Đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang thị trường EU - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM...5
1.1. Sự phát triển và vai trò của ngành thuỷ sản trong nền kinh tế Việt
Nam...............................................................................................................5
1.1.1. Lợi thế của ngành thuỷ sản nước ta:...........................................5
1.1.2. Vai trò của ngành thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân:..........6
1.1.2.1. Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người
dân Việt Nam:......................................................................................7
1.1.2.2. Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm................................7
1.1.2.3. Xoá đói giảm nghèo................................................................8
1.1.2.4. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn............................8
1.1.2.5. Tạo nghề nghiệp mới, tăng hiệu quả sử dụng đất đai.............9
1.1.2.6. Nguồn xuất khẩu quan trọng...................................................9
1.1.2.7. Đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng ở
vùng sâu, vùng xa, nhất là ở vùng biển và hải đảo..............................9
1.2. Khái quát về hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong
thời gian qua..............................................................................................10
1.2.1. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong hai năm trở
lại đây:....................................................................................................10
1.2.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản năm 2010-Khó khăn và thuận
lợi............................................................................................................13
1.2.2.1. Thuận lợi...............................................................................14
1.2.2.2. Khó khăn...............................................................................15
1.3. Vị trí của thị trường EU đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam – Những yếu tố tác động chủ yếu............................................16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3.1. Vị trí của thị trường EU đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam:........................................................................................16

3.2. Giải pháp nhắm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị
trường EU..................................................................................................34
3.2.1. Giải pháp từ phía nhà nước:......................................................34
3.2.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp:...............................................36
KẾT LUẬN...........................................................................................38
Tài liệu tham khảo................................................................................39
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường, có thể nói cục diện nền kinh tế Việt Nam đã có những
bước tiến vượt bậc. Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá và khu vực hoá như hiện
nay, việc đẩy mạnh thương mại quốc tế trở thành một trong những nhiệm vụ quan
trọng góp phần đến sự thịnh vượng của một quốc gia. Điều này cũng không ngoại trừ
đối với Việt Nam. Do đó, việc đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế nói chung và
xuất khẩu hàng hoá dịch vụ nói riêng là một trong những mục tiêu hàng đầu của nước
ta trong những năm gần đây.
Đối với một nước đang phát triển, có sự khan hiếm về vốn cũng như kĩ thuật
như Việt Nam, thì việc tận dụng những lợi thế vốn có là một điều vô cùng quan
trọng. Một trong những mặt hàng xuất khẩu truyền thống của nước ta là mặt hàng
thuỷ sản, trong những năm trở lại đây đã gặt hái được nhiều thành công, đồng thời
khẳng định được lợi thế và vị trí của mình đối với nền kinh tế trong nước cũng như
trên trường quốc tế.
Với việc đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, lại tận dụng được điều kiện tự nhiên của
đất nước,ngành xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã thúc đẩy sự phát triển của lĩnh
vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ hậu cần khác.
Một trong những khách hàng tiềm năng của thị trường xuất khẩu thuỷ sản ở
Việt Nam đó là thị trường Liên Minh Châu Âu (EU) đã có những tác động không nhỏ
trong việc nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam, đem đến
nhiều kết quả khả quan. Bên cạnh đó cũng tốn tại không ít những khó khăn và hạn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chế đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong thời gian tới để nâng cao kim

hơn 1 triệu km
2
(gấp 3 lần diện tích đất liền), diện tích mặt nước 1triệu km
2
, trong đó
diện tích khai thác đạt 553.000 km, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác được khoảng
65% nguồn lực hải sản cho phép.
Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặt
nước nội địa, 300.000 ha bãi triều, 400.000 ha hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồ
nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi trồng thủy sản. Năng suất nuôi trồng
thủy sản mới chỉ bằng 10%- 25% năng suất của các nước trong khu vực.
Theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài
có giá trị kinh tế cao. Bước đầu đánh giá trữ lượng cá biển trong vùng thềm lục địa
khoảng trên 4 triệu tấn. Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1,67 triệu/năm. Tình
hình cụ thể của các loài cá:
-Cá tầng đáy: 856.000 tấn, chiếm 51,3%.
-Cá nổi nhỏ: 694.000 tấn, chiếm 41,5%.
-Cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ): 120.000 tấn, chiếm 7,2%.
Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác giữa các vùng như sau:
-Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng: 681.166 tấn, khả năng khai thác: 271.467 tấn (chiếm
16,3%).
-Biển Trung Bộ: trữ lượng: 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560 tấn(chiếm
14,3%).
-Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng: 2.075.889 tấn, khả năng khai thác: 830.456 tấn
(chiếm 49,3%).
-Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác: 202.272 tấn
(chiếm 12,1%).
Việt Nam tuy có vùng biển trải dài khắp cả nước nhưng sản lượng khai thác
không đồng đều ở các vùng. Theo ước tính, vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt
Nam có tổng trữ lượng trên 3 triệu tấn cá, 50.000- 60.000 tấn tôm, 30.000- 40.000 tấn

