TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010- 2014)
Đề tài:
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ,
CÔNG CHỨNG
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Cao Nhất Linh
Trần Phƣợng Nguyên
Bộ môn: Luật Thƣơng mại
MSSV: 5106167
Lớp: Luật Thƣơng mại
Cần Thơ 12/2013
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình làm luận văn em đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
..........................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm .................................................................................... 20
1.2.2.2 Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng..... 22
1.2.2.3 Nguyên tắc cơ bản của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật
sư, công chứng ........................................................................................................ 25
CHƢƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH
NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG .......................... 28
2.1 Xác lập quan hệ hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sƣ,
công chứng............................................................................................................. 28
2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp .............. 28
2.1.2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ........................ 30
2.1.3 Chủ thể ........................................................................................................... 31
2.1.3.1 Bên bảo hiểm .............................................................................................. 31
2.1.3.2Bên tham gia bảo hiểm ................................................................................ 32
2.1.3.3 Bên thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm ......................................................... 33
2.1.4 Khách thể ....................................................................................................... 34
2.2 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghề nghiệp của luật sƣ,
công chứng............................................................................................................. 35
2.2.1 Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư,
công chứng.............................................................................................................. 35
2.2.2 Phí bảo hiểm .................................................................................................. 36
2.2.3 Thời hạn bảo hiểm ......................................................................................... 38
2.2.4 Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư,
công chứng.............................................................................................................. 39
2.2.4.1 Phạm vi bảo hiểm ....................................................................................... 39
2.2.4.2 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm ................................................. 40
2.2.5 Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm ..................................................................... 44
2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp của luật sƣ, công chứng ........................................................................... 45
Nền kinh tế nước ta từ khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước đã đạt được những thành tựu đáng kể, tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt được ở
mức cao, lạm phát bị đẩy lùi, kim ngạch xuất nhập khẩu được cải thiện, các ngành sản
xuất vật chất, dịch vụ cũng đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Xã hội ngày càng phát
triển, đời sống con người ngày càng được cải thiện. Do vậy, nhu cầu đảm bảo ổn định
cuộc sống và việc đầu tư cho tương lai là nhu cầu cần thiết, ngày càng được mọi người
quan tâm. Việc mua bảo hiểm là một dạng của đầu tư đề phòng rủi ro tốt nhất đối với
mọi người và nhất là đối với những cá nhân, tổ chức có công việc đòi hỏi trình độ
chuyên môn cao như luật sư, công chứng. Bỡi lẽ, một khi làm việc mà tổ chức, cá
nhân hành nghề luật sư, công chứng sơ suất, bất cẩn sẽ gây ảnh hưởng đến khách hàng
của họ có khi gây thiệt hại vô cùng lớn mà họ không thể lường trước được. Công việc
của họ đòi hỏi phải có độ chính xác rất cao và uy tín là điều mà khách hàng tin tưởng ở
họ nhất khi tìm đến nhờ họ tư vấn hay công chứng giấy tờ và một khi họ sơ xuất, bất
cẩn sẽ làm mất niềm tin nơi khách hàng từ đó uy tín của họ trong lòng khách hàng sẽ
bị giảm xúc theo lỗi mà họ đã phạm. Nếu muốn khách hàng tin tưởng công việc của
mình thì tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư, công chứng nên tham gia bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp. Khi tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là biện pháp tự
bảo vệ mình cũng như bảo vệ lợi ích khách hàng của mình niềm tin nơi khách hàng sẽ
tăng cao hơn. Riêng tổ chức, cá nhân hành nghề công chứng sẽ cảm thấy an tâm hơn
trong công tác của mình. Điều đáng nói ở đây là việc pháp luật đã quy định bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp là bảo hiểm bắt buộc nhưng rất ít tổ chức, cá nhân hành nghề
luật sư, công chứng chịu tham gia loại hình bảo hiểm này. Nguyên nhân là do các quy
định pháp luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư,
công chứng còn rất ít, nhiều bất cập bên cạnh đó là những thiếu sót mà pháp luật chưa
dự liệu được hết dẫn đến áp dụng luật vào thực tiễn còn nhiều khó khăn cho cả doanh
nghiệp bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm trong việc xác lập hợp đồng bảo hiểm.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này cùng với kiến thức đã học
người viết chọn đề tài: “Quy chế pháp lý về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp của luật sư, công chứng” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
và diễn giải, suy luận logic để hoàn thành luận văn. Cụ thể là quy định của pháp luật
về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng rất ít, không
bao quát hết thực tế hiện nay. Vì vậy, người viết đi phân tích những quy định chung
sau đó suy luận ra các nội dung mà người viết trình bày ở các phần bên dưới, người
viết dựa vào các quy định của các công ty bảo hiểm trong thực Cuối cùng, người viết
tổng hợp các vấn đề trong một mối quan hệ thống nhất giúp người đọc có cái nhìn tổng
quát và nhìn nhận đúng bản chất vấn đề.
5. Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận thì nội dung chính của luận văn gồm có ba
chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng.
Chương 2: Quy chế pháp lý về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của
luật sư, công chứng.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công chứng.
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 2
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
1.3 Tổng quan về bảo hiểm thƣơng mại
ThS. Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 15.
4
ThS. Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 15.
1
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 3
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
Sự khác nhau trong quan điểm trên xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm bởi
các góc độ và hình thức tiếp cận khác nhau, Bảo hiểm là một lĩnh vực rộng và phức
tạp hàm chứa yếu tố kinh doanh, pháp lý và kỹ thuật nghiệp vụ đặc trưng nên khó tìm
ra một định nghĩa hoàn hảo thể hiện tất cả những khía canh đó. Điều có thế chấp nhận
được là cần xây dựng một khái niệm từ góc độ và cách thức tiếp cận hữu ích cho muc
đích nghiên cứu. Trên phương diện lý thuyết cơ bản thì bảo hiểm là phương pháp
chuyển rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm theo đó bên mua chấp
nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cao kết bồi thường hoặc trả tiền bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Hay nói cách khác, bảo hiểm là một sự cam kết bồi
thường của người được bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất
mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với điều kiện người
được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi
là phí bảo hiểm.
Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm chúng ta có thể đưa ra
một định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của bên bảo hiểm với bên
Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người được nhận bồi thường hoặc
tiền trả bảo hiểm. Thông thường quyền lợi bảo hiểm thuộc về người được bảo hiểm.
Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người được hưởng quyền lợi bảo hiểm lại là
người khác. Phức tạp nhất là khi có sự khác nhau giữa người tham gia bảo hiểm, người
được bảo hiểm và người được hưởng quyền lợi bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm con
người, đặc biệt là bảo hiểm cho sự cố chết người của người được bảo hiểm.
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm
theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm6. Mức
phí bảo hiểm thường do người bảo hiểm định ra trên cơ cở tính toán xác suất xảy ra rủi
ro hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất nhằm đảm bảo số phí thu về để bồi thường và bù
đắp các chi phí khác đồng thời có lãi. Số thu về phí bảo hiểm trong khi chưa bồi
thường là một nguồn vốn quan trọng để công ty bảo hiểm đầu tư vốn sang những lĩnh
vực kinh doanh khác.
Để hiểu rõ hơn về bảo hiểm ta cần tìm hiểu các hoạt động khác có liên quan
như kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động mô giới bảo hiểm và đại
lý bảo hiểm. Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh
lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ
sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm
cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm7. Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục
đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoảng phí bảo hiểm của
doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo
hiểm8. Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán sản phẩm thu xếp
việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo
hiểm theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm9. Còn hoạt động mô giới bảo hiểm là
việc cung cấp thông tin tư vấn cho bên mua bảo hiểm về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện
bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các công việc liên quan đến
Điều 569, Bộ luật dân sự năm 2005.
Khoản 11, Điều 3, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010.
