Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề tài : Lập kế hoạch marketing cho Quảng Ninh trong việc thu hút đầu tư du lịch.
Bài tổng hợp
Gồm 5 phần :
1. Giới thiệu về Quảng Ninh.
2. Phân tích môi trường vĩ mô.
3. Khách hàng mục tiêu.
4. Năng lực cạnh tranh của địa phương.
5. Chiến lược Marketing.
I. Giới thiệu về Quảng Ninh.
● Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc VN, có dáng một hình chữ
nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc- tây nam, phía tây tựa vào núi rừng
trùng điệp, phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc Bộ với bờ biển khúc
khuỷu nhiều cửa sông và bãi triều. bên ngoài là hơn 2 nghìn hòn đảo lớn nhỏ.
● 80% diện tích QN là địa hình đồi núi, tập trung ở phía Bắc, một phần năm
diện tích ở phía đông nam thuộc đồng bằng Sông Hồng. Địa hình đáy biển QN
không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20m, có nhiều lạch sâu làm nơi cư trú của
các rạn san hô.
Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của
vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du
lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần
được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh
có 3 Khu kinh tế Vân Đồn, hai Trung tâm thương mại Hạ Long, Móng Cái là
đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước
trong khu vực.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển
kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
-Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản,(Về trữ lượng than trên toàn Việt
Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.) nguyên liệu sản xuất vật liệu xây
triệu lao động; lao động nữ chiếm 46,6.
- Thị trường dân tộc: Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có
53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả
nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%,
Những dân tộc thiểu số phần lớn đều tập trung ở các vùng cao
nguyên.
- Các nhóm trình độ học vấn: Số tỉnh đạt chuẩn phổ cập
trung học cơ sở là 63 tỉnh; Tuyển mới đại học, cao đẳng tăng
12%, trung cấp chuyên nghiệp tăng 15%; cao đẳng nghề và
trung cấp nghề tăng 17%
- Các kiểu hộ gia đình: chủ yếu là gia đình hai thế hệ bao
gồm cha mẹ và con.
và gia đình ba thế hệ bao gồm ông bà, cha mẹ và con
2) Môi trường kinh tế
- Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng
khoảng 6,5% so với năm 2009; GDP theo giá thực tế
khoảng 1.931 nghìn tỷ đồng, tương đương 106 tỷ USD,
bình quân đầu người khoảng 1.200 US. Thu nhập bình
quân đầu người khoảng 1.050-1.100 USD.
3) Môi trường tự nhiên:
Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú bao gồm:
tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài
nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản
và tài nguyên du lịch.
- Tài nguyên đất: Việt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên,
diện tích đất đã sử dụng vào các mục đích kinh tế - xã hội là
18,881 triệu ha, chiếm 57,04% quỹ đất tự nhiên, trong đó đất
nông nghiệp chiếm 22,20% diện tích đất tự nhiên và 38,92%
diện tích đất đang sử dụng. Hiện còn 14,217 triệu ha đất chưa
sử dụng, chiếm 43,96% quỹ đất tự nhiên
vịnh Hạ Long (Quảng Ninh, đã hai lần được UNESCO công
nhận là di sản của thế giới), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu),
đảo Phú Quốc (Kiên Giang)... Với 3.260 km bờ biển có 125
bãi biển, trong đó có 16 bãi tắm đẹp nổi tiếng như: Trà Cổ, Bãi
Cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh
Hoá), Cửa Lò (Nghệ An), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Non
Nước (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa
- Vũng Tàu)...
4) Môi trường công nghệ
- KH-CN Việt Nam đã có những tiến bộ, gặt hái được
nhiều thành công; mức độ đầu tư cho KH-CN cũng đã tăng
dần hằng năm. Hàng trăm tiến bộ KH-CN được chuyển giao
và ứng dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội lớn;
nhiều công trình KH-CN trong nước đã tiết kiệm cho quốc gia
hàng trăm triệu USD so với công nghệ nhập ngoại...