của thập kỉ 90, Chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch hệ thống thuỷ lợi để
không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long.
Kể từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi
quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Nhiều mô hình
nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp đã được áp dụng, các vùng nuôi
tôm lớn mang tính chất sản xuất hàng hoá lớn được hình thành, sản phẩm nuôi mặn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lợ đã mang lại giá trị xuất khẩu rất cao cho nền kinh tế quốc dân và thu nhập đáng kể
cho người lao động. Một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng,
rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ hải sản.
Trên thế giới, ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay
một phần vào Ngành Thuỷ sản. Ngành Thuỷ sản được coi là ngành có thể tạo ra
nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng hàng nhất nhì trong nền kinh tế
ngoại thương Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu vẫn gia tăng hàng năm và năm 2004
đạt gần 2,4 tỷ USD, vượt 20% so với kế hoạch, đưa chế biến thuỷ sản trở thành một
ngành công nghiệp hiện đại, đủ năng lực hội nhập, cạnh tranh quốc tế và dành vị trí
thứ 10 trong số nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu trên thế giới.
Ngành thuỷ sản có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc
biệt là ở trong những lĩnh vực sau:
1.1.2.1. Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt
Nam:
50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản
lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm
cho nhu cầu của người dân Việt Nam. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới
tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của
người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. Từ các vùng đồng bằng
đến trung du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt

phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung du
miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa.
1.1.2.4. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển một cách toàn diện một nền kinh tế
biển. Nếu như trước đây việc lấn ra biển, ngăn chặn những ảnh hưởng của biển để
mở rộng đất đai canh tác là định hướng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thì
hiện nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nền
kinh tế công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Trong những thập kỉ qua, nhiều công trình hồ thuỷ điện đã được xây dựng,
khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven biển. Đối với nền
canh tác nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm hoạ, nhưng với nuôi trồng
thuỷ sản nước mặn, nước lợ thì nước mặn được nhận thức là một tiềm năng mới, vì
hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt
động canh tác lúa nước.
Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển
sang nuôi trồng thuỷ sản. Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị
trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản
xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện
tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách. Chính phủ đã
đưa ra nghị quyết 09 NQ/CP ngày 15/6/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và đó cũng là yếu tố giúp cho quá trình
chuyển đổi diện tích nuôi trồng thuỷ sản càng diễn ra nhanh, mạnh và rộng khắp hơn.
Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷ sản
diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tích được chuyển
đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên từ 2003 đến
nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh, năm 2003 đạt 49.000 ha và năm
2004 đạt 65.400 ha. Có thể nói nuôi trồng thủy sản đã phát triển với tốc độ nhanh, thu
được hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở
các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông

cho vay 867.871 triệu đồng, tương đương với 802 con tàu. Năm 2000, Thủ tướng
Chính phủ ký Quyết định số 64/2000/QĐ-TTg về việc sửa đổi quy chế quản lý và sử
dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán
tàu đánh bắt tàu dịch vụ và đánh bắt hải sản xa bờ, tổng số vốn đã duyệt cho vay từ
năm 2000 đến năm 2005 là 182.372 triệu đồng để đóng mới 166 con tàu. Việc gia
tăng số lượng tàu lớn đánh bắt xa bờ không chỉ nhằm khai thác các tiềm năng mới,
cung cấp nguyên liệu cho chế biến mà còn góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng trên
các vùng biển của nước ta.
Tính đến nay, rất nhiều cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình
Biển đông hải đảo, cụ thể là: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải
Phòng), Hòn Mê (Thanh Hoá), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lí Sơn (Quảng Nam), Phú Quí
(Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Nam Du, Thổ
Chu và Phú Quốc (Kiên Giang). Hệ thống cảng cá tuyến đảo này sẽ được hoàn thiện
đồng bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh vùng
biển của Tổ Quốc.
1.2. Khái quát về hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian
qua
1.2.1. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong hai năm trở lại đây:
Trong các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới, Việt Nam được coi là một
trong những nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng
trung bình trong giai đoạn 1998-2008 đạt 18%/năm.
Hiện nay, hàng thủy sản Việt Nam ngày càng chiếm vị trí cao trên thị trường
quốc tế. Cả nước có khoảng 700 nhà máy chế biến thủy sản quy mô công nghiệp. Mặt
hàng thủy sản của Việt Nam cũng đã và đang có mặt ở nhiều quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, song
nhiều mặt hàng thủy sản vẫn tìm được chỗ đứng riêng cho mình và duy trì tốc độ
tăng trưởng. Điển hình là mặt hàng tôm, so với 10 tháng đầu năm 2008, lượng xuất
khẩu tôm đông lạnh và hàng khô tăng mạnh, đạt 6,4% và 15,4%. Trong khi, cá tra,
basa, mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong nhóm sản phẩm xuất khẩu chính của Việt
Nam lại giảm 8,6%.

Nam và sự cạnh tranh không lành mạnh về giá xuất khẩu trong thời gian qua. Giá
trung bình xuất khẩu cá tra giảm từ 2,27 USD/kg năm 2008 xuống còn 2,21 USD/kg
năm 2009. Giá trung bình xuất khẩu cá tra liên tục sụt giảm từ mức 4,09 USD/kg năm
1998 cho đến nay.
Sự vắng mặt của thị trường Nga 4 tháng đầu năm do lệnh cấm thủy sản Việt
Nam từ cuối năm 2008 cũng là một yếu tố khiến xuất khẩu thủy sản giảm, vì Nga vốn
là thị trường đơn lẻ tiêu thụ nhiều nhất cá tra của Việt Nam trong năm 2008. Từ
tháng 5 đến hết tháng 12/2009, Nga nhập khẩu 47,5 nghìn tấn thủy sản Việt Nam, trị
giá 84,6 triệu USD, giảm lần lượt 62,1% và 61,2% so với cùng kỳ.
Thị trường Nhật Bản vẫn đứng vị trí thứ 2 trong tốp các thị trường nhập khẩu
thủy sản Việt Nam với 758 triệu USD, giảm 8,5% so với năm 2009, tiếp đến là Mỹ
với 713,3 triệu USD, giảm 4,2%.
XK mực, bạch tuộc và cá ngừ, cá biển và các loại hải sản khác giảm đáng kể do
sản lượng đánh bắt giảm do ảnh hưởng của các cơn bão lớn, Trung Quốc cấm biển và
sự cạnh tranh giá thu mua nguyên liệu của giới thương gia Trung Quốc, dẫn đến tình
trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng trong các DN chế biến. Xuất khẩu cá ngừ giảm
4,1%, trong khi XK mực, bạch tuộc giảm 13,8%. XK các sản phẩm cá khác giảm
16%.
Về thị trường, đứng vị trí thứ 4, thứ 5 và thứ 6 trong tốp các thị trường chính
của thủy sản Việt Nam nhưng Hàn Quốc, ASEAN và Trung Quốc là những thị
trường ổn định nhất đối với XK thủy sản của Việt Nam trong năm qua với mức tăng
trưởng lần lượt là 2,3% và 6,9% và 38,4%. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đây
là những thị trường thuận lợi về vị trí địa lý, yêu cầu kỹ thuật không khắt khe như
những thị trường lớn khác.
Về mặt hàng, mặc dù rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu chế biến trầm trọng,
trong khi sức tiêu thụ của các thị trường chính giảm, nhưng XK tôm năm qua vẫn đạt
kết quả khích lệ với 1,675 tỷ USD, tăng 3% so với 1,625 tỷ USD năm 2008. XK tôm
sang EU, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan đều tăng trưởng 2 con số.
Năm 2009 xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam bị mất 18 thị trường so với năm
2008; trong đó 1 số thị trường có kim ngạch lớn như: xuất khẩu sang Newzealand

