một số cảm thức thẩm mỹ trong thơ haiku của matsuo basho - Pdf 30

ƯỜ
NG ĐẠ
Ơ
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC CẦN TH
THƠ
ÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH
NHÂ

Ữ VĂN
BỘ MÔN NG
NGỮ
***

PH
ẠM TH
Ư
PHẠ
THỊỊ NH
NHƯ
MSSV: 6106419

ỨC TH
ẨM MỸ TRONG
MỘT SỐ CẢM TH
THỨ
THẨ
Ơ HAIKU CỦA MAT

ĐỀ CƯƠ
ƯƠNG
QUÁ
PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

2.

Lịch sử vấn đề

3.

Mục đích, yêu cầu

4.

Phạm vi nghiên cứu

5.

Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.

Giới thuyết về cảm thức thẩm mỹ trong văn học Nhật Bản



ẦN MỞ ĐẦ
U
PH
PHẦ
ĐẦU
1. Lý do ch
ọn đề tài
chọ
Nhật Bản là một trong những đất nước có nền văn hóa đặc sắc, đó là nền văn
hóa có tính đồng nhất cao. Chính vì vậy mà văn học cũng mang tính đồng nhất, độc
đáo và kì diệu. Nền văn học này luôn có sự kết hợp, hòa quyện giữa yếu tố truyền
thống và hiện đại, giữa tính dân tộc đậm đà và tinh hoa của văn hóa thế giới. Đó là nền
văn học của sự tiếp nối, kế thừa truyền thống, phát triển và sáng tạo dựa trên những giá
trị của cái có trước chứ không loại bỏ tạo nên dòng chảy văn học đậm đà.
Văn học Nhật Bản được thế giới biết đến với nhiều tác phẩm, nhiều loại hình
cùng nhiều tác giả nổi tiếng. Như kịch No là di sản quý giá không chỉ của đất nước
“phù tang” mà còn là sản phẩm thuộc về kho tàng văn hóa thế giới. Ysunari Kawabata
(1899- 1972) và Oe Kenzabuno(1935-) là hai nhà văn đã xứng đáng vinh dự được
nhận giải thưởng Nobel văn học uy tín danh giá lần lượt vào năm 1968 và năm 1994.
Điều đó cho ta thấy những giá trị cũng như những cống hiến to lớn của học Nhật Bản
vào nền văn học thế giới. Sức hấp dẫn của văn học Nhật Bản còn ở rất nhiều tác phẩm
từ cổ đại đến hiện đại. Ví như Cổ sự kí là một bức tranh hoành tráng về xã hội và tâm
hồn Nhật Bản thời cổ sơ. Vạn di
diệệp tập là kiệt tác thời Nara, “ngọn hải đăng của thơ ca
Nhật Bản” chứa đựng 4496 bài thơ, nó hầu như quy tụ mọi tâm hồn của người Nhật
với hệ thống nhân vật đông đảo. Hay Truy
Truyệện Genji một trong những kiệt tác hàng đầu
của Nhật và được xem như là quyển tiểu thuyết đầu tiên của thế giới.
Trong rất nhiều tinh hoa của nền văn học xứ sở “phù tang” có thể thơ Haiku.

thẩẩm mỹ trong th
thơ
Basho”” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

2. Lịch sử vấn đề
Thơ Haiku Nhật Bản nói chung và của Basho nói riêng đã đi vào tâm hồn người
Việt. Thơ haiku sớm được giới thiệu trên nhiều tạp chí, báo và chiếm được nhiều tình
cảm của người đọc và càng ngày càng phổ biến. Vĩnh Sính có quyển Lối lên mi
miềền

Oku được xuất bản năm 1999 bởi Nhà xuất bản Thế giới, trong quyển này ông đã dịch
và giới thiêu tập thơ Lối lên mi
miềền Oku nguyên văn tiếng Nhật là Oku no hosomichi
của Basho. Trong cuốn sách Vĩnh Sính cũng giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự
nghiệp của ông. Trong quyển Hợp tuy
tuyểển văn học Nh
Nhậật Bản do Mai Liên tuyển chọn,
giới thiệu và dịch đã khái quát nội dung của một số tác phẩm tiêu biểu cho các giai
đoạn của văn học Nhật Bản trong đó có thơ Haiku của Matsuo Basho. Bên cạnh đó
còn rất nhiều bản dịch của các tác giả khác như Đoàn Lê Giang, Thanh Châu, Hữu
Ngọc… Khi so sách các bản dịch tuy có sự khác nhau nhưng vẫn đảm bảo một số nội
dung nhất định. Điều đó cho thấy việc dịch thuật văn học Nhật Bản nói chung thơ
Haiku nói riêng là công việc khó khăn đòi hỏi sự tỉ mỉ, hiểu biết và năng khiếu văn
chương để một mặt truyền tải tinh thần thơ Haiku mặt khác làm cho chúng có vần nhịp
mền mại sinh động.
Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy bên cạnh dịch thuật thì cũng có khá nhiều bài
nghiên cứu về thơ Haiku của Basho cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Có thể điểm qua

