BẢO vệ môi TRƯỜNG tự NHIÊN của NGƯỜI KHMER NAM bộ NHÌN từ QUAN điểm SINH THÁI học PHẬT GIÁO THERAVADA - Pdf 31

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA
NGƯỜI KHMER NAM BỘ NHÌN TỪ
QUAN ĐIỂM SINH THÁI HỌC PHẬT
GIÁO THERAVADA

Phan Anh Tú1
Dẫn nhập
Mối quan hệ giữa con người và môi trường đã được các học giả phương
Tây quan tâm từ thời kỳ cổ đại. Sử gia Hy Lạp, Herodotus đã ghi lại những
biến đổi của môi trường dưới tác động của con người với quan niệm sự can
thiệp ở phạm vi rộng lớn mà con người gây ra đối với tự nhiên sẽ chịu sự trừng
phạt của Thượng đế (Phạm Huỳnh Phương, Hoàng Cầm 2013: 138). Trong
nghiên cứu văn hóa, môi trường tự nhiên phải luôn được chú trọng vì nó có ảnh
hưởng chi phối đến quá trình hình thành và phát triển văn hóa của các tộc
1

Tiến sĩ, giảng viên Khoa Văn hóa học – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM

1


người, góp phần khu biệt văn hóa giữa vùng này với vùng khác. Nhận thấy tầm
quan trọng của môi trường trong việc cân bằng sinh thái đối với đời sống con
người, những vị lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Theravada đã sớm chủ trương
phát triển dung hòa tôn giáo với môi trường tự nhiên. Sự dung hòa này đã góp
phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa đặc sắc
mang đậm nét tôn giáo truyền thống của cư dân Khmer Nam Bộ.
Quan điểm sinh thái học Phật giáo của người Khmer Nam Bộ
Sinh thái học tâm linh (Spiritual Ecology) là một chuyên ngành khoa
học quan tâm đến mối quan hệ giữa tôn giáo, tín ngưỡng và môi trường, xuất
hiện cách đây chỉ một vài thập kỷ. Đối tượng nghiên cứu của các nhà sinh thái

trung đều do chư thiên cai quản. Việc nghiêm cấm lạm sát các loài sinh vật và
tránh làm bẩn nguồn nước là hai trong số những quy ước của Phật giáo
Theravada trong khuyến khích người tín đồ bảo vệ môi trường thiên nhiên.
Luật nhân quả (Karma) đã được Phật giáo Theravada áp dụng trong công tác
truyền bá tư tưởng về lối sống cân bằng giữa con người với các loài vật và môi
trường tự nhiên đã tạo nên sự phát triển bền vững cho nhiều vùng sinh thái
xung quanh nhà chùa tại các tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng. Theo quan điểm sinh
thái văn hóa (cultural ecology) của nhà nhân học Mỹ Julian Steward sinh thái
văn hóa là cách con người sử dụng văn hóa để thích nghi với môi trường thiên
nhiên cụ thể trong bối cảnh nền văn hóa của họ (Phan Thị Yến Tuyết 2010: 30).
Các xã hội có công nghệ kỹ thuật càng thô sơ thì xã hội càng phụ thuộc vào tự
nhiên. Từ quan điểm của Julian Steward, chúng ta có thể thấy xã hội của người
Khmer Nam Bộ không thuộc xã hội công nghệ hiện đại nên rất thích hợp với
phương thức bảo vệ môi trường theo phương thức sinh thái học Phật giáo
Theravada. Cụ thể như những yếu thiên nhiên quan trọng đối với đời sống cộng
đồng thường được họ thiêng hóa.
Bảo vệ nguồn nước nhìn từ quan điểm sinh thái học Phật giáo
Người Khmer là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước nên đối với họ nước
là biểu trưng cho mạch sống thiêng liêng mà thần linh đã ban tặng cho con
người. Nước được lưu giữ trong các dòng sông, những hồ nước thiêng (Baray)
do các rắn thần Naga canh giữ và ban phát cho con người. Naga (Niek trong
tiếng Khmer) là linh vật thân cận nhất của Đức Phật, nó xuất hiện trong suốt
cuộc đời hành đạo và nhập diệt của ngài. Hình tượng rắn Naga ba đầu được
người Khmer tin là con vật làm mưa của thần Phra In (Indra) trên thiên giới.
Vì xem nước là nguồn sống thiêng liêng nên người Khmer Nam Bộ chỉ
dựng nhà sàn trên mặt đất, quy định của cộng đồng nghiêm cấm việc dựng nhà

3



chân lý cứu thế, có một lần Đức Phật bị ba người con gái của Mara đến khuyến

4


dụ bằng nhan sắc và các vũ điệu dâm ô nên ngài đã nhờ nữ thần Prah Thorni
chứng quả bằng cách trỏ ngón tay xuống đất. Hình tượng nữ thần đất Prah
Thorni thường được dựng trên ngôi tháp đầu tiên nằm đối diện với chánh điện
(Vihara) nhằm để canh gác đất đai cho nhà chùa và chứng nhận đắc quả của
Đức Phật như trường hợp điêu khắc tại chùa Campasala (chùa Phướng) thành
phố Trà Vinh.

Khuôn viên chùa Âng với rừng cây cổ

Cổng chào chùa Phướng phía sau là

thụ phía sau chánh điện.

rừng cây cổ thụ lâu năm.

