của họ và được
áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự
phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì.

Về mặt từ nguyên, “education” trong tiếng Anh có gốc La-tinh Education (“nuôi
dưỡng, nuôi dạy”) gồm aduco (“tôi giáo dục, tôi đào tạo”), liên quan đến từ đồng âm
educo (“tôi tiến tới, tôi lấy ra, tôi đứng dậy”). Trong tiếng Việt, “giáo” có nghĩa là
dạy, “dục” có nghĩa là nuôi (không dùng một mình); “giáo dục” là “dạy dỗ gây nuôi
đủ cả trí-dục, đức-dục, thể-dục.7
Giáo dục được định nghĩa như sau: Giáo dục là hoạt động chuyên môn của xã hội
nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội
trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Giáo dục được hiểu như là quá trình tác động
tới thế hệ trẻ về mặt tư tưởng, đạo đức, hành vi,…nhằm hình thành niềm tin, lý
tưởng, động cơ, thái độ và những hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội.
Quyền giáo dục được nhiều chính phủ thừa nhận. Ở cấp độ toàn cầu, Điều 13 của
Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (1966) của Liên Hợp
Quốc công nhận quyền giáo dục của tất cả mọi người.8
Mặc dù ở hầu hết các nước giáo dục có tính chất bắt buộc cho đến một độ tuổi
nhất định, việc đến trường thường không bắt buộc; một số ít các bậc cha mẹ chọn con
cái học ở nhà, học trực tuyến, hay những hình thức tương tự.
1.2. Lịch sử phát triển giáo dục cho ngƣời khuyết tật trên thế giới và Việt
Nam
Giáo dục đóng vai trò quyết định đối với người khuyết tật. Giáo dục là con đường
giúp họ phát triển tối đa khả năng cũng như tiềm năng cá nhân, để từ đó họ được sống
với chân giá trị của mình và có ích cho xã hội. Vì vậy, lịch sử giáo dục cho NKT ở

6

Dewey, John (1916/1944). Democracy and Education. The Free Press. tr. 1–4. ISBN 0-684-83631-9.
Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt-Nam Tự-Điển, Trung-Bắc Tân-Văn, 1931.
8
Giáo dục – wikipedia tiếng việt, [truy cập
25/8/2014].
7

năm 1880 (Ý) đã quyết định lựa chọn ngôn ngữ nói đơn thuần là phương pháp dạy trẻ
điếc. 9
- Giáo dục người mù: Hệ thống giáo dục trẻ mù gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp
giáo dục của nhà giáo dục Pháp: Gaiu. Ông đã đề xướng hệ thống phương pháp dạy
học, viết và dạy nhạc cho thanh niên mù và được ghi vào lịch sử giáo dục người mù
như là sự mở đầu sự nghiệp phát triển khoa học về mô hình trường và phương pháp
giáo dục người mù.
 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến nay
Đây là thời kỳ phát triển và hưng thịnh của mô hình giáo dục chuyên biệt người
khuyết tật. Với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học, đặc biệt là y học,
sinh lý học, giáo dục học, tâm lý học…thì quan niệm của xã hội về người khuyết tật
nói chung đã có sự thay đổi. Người ta cho rằng, người khuyết tật nói chung cũng như
trẻ khuyết tật có khả năng phục hồi các chức năng bị khiếm khuyết nếu được chữa trị,
9

Xem Tr 15, Giáo dục học trẻ khuyết tật, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

13

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
họ cũng có nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại, có những khả năng nhất định để tham gia
vào đời sống xã hội.
Như vậy, giai đoạn này cùng tồn tại hai mô hình giáo dục chủ yếu người khuyết
tật là mô hình giáo dục chuyên biệt và mô hình giáo dục hòa nhập. Cùng với sự tiến
bộ của nhân loại, mô hình giáo dục hòa nhập ngày càng tỏ rõ tính ưu việt và dần thay

1980, có khoảng 30 trường, cơ sở chuyên biệt và tới năm 1990, tổng số trường (trung
GVHD: ThS. Thạch Huôn