ơ M.Basho của tác giả Đỗ Thái
các bài nghiên cứu như: Dấu ấn Thi

thơ
M.Basho (Tạp chí ngiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1, 2006), bài Basho (1644ng hợp về
1694) và Huy
Huyềền Quang (1254-1334) sự gặp gỡ với mùa thu hay sự tươ
ương
ức th
cảm th
thứ
thẩẩm mỹ (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7, 2005)… Thơ Haiku nói chung
và của Basho nói riêng luôn có sức hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu mà nói như
Nhật Chiêu đó là hội tụ của “ba nghìn thế giới thơm” mang nhiều bí ẩn cần được khám
phá.
Nhật Chiêu là nhà nghiên cứu lớn về văn học Nhật Bản. Ông đã có nhiều bài
báo, bài nghiên cứu và viết sách về văn học Nhật Bản. Trong đó, ông cũng dành khá
nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu thơ Haiku. Nhân ngày kỉ niệm 350 năm ngày
sinh và 300 năm ngày mất của Basho, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã viết quyển

ơ Haiku được xuất bản năm 1994. Tên quyển sách giản dị đơn sơ nhưng
Basho và th
thơ
chứa đựng cả tấm lòng của Nhật Chiêu như chính thơ Haiku nhỏ bé mang trong mình
tâm hồn vĩ đại Basho. Đây là công trình khác bao quát về thơ Haiku của Basho. Với
tấm lòng trân trọng Nhật Chiêu gọi Basho là “tâm hồn Nhật Bản”, là “cái tên kì diệu”.
Bên cạnh việc phân tích nội dung các bài thơ ông còn tuyển dịch một số bài của Basho.
Khi phân tích phương diện nghệ thuật thơ Basho Nhật Chiêu khẳng định: “Haiku tiêu

biểu cho phong cách Đông phương hơn cả, cô đọng, ý ở ngoài lời”. [3; tr.53]. Haiku
giản dị và ngắn gọn. Nó làm ta xúc đọng chỉ bằng vài câu tự, vài hình ảnh. “Thơ

Haiku của Basho, với vỏn vẹn 17 âm tiết, tựa như những vỏ ốc kỳ diệu. Nhỏ nhoi và

ơ Haiku. Ông nhận định “Thơ Basho có hoa và nước đái ngựa, có
quyển Basho và th
thơ
bươm bướm và chấy bọ, ngân hà và vực thẳm, thiền sư và gái điếm…Nghĩa là có toàn
thể, có cuộc sống ở thực tại của nó. Nếu hoa có ý nghĩa thì nước đái ngựa cũng có ý
nghĩa. Tất cả đều đáng đưa vào thơ. Tất cả đều có thể dựa vào thơ trong cái nhìn đạt
lý của thi nhân. Ở phương diện này, Basho còn hiện đại hơn nhiều nhà thơ hiện
nay.”[3; tr.7]. Thơ Basho gắn với cuộc sống đến từng hơi thở. Haiku không còn để
mua vui mà Haiku là sự dung hòa của tâm hồn và thiên nhiên, giữa con người và cuộc
sống. Cuộc đời thực nhiều mặt đa dạng đều được Basho tái hiện tại trong thơ bằng tất
cả tấm lòng. Đó là nét hiện đại vượt thời gian của thơ Basho. Về mặt nội dung có thể

ơi vườ
n văn
kể đến bài viết của Hữu Ngọc. Tác giả Hữu Ngọc trong quyển Dạo ch
chơ
ườn
Nh
Nhậật Bản gọi Basho là “nhà thơ lãng du trên cõi trần”. Trong khu vườn văn học Nhật
Bản muôn sắc muôn hương mà Hữu Ngọc “dạo chơi” có bông hoa Haiku của Basho.

ơ lãng du tr
Hữu Ngọc đã dành bài viết mang nhan đề “Ba Ti
Tiêêu thi
thiềền sư, nh
nhàà th
thơ
trêên cõi
tr
trầần” để nói về thơ Haiku của Basho. Một mặt tác giả khẳng định vai trò của Basho

thứ
thẩẩm mỹ trong th
thơ
Nhậật Bản” đăng trên Tạp chí sông Hương số 195
tháng 05 năm 2005. Ông nêu ra 4 cảm thức thẩm mỹ chủ yếu là sabi (tịch), wabi (đà),
aware (bi ai) và karumi (khinh). Tác giả đi vào phân tích các cảm thức thẩm mỹ và cho
thấy sự đặc biệt của các cảm thức thẩm mỹ trong thơ Basho. Sau khi phân tích các cảm
thức thẩm mỹ Hà Văn Lưỡng nhận định: “Từ cảm thức về sự cô tịch (sabi) đến nhận