- Quản lý hoạt động KH-CN hiện vẫn còn mang nặng tính
hành chính, bao cấp và cơ chế xin - cho, chưa đổi mới kịp với
nhu cầu xã hội và nền kinh tế. Chính vì vậy, rất nhiều chương
trình nghiên cứu KH-CN không đi vào thực tế, gây lãng phí.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ đối với
những người làm công tác nghiên cứu KH-CN còn nhiều bất
cập
5) Môi trường chính trị, luật pháp
- Việt Nam đã có tiến bộ đáng kể để biến chính trị trở nên
bao hàm toàn diện hơn và không gian công sinh động hơn.
Chính phủ nhạy bén và minh bạch, tỷ lệ tham nhũng giảm,
ít xảy ra bất ổn xã hội.
- Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng
- Xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
- Các chính sách cải cách thủ tục hành chính:
• Thực hiện chế độ “ một cửa liên thông”: việc cấp
chứng nhận đăng kí kinh doanh, mã số thuế, khác dấu, đăng kí
mẫu dấu đều được làm tại tổ công tác liên thông đặt tại sở kế
hoạch đầu tư tỉnh.
• “Đăng kí kinh doanh qua mạng”.Hệ thống này sẽ hỗ
trợ soạn thảo toàn bộ hồ sơ đăng kí kinh doanh theo quy định
của Luật doanh nghiệp. Sau khi đã hoàn tất soạn thảo, hồ sơ sẽ
được gửi đến sở kế hoạch đầu tư thông qua mạng.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan hành chính nhà nước, khai thác hiệu quả hệ thống thông
tin trực tuyến và cổng thông tin điện tử của tỉnh, tạo điều kiện
thuận lợi cho các nhà đầu tư khi tiếp cận thông tin .
- Công tác giải phóng mặt bằng được tập trung chỉ đạo
quyết liệt. Tỉnh đã thành lập ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuống đến cấp cơ sở để thực hiện. Chuẩn bị tốt cơ sở hạ tầng,
tạo quỹ đất sạch. Chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt công
tác đền bù, sớm bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư.
- Tăng cường đào tạo thu hút nguồn nhân lực có hàm
lượng chất xám cao
- Có một số các chính sách ưu đãi đầu tư cho du lịch:
• Nhà đầu tư sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế xuất
nhập khẩu, thuế TNDN, được ưu đãi về đất ( miễn, giảm tiền
thuê đất…) theo tính chất và quy mô dự án. Hỗ trợ chi phí đền
bù giải phóng mặt bằng, rà phá vật liệu nổ.
• Cung cấp miễn phí bản đồ quy hoạch chi tiết và
bản đồ địa chính khu đất thuê
- Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch phù hợp với đặc điểm
phát triển kinh tế chung của tỉnh: Tỷ lệ lao động nông, lâm,
ngư nghiệp và thuỷ sản giảm từ 49,8% năm 2005 xuống còn
35% năm 2010; lao động công nghiệp và xây dựng tăng từ
23,3% lên 30%; lao động khu vực dịch vụ tăng từ 27,2% lên
35% trong tổng số lao động toàn tỉnh.
-Phát huy những kết quả đạt được, tỉnh, ngành LĐ-TB&XH
đưa ra một số các chỉ tiêu phấn đấu trong giai đoạn tới: Bình
quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 2,6 vạn lao động; đến
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%; tỷ lệ lao động
qua đào tạo nghề đạt 45-47%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành
thị giảm xuống dưới 4,3%; chuyển dịch cơ cấu lao động đến
năm 2015, lao động khu vực công nghiệp chiếm 30-32%; công
nghiệp, xây dựng chiếm 3-34%; dịch vụ 35-36%
2.3 Khả năng hợp tác của các doanh nghiệp tại Quảng Ninh.
Theo thống kê của sở kế hoạch và đầu tư, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 6412 doanh
nghiệp, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động trong nhiều ngành nghề,
lĩnh vực.
- Để hợp tác cùng phát triển, đã có nhiều sân chơi dành riêng
cho đối tượng doanh nghiệp, doanh nhân được thành lập.