Bảo hiểm có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, bảo hiểm là một ngành dịch vụ đặc biệt
Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người
mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thức phi vật thể. Như vậy, là một ngành dich vụ
bảo hiểm cũng mang đặc điểm là cung cấp sản phẩm dưới hình thức phi vật thể, các
sản phẩm của bảo hiểm đều hình thành ở dạng vô hình nói đúng ra là một lời hứa và
bên cạnh đó người mua sản phẩm bảo hiểm cũng phải trả một khoản phí để được cung
cấp dịch vụ. Tuy nhiên, không giống như các nghành dịch vụ khác, dịch vụ mà các
doanh nghiệp bảo hiểm mang lại là sự đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trước rủi ro
để đáp ứng nhu cầu an toàn của con người, của xã hội. Và người mua bảo hiểm cũng
muốn được an tâm trước những tổn thất mà họ không thể biết trước.
Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính cũng giống như những dịch vụ tài chính
khác: tín dụng, chứng khoán, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính. Tuy nhiên, xét ở khía
cạnh người được bảo hiểm thì không có khái niệm lãi, lỗ. Người tham gia bảo hiểm
với mục đích bù đắp tổn thất cho họ nếu không mau gặp rủi ro. Nếu không gặp rủi ro
thì họ không được hoàn tiền phí bảo hiểm đã đóng.
Thứ hai, bảo hiểm là sự đóng góp của số đông
Bản chất của bảo hiểm là sự phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho
tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu, trong mối quan hệ của bảo hiểm
không chỉ có người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm mà là tổng thể các mối
quan hệ giữa người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểm. Trong đó
Khoản 4, Điều 3, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010.
10
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 6
doanh nghiệp bảo hiểm, trong thực tế không những cần phải nghiên cứu nắm bắt được
quy luật của rủi ro, dự kiến được rủi ro, phát hiện rủi ro, nhận diên rủi ro mà còn phải
đánh giá được rủi ro và lựa chọn những rủi ro có thể bảo hiểm để tiến hành hoạt động
kinh doanh bảo hiểm của mình. Còn đối với nhà nước, là chủ thể quản lý hoạt động
của doanh nghiệp bảo hiểm, phải dựa vào đối tượng kinh doanh trong lĩnh vực bảo
hiểm mà có những quy định phù hợp nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong kinh doanh
bảo hiểm. Cụ thể đối tượng kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là
rủi ro là sự không chắc chắn, nên thực chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
bảo hiểm là bán các lời hứa trong tương lai. Các lời hứa này là các cam kết chi trả về
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 7
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm và do vậy pháp luật phải có cơ chế phù hợp
để doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo được khả năng tài chính của mình.
Thứ tư, bảo hiểm hoạt động theo quy định của pháp luật
Bảo hiểm đóng vai trò là công cụ góp phần ổn định các hoạt động kinh tế xã
hội, đời sống của dân cư thúc đẩy quá trình tích tụ vốn trong xã hội. Để tránh thất thoát
cho tài sản các cá nhân, tổ chức có thể tham gia bảo hiểm cho tài sản của mình và nếu
gặp rủi ro thì thiệt hại sẽ được bù đắp bằng tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm
chi trả. Đồng thời, cũng chính nhờ tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho cá
nhân, tổ chức có thể duy trì được hoạt động bình thường, ổn định đời sống khi gặp rủi
ro. Mặt khác, an toàn về tính mang sức khỏe là vấn đề tích cực trong việc bù đắp vật
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
tiếp tục phát triển bình thường nếu như đối tượng được bảo hiểm của họ gặp rủi ro, sự
cố gây tổn thất. Sự có mặt của các tổ chức bảo hiểm đã đáp ứng nhu cầu đó một cách
nhanh chóng. Bởi lẽ thông qua quỹ bảo hiểm được tạo lập từ trước một cách chủ động,
có ý thức từ phí bảo hiểm của những người tham gia, tổn thất của một hay một số
người sẽ được phân tán, dàn mỏng theo quy luật “số đông bù số ít”.