ra cái đẹp ở sự bình dị, thanh thoát (wabi) và khẳng định cái thanh cao, ung dung
(karumi) trong con người và sự vật là những biểu hiện của sắc thái thẩm mỹ mang dấu
ấn Thiền tông trong thơ haiku nói chung, đặc biệt trong thơ haiku của Basho” [17].
Tác giả đã khái quát lên được điểm chung của các cảm thức thẩm mỹ là điều mang dấu
ấn Thiền tông. Như vậy cả hai tác giả đều chỉ ra cho người đọc thấy một số cảm thức
thẩm mỹ quan trọng trong thơ Haiku của Basho và nhận ra tầm ảnh hưởng của những
quan niệm Thiền tông.
Qua việc tìm hiểu trên ta nhận thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về
thơ Haiku của Basho. Các công tình này tập trung vào khai thác nội dung và nghệ
thuật thơ của ông. Bên cạnh đó, có các bài viết về các cảm thức thẩm mỹ. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào đào sâu và nhấn mạnh vào việc phân tích các cảm thức thẫm
mỹ trong thơ Haiku của Basho một cách đậm nét. Tuy nhiên các công trình này đã
cung cấp những kiến thức nền tảng cho người viết thực hiện đề tài.

ch, yêu cầu
3. Mục đí
đích,
ức th
ơ Haiku của Matsuo
Thực hiện đề tài “Các cảm th
thứ

huyền, sâu sắc).

ươ
ng ph
áp nghi
5. Ph
Phươ
ương
phá
nghiêên cứu
Trong quá trình làm đề tài chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
khác nhau nhằm giải quyết tốt nhất những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra. Trong đó có các
phương pháp:
Phương pháp tiểu sử được sử dụng nhằm tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp Matsuo
Basho. Bởi vì cuộc đời có ảnh hưởng không nhỏ đến các sáng tác của các tác giả nên
ta cần dùng phương pháp này và từ cuộc đời của ông tìm thấy một số lý giải cho quan
niệm sáng tác.
Phương pháp phân tích nhằm phân tích các bài thơ để tìm ra cảm thức thẩm mỹ,
tìm ra những nét đặc sắc những điểm hay và những giá trị trong nội dung thơ. Ngoài ra
chúng tôi còn sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm lại vấn đề một cách cô đọng, súc
tích.
Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng khi liên hệ thơ của Basho với thơ
Haiku của một số tác giả tiêu biểu khác.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác như bình giảng, chứng
minh…

7


ẦN NỘI DUNG

nghệ thuật – đứa con tinh thần của tác giả mới ra đời thật sự. “Những xúc cảm, tình

cảm thẩm mỹ của chủ thể được đối tượng hóa (khách thể hóa) trong hình tượng đã
đem lại cho nghệ thuật nét riêng biệt độc đáo, một sức mạnh lớn lao có khả năng
“gây chấn động” toàn bộ tâm hồn, tình cảm của con người” [8; tr.46]. Cảm thức
thẩm mỹ là yếu tố quan trọng trong cuộc sống cũng như trong sáng tác tác phẩm nghệ
thuật.
Cảm thức thẩm mỹ trong văn học Nhật Bản mang nhiều nét riêng độc đáo.
Không chỉ có trong văn học nó còn được thể hiện trong văn hóa qua những phong tục
nổi tiếng như tục ngắm hoa, tục uống trà. Tình yêu thiên nhiên là một truyền thống
mỹ học cao đẹp trong văn hóa dân tộc Nhật. Người Nhật rất yêu mến và kính trọng
thiên nhiên. Điều đó được thể hiện vào phong tục ngắm hoa, thưởng ngoạn thiên
nhiên đặc biệt là lễ hội ngắm hoa anh đào (hanimi) vào mùa xuân. Người Nhật sẽ mặc
trang phục truyền thống để đi ngắm hoa đào. Người Nhật đi không chỉ để xem hoa
đẹp mà còn là nét nghệ thuật thưởng ngoạn cái đẹp với lòng yêu trọng thiên nhiên.
Chính vì vậy, thiên nhiên là đề tài hết sức quan trọng trong các tác phẩm văn học
Nhật Bản từ cổ đến hiện đại. Thiên nhiên luôn được đề cao và mang vẻ đẹp vừa cao
sang vĩ đại vừa gần gũi bình dị. Từ những bài Waka trong Vạn di
diệệp tập đến Tanka
trong Cổ kim tập và thơ Haiku đều có sự xuất hiện của thiên nhiên. Người Nhật yêu
thiên nhiên bởi họ nhìn thấy “thần” (kami) trong những hiện tượng của thiên nhiên.