14

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
tâm/cơ sở) chuyên biệt của cả nước khoảng trên 50, trong đó: Trường (trung tâm/cơ
sở) dạy người khiếm thính: 36, Trường (trung tâm/cơ sở) dạy trẻ chậm phát triển tinh
thần: 11, Trường (trung tâm/cơ sở) dạy trẻ Khiếm thị: 5. 10
 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Đây là giai đoạn bắt đầu triển khai mô hình giáo dục hòa nhập. Giáo dục hòa nhập
trên thế giới bắt đầu xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XX.
Hàng loạt các văn bản hướng dẫn thực hiện giáo dục hòa nhập trước khi một
chính sách quốc tế được ra đời. Một trong những văn kiện quan trọng nhẩt là Văn
kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành TW khóa IX, trong đó ghi rõ: “ Đạt tỷ lệ
50% vào năm 2006 và 70% vào năm 2010 trẻ khuyết tật được học ở một trong các
lọai hình lớp hòa nhập, bán hòa nhập hoặc chuyên biệt”.
Năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ ban hành chính thức bộ chương trình và
giáo trình đào tạo giáo viên trình độ CĐSP về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật và tiến
hành đào tạo trong tất cả các trường CĐSP trong cả nước, đáp ứng thực hiện nhu cầu
chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật.
Năm 2004, tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã triển khai thực hiện mô
hình giáo dục trẻ khuyết tật. Tổng số trẻ khuyết tật được đi học khoảng 70.000 em.
Trong đó, khoảng 7000 trẻ khuyết tật đi học tại 94 trường, cơ sở chuyên biệt ( so với
năm 1995, khoảng 3700 trẻ khuyết tật đi học tại 66 trường, cơ sở chuyên biệt).
Khoảng 63.000 trẻ khuyết tật được đi học hòa nhập tại các trường phổ thông ngay tại
nơi trẻ sinh sống. 11

người khuyết tật không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ
thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước, trừ một số trường hợp đặc biệt,
chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước quyền tự do.
- Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền của người
khuyết tật đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được
coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền của người
khuyết tật nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của họ.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): Thể hiện ở
chỗ việc bảo đảm các quyền của người khuyết tật, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong
mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc
gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến
bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến
việc bảo đảm các quyền khác.
Thực tế cho thấy, trong hầu hết các trường hợp rất khó, thậm chí là không thể thực
sự thành công trong việc bảo đảm riêng một quyền của người khuyết tật nào đó mà
bỏ qua các quyền khác. Đơn cử, để thực hiện tốt các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền
chính trị cơ bản), cần bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên
quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền có mức sống thích
đáng...vì nếu không, các quyền bầu cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói
khổ, bệnh tật hay mù chữ. Điều đó cần bảo đảm các quyền của người khuyết tật để
các quyền đó có thể giúp cho NKT được phát triển bản thân và tham gia bình đẳng
trong cuộc sống.
1.3.2. Các chủ thể tham gia vào vấn đề quyền của người khuyết tật trong
lĩnh vực giáo dục
 Chủ thể quyền
Quyền được giáo dục của người khuyết tật thì chủ thể quyền ở đây không ai khác
hơn là các cá nhân có khuyết tật. Người khuyết tật họ thuộc nhóm dễ bị tổn thương và
họ có những khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức
năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó
khăn nên việc bảo đảm quyền cơ bản là rất quan trọng trong việc vươn lên trong cuộc

với các tổ chức, cá nhân không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với người khuyết tật.
Vai trò của Nhà nước trong việc thể chế hóa các quy định về quyền lợi của người
khuyết tật, cũng như quy định trách nhiệm của các chủ thể khác trong xã hội chính là
điều kiện tiên quyết để giúp cho người khuyết tật có khả năng hòa nhập cộng đồng.
Sự hòa nhập với cộng đồng của người khuyết tật không phải là một cái gì trừu tượng,
không phải sự thể hiện nhất thời, mà là sự hòa hợp cụ thể, thể hiện trong từng chi tiết
của cuộc sống, thể hiện trong công việc, giao tiếp hàng ngày của người khuyết tật với
mọi người trong cuộc sống.
Đây là một chủ thể có vai trò quan trọng nhất trong việc đưa vấn đề quyền của
người khuyết tật vào thực tiễn thông qua các hoạt động của bộ máy Nhà nước. Bằng
việc ban hành các văn bản pháp luật hay đưa ra các quy định nhằm bảo vệ các quyền
của người khuyết tật để các chủ thể khác thừa nhận và tôn trọng các quyền của người
khuyết tật.
Song song đó, Nhà nước ban hành những chính sách, các biện pháp hỗ trợ người
khuyết tật, xây dựng những chương trình hành động để phát triển quyền người khuyết
GVHD: ThS. Thạch Huôn