Nếu tham gia bảo hiểm các cá nhân, tổ chức sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm
phối hợp quản lý rủi ro, thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất. Vấn đề này
không chỉ có ý nghĩa đối với người tham gia, doanh nghiệp bảo hiểm mà còn có ý
nghĩa lớn đối với xã hội và thực chất là góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Hơn nữa vượt lên ý nghĩa về tiền bạc bảo hiểm mang đến trạng thái an toàn về
tinh thần, giảm bớt rủi ro cho người được bảo hiểm. Trong thực tế kinh doanh các
doanh nghiệp bảo hiểm cần nhận thức rõ ý nghĩa xã hội đó để tự nâng cao hình ảnh
“một nhà bảo trợ” trong hoạt động bồi thường, chăm sóc khách hàng. Đó cũng chính
là ý nghĩa nhân văn của bảo hiểm trong xã hội hiện đại, thể hiện hình ảnh tốt đẹp của
các doanh nghiệp bảo hiểm trước công chúng.
Thứ hai, hoạt động bảo hiểm góp phần giải quyết việc làm cho xã hội. Điều này
làm giảm bớt tình trạng lao động bị thất nghiệp trong xã hội. Bởi lẽ ngành bảo hiểm đã
thu hút một lượng lớn lao động làm việc tại các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
mô giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và các ngành nghề liên quan như: giám
đinh sức khỏe, giám định tổn thất. Trong bối cảnh nạn thất nghiệp đang ám ảnh nền
kinh tế toàn cầu thì sự phát triển của ngành bảo hiểm vẫn được coi là còn nhiều tiềm
năng ở các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Qua đó góp phần giải quyết tình
trang thiếu việc làm cũng như vấn đề xã hội liên quan khác. Về phương diện tâm lý,
bảo hiểm còn là chỗ dựa tinh thần cho những người tham gia bảo hiểm giúp họ yên
tâm trong cuộc sống và trong hoạt động kinh doanh.11
1.1.3.2 Bảo hiểm đóng vai trò là một hoạt động trung gian tài chính
những người Trung Hoa cổ đại, thời nhà Chu vào khoảng 500 năm trước công nguyên
cũng đã sử dụng kỹ thuật phân chia rủi ro đơn giản bằng cách tổ chức các đoàn thuyền
vận chuyển hàng hóa và súc vật trên dòng sông Dương Tử, trong đó hang hóa của mỗi
chủ hàng được chia nhỏ cho mỗi thuyền chuyên chở và nếu chiếc nào bị chìm thì các
thương gia cùng nhau gánh chịu.
Ở Babylone, vào khoảng 1700 năm trước Công Nguyên và ở Athens (Hy Lạp)
khoảng 500 năm trước công nguyên đã xuất hiện quan hệ tín dụng với lãi suất rất cao
trong lĩnh vực buôn bán. Vận chuyển hàng hóa trên biển và qua sa mạc. Điều đặc biệt
trong quan hệ tín dụng này là nếu hàng hóa bị tổn thất thì người cho vay phải chịu rủi
ro mất vốn và lãi. Tại Rome, Hệ thống cho vay với điều kiện tương tự đã ra đời lãi
xuất có thể lên tới 50%. Thực chất đó là sự kết hợp giữa hoạt động tín dụng với ý đồ
bảo hiểm và do đặc trưng bằng cơ chế lãi suất cao đi đôi với chấp nhận rủi ro nên được
mệnh danh là “cho vay mạo hiểm lớn”. Một phần lãi có thể hiểu như tiền thân của phí
bảo hiểm. Hoạt động cho vay bảo hiểm lớn hoạt động khá lâu và phổ biến trên nhiều
khu vực trên thế giới. Tại Rome, kéo dài đến tận thời Trung Cổ - thời kỳ thống trị của
nhà thờ Thiên Chúa Giáo.
Trước những đòi hỏi đó đã hình thành một hệ thống bảo đảm mới của bảo hiểm
hàng hải các nhà buôn chấp nhận một khoảng tiền ấn định trước để nhận được bảo
đảm giá trị tàu thuyền và hàng hóa chuyên chở trong trường hợp tổn thất. Những thỏa
thuận bảo hiểm đầu tiên được gắn liền với hoạt động thương mại và vận chuyển hàng
hóa đường biển đã ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIV. Bút tích của bản hợp đồng cổ
xưa nhất mà người ta tìm thấy được ký kết tại Genes năm 1347. Đến năm 1424, cũng
12
ThS. Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 18, 19.