8


Qua thiên nhiên, các nhà thơ thể hiện những bâng khuâng, xao động về lẽ vô thường
của cuộc đời, về sự phù du của cái đẹp.

“Có phải hoa mận trắng
Trong vườn tôi

cửa chỉ khép hờ không đóng hẳn cũng không mở toan. Ở những cánh cửa ấy người
9


đọc thấy gì là tùy thuộc vào điều cảm nhận của mỗi người. Ví như trong Bốn bề bờ

bụi của Akutagawa sự mơ hồ đã diễn ra từ khi mở đầu cho đến khi kết thúc câu
chuyện. Mỗi nhân vật đều có cách lí giải của mình một cách hợp tình hợp lí, ai đúng
ai sai đều khó phân biệt. Câu chuyện kết thúc như lúc nó mở ra vậy, đó là kết thúc bất
toàn không thỏa mãn, giải đáp cho sự tò mò của người đọc. Nhưng cũng có lẽ vì vậy
mà nó để lại ấn tượng mạnh cho người đọc. Vẻ đẹp của sự bất toàn hấp dẫn thậm chí
ăn sâu vào tâm thức người Nhật đặc biệt đối với các nhà văn lớn. Nó ám ảnh họ cả
trong hành động. Akutagawa hay Kawabata đều kết thúc cuộc đời bằng cách tự tử khi
mà họ vẫn đang ở đỉnh cao sự nghiệp, khi vẫn đang còn có thể sáng tác. Họ ra đi lúc
mà không ai ngờ tới càng làm cho ta nhớ đến họ, chiêm ngưỡng họ nhiều hơn.
Kawabata từng không đồng tình với việc Akutagawa tự sát nhưng chính ông lại chọn
con đường ấy. Phải chăng các ông cho rằng các tác phẩm của mình chưa đủ khắc họa
cái đẹp nên dùng cái chết để thể hiện cái đẹp của sự bất toàn? Cái chết đối với họ như
là một vẻ đẹp cần bộc lộ, khám phá, đến với cái chết là đến với một thử thách đầy mỹ
lệ. Cái chết cũng là một nghệ thuật, họ xem nó như là tuyên ngôn nghệ thuật cuối
cùng của cuộc đời mình. Tuy có xuất hiện cái buồn như đó là nỗi buồn tuyệt đẹp. Cái
chết như là một vẻ đẹp hoàn mỹ, vẻ đẹp vĩnh cửu nhất.
Người Nhật có đôi mắt yêu đời nhưng lại u sầu. Có lẽ vì thế mà họ quan
niệm vẻ đẹp gắn với cái buồn. Họ nhìn thấy giới hạn của cái đẹp, giới hạn của mọi vật
nên họ luôn trân trọng mọi thứ. Là nghệ sĩ cần phải phát hiện ra vẻ đẹp ẩn náo trong sự
vật. Quan niệm này gọi là mono no aware. Mono no aware là quan điểm văn học và
mỹ học xuất hiện trong thời Heian (794 – 1185). Trong quyển Văn học Nh
Nhậật Bản từ

ởi th

Điều này đã được học giả xuất sắc phái Kokugaku (Quốc học) Motoori Norinaga
(1730 – 1801) nghiên cứu. Thuật ngữ mono no aware được đặt ra trong thế kỷ 18 thời
Edo bởi Motoori Norinaga và ban đầu nó là một khái niệm được sử dụng trong phê
bình văn học của ông về tác phẩm Try
Tryệện Genji. Và sau đó khái niệm này được sử
dụng cho các công trình nghiên cứu khác về văn học của ông trong đó có nghiên cứu
về Vạn di
diệệp tập. Mono no aware dần trở thành trung tâm triết lý của ông về văn học
và cuối cùng là trở thành một truyền thống trong văn hóa Nhật Bản. Motoori chỉ ra
rằng aware ban đầu không chỉ giới hạn trong nỗi buồn mà nó là tất cả những cảm xúc
sâu sắc trong trái tim con người bao gồm cả sự vui thích và sự say mê. Aware mang
tính bao quát toàn diện, nó bao gồm nhiều rung động, cảm xúc của con người trước sự
vật. Tuy nhiên, càng về sau theo thời gian aware lại chỉ niềm bi cảm, lại mang nỗi
buồn nhiều hơn đặc biệt là nỗi buồn thấm đượm cảm thức vô thường của Phật giáo.
Motoori giải thích điều này là do niềm vui thích chỉ khuấy động trái tim ở tầng lớp
nông còn nỗi buồn và cảm xúc yêu đương lại rung động sâu sắc hơn. Ngoài ra, thời kỳ
văn học Heian là thời kỳ mà phụ nữ chiếm vị trí quan trọng trong văn đàng với nhiều
tác giả nữ nổi tiếng. Đó là nữ nhà văn Murasaki Shikibu với tác phẩm Truy
Truyệện Genjiđược xem là đỉnh cao của văn học Heian. Đây là tác phẩm mang đậm chất aware, chứa
đựng nỗi buồn của con người trước sự vô thường của cuộc sống. Nữ sĩ Sei Sonagon

u, nữ sĩ Izumi Shikibu với tác phẩm Nh
với tác phẩm Sách gối đầ
đầu
Nhậật kí Izumi. Các tác
phẩm của các nữ sĩ đã đưa thời đại Heian thành “kỉ nguyên vàng”. Chính họ là những
người đưa chất nữ tính trữ tình lãng mạn và nỗi buồn aware vào văn học.