17

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
tật và giúp đảm bảo các quyền của người khuyết tật được thực hiện, đặc biệt về quyền
giáo dục đối với NKT là quyền được Nhà nước chú trọng để tạo điều kiện để người
khuyết tật được tiếp cận giáo dục và hỗ trợ cho NKT được tiếp cận giáo dục bình
đẳng với mọi người không có sự phân biệt nào và giúp họ có thể tham gia vào cuộc
sống ngày một tốt hơn, để người khuyết tật có thể phát triển nhận thức và phát huy tài
năng của mình để góp phần xây dựng đất nước và thay đổi cách nhìn của mọi người
trong xã hội đối với NKT để giúp họ vượt qua mặc cảm của bản thân để tham gia vào


18

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
quyền của người khuyết tật. Các cơ quan, tổ chức, quốc gia đều thực hiện các quyền
của mình thông qua các cá nhân. Cá nhân ở đây có thể là bất kỳ ai, cũng có thể là
giữa những người khuyết tật với nhau. Cá nhân – nghĩa là tất cả mọi người đang tồn
tại, đều là những chủ thể trực tiếp thực hiện các quyền này.
1.3.3. Các quyền của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam
Trong pháp luật Việt Nam đều có qui định về quyền cơ bản của người khuyết tật
cũng giống như mọi người bình thường khác như: quyền về chính trị, dân sự, quyền
về kinh tế - xã hội và quyền tham gia vui chơi, giải trí, văn hóa, thể thao.
1.3.3.1. Quyền được giáo dục
Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo. Ngay từ
những ngày đầu chính quyền mới được thành lập, tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề ra một trong ba nhiệm vụ then chốt trong đó có “diệt giặc dốt”. Trong
tình hình hiện nay đất nước đang phát triển và từng bước trở thành một nước công
nghiệp, cho nên sự nghiệp giáo dục thường xuyên được quan tâm và phát triển.
Cho nên Nhà nước luôn quan tâm đến phát triển giáo dục và bảo đảm mọi người
tiếp cận quyền được giáo dục của mình, để mọi gười có thể được bình đẳng với nha u
và giáo dục có tầm quan trọng đối với đất nước và mọi người. Quyền được giáo dục
là quyền bình đẳng của tất cả mọi người cho nền ai cũng có thể được tiếp cận giáo
dục và giáo dục phù hợp với khả năng của mình. Vì vậy, người khuyết tật cũng có
quyền được giáo dục những do có khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phần cơ thể hoặc
bị suy giảm chức năng nên việc học tập gặp nhiều khó khăn, do đó cơ hội học tập đối
với người khuyết tật thường ít hơn so với những người bình thường khác, nên việc
giúp NKT bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục là rất quan trọng.

với người khuyết tật cơ hội học tập của họ hạn chế hơn so với người bình thường
khác, vì vậy cần có sự hỗ trợ, tạo điều kiện để NKT có thể tham gia học tập và thực
hiện quyền học tập của mình.
Do đó người khuyết tật cũng được quyền tiếp cận với cơ hội học tập nhưng vì
người khuyết tật là những người khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phần cơ thể hoặc bị
suy giảm chức năng nên việc học tập gặp nhiều khó khăn, do đó cơ hội học tập đối
với người khuyết tật thường ít hơn so với những người bình thường khác, nên việc
bảo đảm cho NKT được tiếp cận giáo dục là rất quan trọng và cần có nhiều chính
sách hỗ trợ để họ được giáo dục giống mọi người bình thường khác.
Điều 10 Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Mọi công dân không phân biệt dân
tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh
tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Nhà nước luôn tạo điều kiện để ai cũng được học
hành, Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để
những người có năng khiếu phát triển tài năng và tạo điều kiện cho con em dân tộc
thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối
tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được
hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.
Ngoài ra, quyền được giáo dục còn được qui định trong Luật người khuyết tật đó
là văn bản qui định rõ về quyền và nghĩa vụ người khuyết tật, trách nhiệm của cơ
quan tổ chức trong lĩnh vực giáo dục và đây là cơ sở pháp lí toàn diện để thực hiện
quyền được giáo dục đối với người khuyết tật.
Người khuyết tật được nhà nước chú trọng đến công tác giáo dục và có nhiều
chính sách giúp người khuyết tật tiếp cận giáo dục được thể hiện thông qua Luật
người khuyết tật đã qui định về vấn đề giáo dục ở chương IV 14: qui định : “Nhà nước
tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng của
người khuyết tật. Người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi
quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm
một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân
không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp
13