Trong đó, một số hiệp hội đang hoạt động hiệu quả như : Hiệp hội
gốm sứ Đông triều, hội doanh nghiệp trẻ, hiệp hội doanh nghiệp
cẩm phả…Thông qua các hiệp hội, các câu lạc bộ doanh nhân,
doanh nghiệp có thể tìm môi trường đầu tư, liên kết các đối tác
cũng như trợ giúp những thông tin cần thiết cho nhau. Đặc biệt,
trong bối cảnh cạnh tranh thị trường trong và ngoài nước gay gắt
thì cùng với những chính sách của Chính Phủ, sự đoàn kết tại của
nghỉ, nơi cư trú dành cho khách du lịch là khá tốt, số lượng lớn, có
nhiều mức độ khác nhau để phục vụ cho những nhu cầu khách hàng, cũng
có nhà bình dân cho khách hàng ít tiền, cũng có những khách sạn được gắn
sao chủ yếu phục vụ cho các khách hàng cao cấp… tuy nhiên sự hợp tác
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giữa các doanh nghiệp này là không cao, chưa kết hợp để giải quyết
tình trạng nhà ở một các hợp lý cho khách trong các dịp lễ, tết, mùa du
lịch…hay là những sự hợp tác để đưa ra những giải pháp kích cầu trong
những tháng ko phải là mùa du lịch.
Còn về các phía các nhà cung ứng dịch vụ như mua sắm, vui chơi ở
quảng ninh còn ít : chỉ bao gồm các chợ đêm, chợ phiên được sự tổ chức
của chính quyền, do các hộ gia đình tự kinh doanh, manh mún và thiếu tập
trung, mạnh ai người nấy làm. Bên cạnh đó cũng có số ít các trung tâm
thương mại trung bình và nhỏ như siêu thị hạ long, trung tâm thương mại
hạ long, trung tâm thương mại vườn đào…các trung tâm này cũng có sự
hợp tác lỏng lẻo..
2.4 Các ngành công nghiệp bổ trợ.
1) Hệ thống giao thông
-Đường bộ:
+Quốc lộ 18, quốc lộ 10 nối Quảng Ninh với Hà
Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc vừa được nâng cấp,
mở rộng theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng.
+Quốc lộ 4B nối với Lạng Sơn, Cao Bằng được
đầu tư, nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp I giao với
QL18.
+Đang triển khai dự án đường cao tốc nối từ Sân
bay quốc tế Nội Bài đến cửa khẩu quốc tế Móng Cái
+ Dự án cầu Bãi Cháy- cầu dây văng một mặt
phẳng có khẩu độ lớn nhất thế giới- đưa vào sử dụng từ tháng
+Có cảng Cái Lân là cảng nước sâu lớn nhất ở
miền Bắc Việt Nam
+Cảng Cửa Ông là cảng chuyên dùng, đón tàu
65.000 - 70.000 tấn, có thể rót 40.000 tấn trong cảng.
+Ngoài ra, có hệ thống các cảng như: Hoành Bồ,
Cầu Trắng, Dầu B12, Mũi Chùa, Ðiền Công, Bạch Thái
Bưởi, Tiên Yên, Dân Tiến .... tạo điều kiện giao thông
thuỷ thuận lợi giữa Quảng Ninh và các tỉnh lân cận.
→ *Hầu hết các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ hiện nay đã
được nâng cấp, mở rộng
*Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đồng
bộ, liên hoàn và tương đối hoàn chỉnh
*Đảm bảo lưu thông thông suốt từ Quảng Ninh tới các
tỉnh trong vùng, mở ra triển vọng cho việc giao lưu hàng
hóa
2) Hệ thống cung cấp điện, nước
-Lưới điện quốc gia đã đến tất cả các huyện, thị xã, thành
phố trong tỉnh.
-Theo quy hoạch, tại Uông Bí, Hạ Long và Cẩm Phả sẽ
hình thành một trung tâm nhiệt điện lớn nhất của Việt Nam
với tổng công suất thiết kế khoảng hơn 5.000 MW. Dự tính
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đến năm 2010 có thể hoàn thành đưa vào vận hành với tổng
công suất 3.500 MW.
-Hiện tại, Quảng Ninh có 6 nhà máy nước lớn. Tổng cấp
nước các khu đô thị của tỉnh đến năm 2010 đạt khoảng
277.900 m3/ngày đêm và định hướng đến năm 2020 là
trên 489.500 m3/ngày đêm.
→ * Hạn chế đến mức tối đa việc tiết giảm điện, do đó