“Tôi chỉ là giọt sương
Đọng mình nơi ngấn lá

khắc họa hình ảnh chiếc chén Shino, một biểu tượng của cái đẹp truyền thống. Chiếc
chén mang trong mình dòng thời gian 300 trăm năm đã qua và vết son môi của người
dung nó. Nó là vật chứng cho bao thế hệ trà đạo đã qua. Chính vì vậy Shino trở thành
vật kỉ niệm vô giá mang đậm tình cảm con người. Cảm thức aware được thể hiện qua
vẻ đẹp mang dấu ấn con người và thời gian. Trong thơ Haiku mono no aware được
biết với cái tên ngắn gọn là aware. Đây là cảm thức thẩm mỹ quen thuộc trong Haiku,
nó đôi khi là niềm sầu thương sâu sắc:

“Lệ trào nóng hổi
tan trên tay tóc mẹ
làn sương thu”.
12


[19; tr.173]
Bài thơ của Basho là niềm xót thương đau đớn trước cái chết của người mẹ kính yêu.
Giọt lệ đã rơi trên kỉ vật còn lại là mớ tóc, giọt lệ nóng hổi chứa chan niềm aware. Có
khi là aware lại là nỗi buồn dịu nhẹ, man mác:

“Thật tuyệt vời! tôi nói,
và mỗi khi cô đơn tôi thấy
mùa xuân trôi xa”.
[15; tr.643]
Nhà thơ Haiku Takai Kito (1741 – 1789) lại cho ta thấy một khía cạnh nghĩa khác của
cảm thức thẩm mỹ aware đó là nỗi buồn nhẹ nhàng của sự cô đơn.
Nếu mono no aware là cảm thức chủ yếu thời Heian thì yugen là nổi bật của
thời Kamahura, thời đại Muromachi có wabi và sabi. Tất cả các cảm thức này tồn tại
cùng nhau bên cạnh cái khác nổi bật hơn chứ không mất đi hoàn toàn. Ngay cả đến
thời đại Meji thì ta vẫn bất gặp mono no aware trong các sáng tác thơ, cảm thức
yugen vẫn xuất hiện trong kịch No, tất cả cùng nhau làm nên nền văn học Nhật Bản

với yếu tố thời gian tức là cái đẹp của sự vật mang dấu ấn thời gian. Đó là cặp chén
Raku đã mấy trăm tuổi, một đen một đỏ, một âm một dương dùng trong tiệc trà và
thích hợp hơn cả cho cuộc đối ẩm giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Hình
ảnh chiếc chén Shino của nhân vật bà Ota trong tác phẩm Ng
Ngààn cách hạc là điển hình
tiêu biểu cho sabi. Chiếc chén đã 300 tuổi nó đã cũ kĩ nhưng chính sự cũ kĩ ấy lại toát
lên nét đẹp rạng ngời. Đó là nét đẹp tự nhiên, nguyên sơ qua dấu ấn thời gian và dấu
ấn con người. Người dùng trân trọng nó và chiếc chén đáp trả tấm lòng của chủ nhân
bằng cách in dấu ấn son môi người dùng lên thành thân mình. Người và vật có sự
tương tri với nhau. Một vẻ đẹp sabi thật đặc biệt, thật quyến rũ. Sabi còn thể hiên trong
hoang sơ vùng “xứ tuyết” của Nhật Bản. Kawabata làm người đọc liên tưởng ngay đến
tập Lối lên mi
miềền Oku của Basho. Cả hai đều tìm kiếm cái đẹp trong sâu thẳm thiên
nhiên vùng phương Bắc. Có thể nói vẻ đẹp cô đơn, tĩnh mịch của thiên nhiên là vẻ đẹp
dường như ngưng đọng trong không gian xứ tuyết, không ồn ào, xô bồ mà yên tĩnh,
thâm trầm. Sabi tĩnh mịch, cô liêu thể hiện qua hình ảnh cây bá dương và sự yên tĩnh
của khu rừng bá dương già cổ. Sabi trong tác phẩm còn ở những cảnh vật mang dấu ấn
thời gian. Đó là con tàu xứ tuyết mang vẻ đẹp cổ sơ, là những mái nhà, mái chùa với
vẻ cũ kĩ của lớp bụi thời gian. Tất cả đều mang đậm dấu ấn sabi.
Thời đại Muromachi còn có cảm thức wabi là cảm thức nổi bật. Ban đầu wabi
được hình thành và phát triển trong nghệ thuật trà đạo – một loại hình văn hóa được
Thiền sư Eisai Myoan truyền bá từ Trung Hoa đến Nhật Bản vào thế kỉ XII. Trà đạo là
một loại hình nghệ thuật độc đáo nổi tiếng của người Nhật. Trà đạo ra đời là dành
riêng cho người Nhật bởi tính cách người Nhật đáp ứng đủ tinh thần cơ bản của trà đạo:
hòa, kính, thanh, tịnh. Đó là hòa bình, cung kính tôn trọng bề trên, thanh cao tinh khiết
và sự tịch tĩnh của tâm hồn. Một buổi trà phải đáp ứng đầy đủ bốn tiêu chí này mới
được coi là trà đạo. Uống trà cũng là một nghệ thuật và buổi uống trà phải thể hiện
14