tật vì có thể giúp họ phát triển tối đa khả năng của bản thân và nâng cao hiếu biết về
thế giới xung quanh để từ đó họ được sống với chân giá trị của mình và có ích cho xã
hội, giúp người khuyết tật nhanh chống hòa nhập vào cuộc sống và giáo dục giúp
người khuyết tật được vui chơi, giải trí với bạn bè điều đó tạo cho người khuyết tật
cảm thấy cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc hơn và ngày càng gần gủi với mọi người trong
cuộc sống.
Vì vậy, việc bảo đảm cho NKT tiếp cận giáo dục là rất quan trọng để họ có thể
được học tập, vui chơi, nâng cao nhận thức của mình và thông qua giáo dục giúp
người khuyết tật sau này có thể học các nghề phù hợp với năng lực của mình để sau
này có thể làm việc để có thu nhập nuôi bản thân, gia đình và họ có thể đóng góp một
phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh.
1.3.3.2. Quyền được chăm sóc sức khỏe thường xuyên
Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con
người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy việc chăm sóc sức khỏe là rất quan
trọng đối với mọi người. Người khuyết tật có quyền hưởng các dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ đạt tiêu chuẩn cao nhất mà không bị phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật. Việc
hưởng các dịch vụ y tế đối với người khuyết tật là thiết yếu nhằm phục hồi chức
năng, sức khoẻ và khả năng lao động.
GVHD: ThS. Thạch Huôn

21

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
Khoản 1,Điều 38 Hiến pháp 2013 Quy định: “Mọi người có quyền được bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực
hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”. Nhà nước hàng năm luôn

là ở vùng nông thôn, vùng miền núi và các vùng kinh tế khó khăn do thiếu giáo viên
dạy và thiếu các thiết bị, đồ dùng dạy học, tài liệu về ngôn ngữ ký hiệu cho người
khiếm thính đã làm cho một phần người khuyết tật găp khó khăn khi đến trường.
GVHD: ThS. Thạch Huôn

22

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước không ngừng đưa ra những chính sách,
chương trình và các biện pháp nhằm đảm bảo một nền giáo dục hòa nhập có chất
lượng, hỗ trợ người khuyết tật vượt qua những rào cản mà họ đang phải đối mặt trong
việc tiếp cận giáo dục và quyền được giáo dục, từ đó giúp người khuyết tật có thể
được đến trường học tập như:
- Người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối
với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn
học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp
ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét
cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập.
- Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng
trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký
hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia.
Quyền được giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi người nói chung và
đối với người khuyết tật nói riêng là giáo dục giúp cho người khuyết tật phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển
năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người có ích
co xã hội, giáo dục tạo điều kiện để những người khuyết tật có năng khiếu phát triển
tài năng của mình để họ có thể góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển,

GVHD: ThS. Thạch Huôn

24

SVTH: Chau Sóc Siên


Quyền của ngƣời khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam
CHƢƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT
TẬT TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC – THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ
2.1. Quyền của ngƣời khuyết tật trong hệ thống pháp luật quốc tế
2.1.1. Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948 (UDHR)
Là một bản tuyên ngôn được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10
tháng 12 năm 1948, tuyên ngôn đã qui định những quyền cơ bản vốn có của mọi
người và mọi người được hưởng tất cả các quyền tự do mà không có bất kỳ sự phân
biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân
tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác.
Ngoài ra, Bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người này là thước đo
chung cho tất cả các quốc gia và các dân tộc, cho cả mọi cá nhân và tổ chức xã hội,
đánh giá việc thực hiện các mục tiêu của mình mà, trên cơ sở luôn ghi nhớ bản Tuyên
ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người
thông qua truyền bá và giáo dục; cũng như thúc đẩy sự thừa nhận và tuân thủ chung
và hữu hiệu các quyền đó không chỉ với người dân nước mình mà với cả các dân tộc
ở các lãnh thổ thuộc quyền quản thác của nước mình, thông qua các biện pháp tích
cực, kể cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Liên quan đến quyền được giáo dục của người khuyết tật, UDRH đã có nội dung:
“Mọi người đều có quyền được học tập. Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở các bậc
tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học phải là b t buộc. Giáo dục kỹ thuật và
dạy nghề phải mang tính phổ thông và giáo dục đại học hay cao hơn phải theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status