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Ở Việt Nam, không có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác về thời gian
xuất hiện của hoạt động bảo hiểm. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia,và năm 1880 có
các Hội bảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy Sỹ, Hoa Kỳ…đã để
ý đến Đông Dương, Các Hiệp hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi công
ty thương mại lớn. Ngoài việc buôn bán các công ty này còn mở thêm một trụ sở để
làm đại diện bảo hiểm.
Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975, ở Miền Nam đã tồn tại 57 công ty bảo hiểm
dưới nhiều loại hình pháp lý: công ty cổ phần, công ty tương hỗ và công ty bảo hiểm
13
ThS. Võ Thị Pha: Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính năm 2005, trang 37-40.
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 11
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
nước ngoài. Sau năm 1975, một số công ty bảo hiểm tư nhân ở Miền Nam đã được
quốc hữu hóa và sáp nhập vào Công ty bảo hiểm Việt Nam.14
Ở Miền Bắc, vào năm 1964, Chính phủ đã ký kết quyết định 1979/CP ngày 127-1964 cho phép thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt)
trực thuộc Bộ Tài Chính. Bảo Việt chính thức hoạt động vào tháng 1 năm 1975, thực
hiện hai chức năng quản lý nhà nước và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Sự độc quyền khiến hoạt động bảo hiểm trước năm 1990 được biết đến dưới tên là bảo
hiểm nhà nước.Mặc dù có vị trí nhỏ bé với một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất,
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 12
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con
người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay
tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề
nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng
hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự
phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin
học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ
trợ. Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh
học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời…
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ
chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu
sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền
kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ hàng
hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người
lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám”
và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần
trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Con người phải chủ động chuẩn bị
tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm,
tự tạo việc làm…
Chúng ta hãy cùng nhau làm sáng rõ hai khái niệm Nghề và Chuyên môn:
1.2.1.2 Khái niệm Luật sư, công chứng
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật
này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi
chung là khách hàng)17.
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp
của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà
theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu
công chứng18.
1.2.1.3 Khái niệm trách nhiệm nghề nghiệp
Pháp luật chưa quy định rõ khái niệm trách nhiệm nghề nghiệp và hiện tại chưa
có nguồn tài liệu nào định nghĩa chính xác về khái niệm này. Khái niệm này được đưa
ra theo cách hiểu riêng của mỗi người. Chúng ta có thể hiểu như sau:
Trách nhiệm nghề nghiệp là trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đối với công việc
của mình. Mỗi cá nhân, tổ chức khi gây ra lỗi vô ý hay cố ý điều phải chịu trách nhiệm
về việc đó.
1.2.1.4 Sự cần thiết của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Ở nhiều nước phát triển, trong danh mục sản phẩm của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ thì cơ cấu các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bao giờ
cũng là nhiều nhất, sau đó mới đến bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người. Bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp được đánh giá là sản phẩm tiềm năng và sẽ là xu hướng
chung tại các nền kinh tế đang phát triển.
Số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho thấy, tính đến hết 9 tháng đầu
năm 2010, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn đứng đầu về doanh thu với 3.885 tỷ
Định hướng nghề nghiệp, http://maxreading.com/sach-hay/dinh-huong-nghe-nghiep/khai-niemchung-ve-nghe-38160.html, [ngày truy cập 22/08/2013]
17
Điều 2, Luật luật sư năm 2006 sửa đổ bổ sung năm 2012.
18
Điều 2, Luật công chứng năm 2006.
16
giá.