xung quanh. Chính từ quan niệm ấy mà đã toát lên nét đẹp trong tinh thần người Nhật,
nét đẹp của sự chân thành, của tấm lòng yêu mến gắn bó cuộc đời. Cuộc đời là tất cả
những gì đang diễn ra có ô trọc và thanh khiết, có buồn thương và hỉ lạc. Con người sẽ
được thanh tẩy nếu sống hòa hợp với tự nhiên và biết trân trọng giá trị cuộc sống.
15


Chính tư tưởng của Thần đạo đã có những ảnh hưởng nhất định đến quan niệm thẩm
mỹ của người Nhật. Phạm Hồng Thái từng nhận định về ảnh hưởng của Thần đạo như
sau: “Trong lĩnh vực thẩm mỹ, sự thuần khiết được thể hiện khá rõ trong nghệ thuật

truyền thống còn rất được ưa chuộng tại Nhật Bản ngày nay. Wabi và sabi là những
quan niệm từ lâu đã trở thành tiêu chí thẩm mỹ cho việc thưởng ngoạn cái đẹp trong
cuộc sống và trong nghệ thuật, thể hiện rõ nhất là trong thơ Haiku, nghệ thuật cắm
hoa và trà đạo. Wabi và sabi là quan niệm tôn trọng sự giản dị, thanh tao, vượt qua
những lạc thú vật chất để vươn đến sự cảm thụ vẻ đẹp của tinh thần về sự đơn sơ,
thuần khiết. Nét thẩm mỹ này có thể mang ảnh hưởng của phong cách Thiền Phật giáo,
nhưng trong đó không thể phủ nhận được những dấu ấn của quan niệm về sự thuần
khiết của Thần đạo” [25; tr.180]
Giống như tác giả Phạm Hồng Thái nhận định nguyên lý wabi còn có sự ảnh
hưởng của Phật giáo mà ở đây là Thiền tông. Vì Thiền tông chú trọng sự hòa hợp với
thiên nhiên, sống gắn bó gần gũi với vạn vật nên wabi mang vẻ đẹp của sự đơn sơ mộc
mạc nơi những tạo vật bình thường. Như trong nghệ thuật vườn cảnh mà người Nhật
tạo ra. Chỉ cần vài hòn đá đơn sơ trên nền cát, người nghệ sĩ cũng có thể tạo nên một
tác phẩm nghệ thuật giá trị. Wabi cũng thế chỉ cần một chút ít đơn sơ cũng tạo thành
thi phẩm đẹp.

“Những cánh hoa rải rác
trên mặt nước cánh đồng:
những vì sao trên bầu trời đầy trăng”.

thức này vẫn giữ được nét thâm sâu, khó hiểu của mình.

“Gạo không còn
hoa mùa thu ấy
cắm vào bầu không.”
[3; tr.91]
Sự bất ngờ của bài thơ là ở sự chuyển ý từ câu đầu sang hai câu sau. Câu đầu nói đến
tình cảnh kham khổ không còn gạo nhưng hai câu cuối lại là hình ảnh hoa thu đang rơi
vào “bầu không”. Hoa rơi từ trên cao xuống phải tiếp đất nhưng hoa trong bài lại rơi
vào hư không bao la, hoa rơi vào mênh mông vũ trụ. Cánh hoa nhỏ bé hữu hạn đối lập
với “bầu không” rộng lớn vô hạn. Bài thơ không nhằm kể lể về hoàn cảnh kham khổ
mà bài thơ là giây phút đốn ngộ. Hoa thu bé nhỏ cắm vào mênh mông nhưng nó không
tan đi mà chính từ những sự vật nhỏ nhoi như hoa làm nên thế giới bao la diệu kì. Bài
thơ mang màu sắc yugen huyền bí bởi sự kì diệu trong khoảnh khắc hoa rơi. Hoa rơi
vào thinh không cô tịch để rồi hoa đi vào thế giới của những điều bí ẩn. Cánh hoa đang
rơi là cánh hoa của thực tại hay là cánh hoa của những điều mầu nhiệm mà Basho đã
lĩnh hội được? Basho không cho ta câu trả lời mà ông bỏ lửng điều ấy cho độc giả
cùng suy ngẫm.