Bồ Đào Nha 2.903.204 48.176.272 -39,42
Thuỵ Sĩ 2.993.020 38.763.442 -1,82
Malaysia 2.643.932 31.683.343 +31,87
Ả Rập Xê út 3.823.367 29.688.750 +41,98
Tiểu vương quốc Ả Rập
thống nhất
1.969.434 27.119.358 -14,54
Đan Mạch 2.807.518 24.594.325 +2,05
Campuchia 1.484.511 17.244.635 -5,99
Thuỵ Điển 1.542.974 16.641.005 +19,78
Philippines 1.804.413 16.429.730 +2,61
Hy Lạp 2.361.792 16.034.493 +26,25
CHSéc 1.077.698 13.379.585 -39,32
Indonesia 1.242.440 11.993.135 -32,37
I rắc 767.856 3.939.602 +45,43
(Thị trường xuất khẩu thuỷ sản năm 2009-DVT:USD)
1.2.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản năm 2010-Khó khăn và thuận lợi.
Năm 2010, ngành xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã đạt được những con số khả
quan hơn rất nhiều. Riêng trong 11 tháng qua, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cũng
đạt được con số ấn tượng đạt 3,94 tỷ USD, dù giảm hơn so với cùng kỳ năm 2008,
song đây là sự nỗ lực không ngừng của ngành thủy sản trong bối cảnh kinh tế toàn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cầu đang gặp khó khăn. Hiện ngành thủy sản đang kỳ vọng lớn vào bước đột phá của
khoảng thời gian cuối năm để tăng tốc cho xuất khẩu lĩnh vực này.
1.2.2.1. Thuận lợi
Bước sang năm 2010, đã có nhiều tín hiệu mới cho thấy, xuất khẩu thuỷ sản sẽ
có kết quả khả quan hơn nhiều so với năm 2009. Bộ Công thương dự kiến, kim ngạch
xuất khẩu thuỷ sản năm 2010 sẽ đạt 4,7 tỉ USD, tăng 6,8% so với năm 2009.
Nhìn chung, xuất khẩu thuỷ sản cũng sẽ thuận lợi như nhiều ngành hàng xuất
khẩu khác xét trong bối cảnh chung: kinh tế thế giới, nhất là các nước: Mỹ, EU, Nhật

định về an toàn thực phẩm của Liên minh châu Âu. Tây Ban Nha hiện là một trong
những nước tiêu thụ cá tra và cá basa của Việt Nam nhiều nhất trong số các nước EU
với lượng nhập khẩu mỗi năm theo ước tính khoảng 40.000 tấn.
1.2.2.2. Khó khăn
Đứng trước những cơ hội như trên thì ngành thuỷ sản Việt Nam cũng phải đối
mặt với những khó khăn rất lớn. Theo một chuyên gia bộ Công thương, khó khăn cho
xuất khẩu thuỷ sản năm 2010, chủ yếu vẫn là xu hướng bảo hộ thương mại, các hàng
rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới khắt
khe hơn về dư lượng kháng sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm. Bộ Nông nghiệp Mỹ
(USDA) đang trong quá trình triển khai dự luật nông nghiệp 2008 (Farmbill), trong
đó có điều khoản nhằm hạn chế việc nhập khẩu cá tra của Việt Nam, dựa trên việc
mở rộng định nghĩa catfish và đưa cá tra của Việt Nam vào danh sách này để chuyển
đối tượng này từ USFDA sang USDA quản lý.
Một thực tế nữa là năm 2010, các doanh nghiệp phải đứng trước khó khăn về
thiếu nguyên liệu trong nước để sản xuất xuất khẩu trong khi thuế nhập khẩu nguyên
liệu một số mặt hàng vẫn chưa đưa về mức 0%. Hiện nay, hầu hết các nhà máy chế
biến thuỷ sản chỉ hoạt động được khoảng 70% công suất do thiếu nguyên liệu chế
biến. Số nhà máy chế biến hải sản không ngừng tăng lên trong khi năng lực nuôi
trồng, khai thác trong nước có hạn, cạnh tranh trở nên gay gắt. Nhiều doanh nghiệp
đã tăng cường nhập khẩu nguyên liệu. Theo dự báo của bộ Nông nghiệp và phát triển

Trích đoạn Mục tiêu cho ngành xuất khẩu thuỷ hải sản của Việt Nam đố Giải pháp từ phía nhà nước: Giải pháp từ phía doanh nghiệp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status