Thực tế, nhận thức chung của người Việt Nam về các sản phẩm bảo hiểm trách
nhiệm chưa cao, họ chưa thấy cần thiết, hoặc cũng có thể do tập quán, thói quen kinh
doanh, không ai sợ trách nhiệm hoặc trách nhiệm là của tập thể. Ngược lại, bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp có phạm vi trách nhiệm khá nặng nề, nên các doanh nghiệp
còn e ngại khi triển khai. Mặt khác, lĩnh vực này cũng tiềm ẩn rủi ro liên quan đến trục
lợi bảo hiểm, do hành lang pháp lý về lĩnh vực này chưa thực sự chặt chẽ. Trong khi
đó, cách tính phí bảo hiểm chưa thống nhất, cụ thể. Vì thế, thị trường này vẫn còn quá
nhỏ, dẫn đến cung từ các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước còn hạn chế.
Như đã phân tích ở trên thị trường bảo hiểm này còn tiềm ẩn nhiều khía cạnh
bất lợi cho cả doanh nghiệp bảo hiểm lẫn người mua bảo hiểm nên cần được quan tâm
nhiều hơn. Do vậy nhà nước cần chú trọng loại hình bảo hiểm trách nhiệm nghề
Theo đầu tư chứng khoán, Cần tăng ti trọng trách nhiệm nghề nghiệp,
http://www.misa.com.vn/tabid/91/newsid/5982/Can-tang-ti-trong-bao-hiem-trach-nhiem-nghenghiep.aspx, [ngày truy cập 18/08/2013].
19
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 15
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
nghiệp này hơn để xua đi cái ý nghĩ của những người không có thói quen chịu trách
nhiệm cá nhân mà chỉ đổ lỗi cho tập thể làm việc sai sót, bất cẩn, người nào gây ra sai
sót bất cần thì người đó bồi thường.Và nếu không muốn bồi thường do hành vi bất cẩn
đó gây ra thì tốt nhất là mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho mình. Để đảm bảo
bảo hiểm và người bảo hiểm được thiết lập trong tình trạng tạo ra rủi ro cho nhau. Do
đó, để tồn tại và có thể thực hiện thì hai bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau. Tính chất
tin tưởng tuyệt đối và nguyên tắc trung thực tối đa chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề.
Hợp đồng bảo hiểm có tính chất phải trả tiền: Mối quan hệ quyền và nghĩa vụ
giữa hai bên thể hiện ở mối quan hệ tiền tệ. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền phí
bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm/bồi thường khi có sự kiện bảo
hiểm xảy ra.
Hợp đồng bảo hiểm có tính chất gia nhập: Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng
theo mẫu. Quy tắc bảo hiểm (nội dung chính của hợp đồng) do người bảo hiểm soạn
thảo trước, bên mua bảo hiểm sau đọc thấy phù hợp với nhu cầu của mình thì gia nhập
vào.
Hợp đồng bảo hiểm có tính dân sự - thường mại hỗn hợp: Bên mua bảo hiểm có
thể là một thể nhân hoặc pháp nhân dân sự hay thương mại, người bảo hiểm cũng có
thể là một pháp nhân dân sự (hội tương hỗ) hay thương mại (công ty bảo hiểm). Do
đó, mối quan hệ giữa họ, cụ thể là hợp đồng bảo hiểm sẽ có thể có tính dân sự hay
thương mại thuần túy hoặc dân sự - thương mại hỗn hợp.23
Nguyễn Tiến Hùng, Hợp đồng bảo hiểm, http://www.dichvubaohiem.vn/home/chi-tiet/baiviet/article-11_hop-dong-bao-hiem-c6.html, [ngày truy cập 18/08/2013].
23
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 17
Đề tài: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA LUẬT SƢ, CÔNG CHỨNG
Như vậy, thực chất Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, công
chứng là bảo hiểm cho các cá nhân hành nghề độc lập hoặc trong một tổ chức nghề
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, http://webbaohiem.net/c%E1%BA%A9m-nangb%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-phi-nh/1886-cau-hi-313-th-nao-la-bo-him-trach-nhim-nghnghip-bo-him-trach-nhim-ngh-nghip-lut-s-bo-him-trach-nhim-ngh-nghip-bac-s-bo-him-cho-trng-hpnao-.html, [ngày truy cập 22/08/2013].
24
GVHD: TS.CAO NHẤT LINH
SVTH: TRẦN PHƯỢNG NGUYÊN
Trang 18