17


Các cảm thức thẩm mỹ là những món quà đặc biệt mà người Nhật gửi gắm vào
các tác phẩm của mình. Trong thơ Haiku các cảm thức này chiếm vị trí quan trọng góp
phần tạo nên nét giá trị lôi cuốn hấp dẫn người đọc. Tìm hiểu các cảm thức thẩm mỹ sẽ
giúp ta mở ra thêm một con đường nữa đi vào thế giới thơ Haiku.

ơ haiku
1.2. Đô
Đôii nét về th

một chiều mùa xuân”
(Sôgi)

“Xa xa dòng nước
qua làng, mơ thơm”
(Shohaku)

“Gió từ sông đến
liễu xanh một hàng
18


chào xuân”.
(Socho).
[3; tr.10]
Đến thời Edo (1600 – 1868) thơ Renga càng ngày càng thịnh hành phong cách
trào lộng, đùa cợt mang tính bông đùa. Vì vậy, Renga ngày càng dung tục, hài hước.
Thơ ca lúc này cần phải được thổi vào luồng gió mới. Matsuo Basho chính là người
mang lại linh hồn mới cho Haiku.
Trong các bài Renga thì đoạn mở đầu là quan trọng nhất và được gọi là Hokku
(phát cú). Basho đã đưa Hokku dần trở nên độc lập và tạo thành một thể thơ riêng biệt
và được gọi là Haikai. Sau này những bài Haikai được gọi là Haiku do ghép ngắn gọn
của từ Haikai và Hokku tạo thành. Thơ Haiku được ra đời trên cơ sở kế thừa thể thơ
truyền thống đã được cách tân. Basho được ghi nhận là người hồn mới vào Haiku đưa
nó thoát khỏi tính bông đùa. Basho không là người sáng tạo nên Haiku nhưng là cây cổ
thụ xuất sắc đưa Haiku trở nên sâu sắc, lãng mạn. Và sau Basho lần lượt xuất hiện
nhiều nhà thơ Haiku tài năng trong đó phải kể đến ba nhà thơ nổi bật góp phần làm
cho Haiku ngày càng rực rỡ hơn. Đó là Buson (1716 – 1784), Issa (1762 – 1826), và
Shiki (1867 – 1902).
Trên các chuyến hành trình những sản phẩm tinh thần là những bài Haiku ra đời,

hay của Haiku là nói ít nhưng gợi nhiều, ngôn từ không nhiều nhưng đều được chất lọc,
lựa chọn kĩ càng. Tính hàm súc, ngắn gọn không làm cho Haiku trở nên khô khan mà
trái lại càng thêm phong phú, sinh động. Sự kiệm lời không phải vì vốn từ hạn hẹp,
ngôn ngữ ít kém mà bởi sự uyên bác mà có được, nói như thế dường như mâu thuẫn
nhưng để đạt được trình độ thuần thục sáng tác thơ Haiku hay, có giá trị thì người sáng
tác phải có vốn ngôn ngữ sâu rộng. Không phải chiếc lá nào cũng làm thành mùa thu,
chiếc lá non mơn mởn trên ngọn cây làm sao là thu được nhưng một chiếc lá rụng
dường như tắt dần sự sống lại làm nên mùa thu sinh động ngây ngất lòng người. Sự
hàm súc làm nên sự uyên bác cho thơ Haiku. Thơ Haiku ghi lại những khoảnh khắc,
những lát cắt của cuộc sống. Đó có thể là những khoảnh tuyệt đẹp, hay phút giây đốn
ngộ, hay một khung cảnh đơn sơ cực độ…

“Dòng thác trong
buông theo triền nước
những lá xanh thông”.
[3; tr.76]
Bài thơ nhẹ nhàng như chiếc lá đang trôi theo dòng nước. Khoảnh khắc trong veo của
bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp được Basho ghi lại. Ngắn gọn, đơn sơ nhưng lại có sức
gợi. Người đọc có thể hình dung ra một bức tranh thiên nhiên có thác trong mạnh mẽ
và có lá thông rơi nhẹ nhàng như chính nhà thơ đang thả hồn trôi vào thiên nhiên.
Basho quả là bậc thiên tài yêu mến thiên nhiên.
Gắn với đặc điểm hàm súc, cô đọng là tính chân không trong các bài Haiku.
Thơ Haiku không bao giờ nói hết, nói đủ mà chỉ gợi tạo nên khoảng trống cho trí
tưởng tượng của người đọc. Giống như Chế Lan Viên từng viết:
20


“Bài thơ anh chỉ làm một nửa mà thôi
Còn một nửa để mùa thu làm lấy”.
Để gợi nên khoảng trống trong thơ thì ngôn từ trong bài phải ngắn gọn và thường dùng

biểểu
Bên cạnh cây cổ thụ Basho còn có rất nhiều nhà thơ sáng tác góp phần tạo nên
sự phong phú và thúc đẩy thơ Haiku phát triển. Trong số nhiều ấy có ba nhà thơ tên
tuổi đã cùng với Basho được gọi là “tứ trụ Haiku”. Ba nhà thơ đó là Yosa Buson,
Koyashi Issa, và Masaoka Shiki.
Yosa Buson (1716 – 1784) tên thật là Taniguchi Buson, sinh ra tại làng Kema
tỉnh Settsu ngoại ô thành Osaka. Năm 1737, ông đến Edo học vẽ và làm thơ. Ông xuất
21


thân trong gia đình giàu có nhưng có tinh thần tự lập cao. Điều này có ảnh hưởng lớn
đến sự nghiệp của ông. Vì là một họa sĩ nên thơ ông mang đậm chất hội họa. Những
bài thơ của ông như những bức tranh sống động về tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống
sâu sắc. Buson nối tiếp Basho làm cho Haiku ngày càng rực rỡ. Ông là nhận vật chính
trong phong trào tìm cách phục hồi tiêu chuẩn mỹ học “trở lại với Basho”. Dù là lớp
hậu bối nhưng Buson luôn cố gắng sáng tạo cho mình phong cách riêng gắn với cuộc
đời trần thế hơn.
Ông để lại khoảng ba nghìn bài thơ và nhiều thể loại tranh hai-ga (bài họa), loại
tranh có lối vẽ đơn sơ, hàm sức gây ấn tượng như thơ Haiku. Thơ ca Buson giàu màu
sắc, âm thanh, ý hàm súc, trữ tình. Ông là nhà thơ tài năng với con mắt của một họa sĩ
nhìn thấy nhiều cảnh ngoạn mục, sống động. Ông rất thích màu xuân và dành nhiều
bút mực để viết về mùa xuân nên được gọi là “thi sĩ của mùa xuân”.

“Dưới mưa xuân lất phất
áo tơi và ô
cùng đi”.
[19; tr.206]
Đây là bài thơ viết vè mùa xuân hết sức trữ tình, lãng mạn. Con người và thiên nhiên
hòa hợp với nhau trong mưa xuân nhẹ nhàng xao xuyến. Mùa xuân ở đây là mùa xuân
của tuổi trẻ, của hạnh phúc đôi lứa nhẹ nhàng êm ái. Mùa xuân mang con người đến

thật bất hạnh ba đứa con của ông lần lượt qua đời và cuối cùng đến lượt vợ ông ra đi
vào năm 1823. Cuộc đời của Issa là cuộc đời của sự bất hạnh, buồn đau. Năm 1827
nhà ông cháy ông phải sống trong nhà kho cho đến cuối đời. Có lẽ vì thế mà thơ ông
chứa đựng nhiều trắc ẩn đầy nội tâm. Ông để lại di sản thơ đồ sộ với khoảng 20000 bài
thơ Haiku. Thơ Issa mô tả sự nghèo khổ và kể lại tình yêu thương của ông đối với các
sinh vật và côn trùng nhỏ bé.

“Nếu là thời điểm thích hợp
tôi đã nói với lũ ruồi: “Hãy mời thêm vài người bạn
quay quần bên thức ăn tôi”.
[15; tr.643]
Issa không chê trách, ghê ghét những con ruồi mà ngược lại ông coi chúng như bạn và
tỏ ý mời chúng cùng dùng bữa. Không phải ai cũng có thể đối xử như thế với những
sinh vật bé nhỏ này.
Thơ ông cũng mang đầy nỗi buồn thương đau xót:

“Hãy đùa vui thật nhiều
hỡi chú chim sẻ nhỏ
không còn mẹ yêu”.
[15; tr.644]
Và cũng chứa đựng nỗi sợ hãi, hoang mang, lo lắng:

“Khi già nua
23


khi bị người đời đố kị
khi đó thật đáng sợ”.
[15; tr.644]
Nếu Basho là nhà thơ nổi bật của thời trung đại thì Masaoka Shiki (1867 – 1902)

ộc đờ
1.3.1. Cu
Cuộ
đờii hành gi
giảả của Matsuo Basho
Matsuo Basho sinh vào năm 1644, mất năm 1694 tên thật là Matsuo Munefusa.
Ông là người con thứ bảy sinh ra trong một gia đình Samurai ở xứ Iga thành Ueno thời
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status