Nguồn: Phan Anh Tú

Nguồn: Phan Anh Tú

Vì quan niệm đất đai của nhà chùa là đất thiêng nên trong cuộc sống
người Khmer luôn tránh mọi xâm hại đến đất đai của nhà chùa bằng bất cứ
hình thức nào. Ở những ngôi chùa có người Khmer sống xung quanh như
trường hợp của chùa Quy Nông thuộc huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh. Chúng
tôi thấy Phật tử khi dựng nhà luôn giữ một khoảng cách không gian tách biệt
với phần đất của nhà chùa để trong cuộc sống tránh làm ô ế đến đất thiêng hay


Chánh điện của các chùa Khmer Nam Bộ

Ngôi tháp cổ (nguyên là lò thiêu xác) nằm

luôn được bao quanh bởi rừng cây cổ thụ.

giữa rừng cây của chùa Quy Nông.

Nguồn: Phan Anh Tú

Nguồn: Phan Anh Tú

Do vậy, xung quanh ngôi chùa là cảnh quan của khu rừng Himaphan nên
phải để cho cây cối mọc tự nhiên hoặc đôi khi các vị sư sãi đã trồng thêm một

6


số loại cây quý cho đẹp mắt hay dùng cho mục đích sau này lấy gỗ trùng tu lại
ngôi chùa. Theo quan niệm của người Khmer, cây to là nơi ở của thần, những
siêu linh, Chằn và linh hồn người quá cố. Người Khmer theo tục hỏa thiêu,
những lò thiêu xác dựng ngay trong khuôn viên của nhà chùa. Khi thân xác
thành tro bụi, linh hồn được tin là sẽ bay lên cư ngụ trên các tán cây, hàng ngày
họ phải thức dậy nghe kinh và hưởng phước từ việc cúng dường chư tăng ở
những người thân còn sống. Linh hồn người chết không bao giờ dám đến chánh
điện vì nơi đó được trấn giữ bởi Tám vị đại thần linh thần thông quản đại có tên
gọi chung là Hộ Thế Bát Phương Thiên (Dikpalaka trong Bà La Môn giáo). Hộ
thế bát phương thiên là tín ngưỡng về tám vị thần trấn trị bốn phương tám
hướng để bảo vệ ngọn Tudi sơn trên thiên giới của Phật giáo Theravada. Bất kỳ

văn hóa về không gian môi trường, khu vực bảo vệ và đặc trưng kiến trúc của
di tích.
Nghệ thuật tạo hình nhìn từ quan điểm sinh thái học Phật giáo
Vấn đề tạo dựng không gian nghệ thuật của các ngôi chùa Phật giáo
Theravada luôn được chú trọng nhằm giáo dục tín đồ về tình yêu thiên nhiên và
việc tôn trọng sự sống của muôn loài. Nghệ thuật tạo hình trong các ngôi chùa
Phật giáo Theravada đã thể hiện môi trường bằng các loại hình hoa cỏ, cây cối
và muôn thú. Những loài cây và hoa được dùng làm vật trang trí xung quanh bờ
tường, hàng rào và trên bệ của các pho tượng Phật Thích Ca như những biểu
tượng trường tồn của Phật giáo. Qua khảo sát năm ngôi chùa Khmer, chúng tôi
thấy phổ biến với các loài hoa như sau: hoa sen biểu trưng cho sự giác ngộ của
Đức Phật, hoa Sala biểu trưng cho Phật nhập diệt và cây Bồ Đồ (Boddhi) biểu
trưng cho Phật thành đạo. Tuy chỉ có ba loài hoa và cây nhưng chúng được thể
hiện cách điệu với hàng trăm mô típ nghệ thuật khác như thể hiện bằng nghệ
thuật điêu khắc, hội họa, thể hiện cùng với Đức Phật, với chư thần, trang trí
trên thân thể của linh vật, trên bờ tường, đế tháp, thể hiện đơn lẻ, thể hiện cách
điệu với nhiều biến dạng khác nhau, tất cả tạo nên một bức tranh hoa cỏ vô
cùng sinh động bao phủ ngôi chùa. Ngoài ra, điểm đặc sắc nhất của nghệ thuật
Phật giáo Theravada là kiểu tranh bích họa (Mural painting) được vẽ trên chánh
điện nhằm mô tả cuộc đời hành đạo của Đức Phật, từ lúc ngài đản sinh tại vườn
Lâm Tỳ Ni (Lumpini) cho đến lúc Phật nhập diệt tại rừng Sala ở Câu Thi Na
(Kusinagara). Các bức vẽ đều mô tả môi trường tự nhiên nơi Đức Phật đang ôm
bát hóa duyên trên con đường làng đầy hoa cỏ hay ngồi thuyết pháp giữa những
rừng cây cổ thụ được bản địa hóa từ cảnh quan của tỉnh Trà Vinh như Ao Bà
Ôm theo cách hiểu của người Khmer.

8


Long thần Naga canh giữ ngôi Tam bảo của

những lợi ích thiết thực cho cuộc sống của con người như long thần Naga làm
mưa cứu nhân độ thế, Krut là mặt trời ban ánh sáng cho con người, voi giúp
người chuyên chỡ và bảo vệ đất đai lãnh thổ mà con người sinh sống, cá sấu

9


đâu lưng kế thành cầu cho nhà sư đi khất thực... Những truyền thuyết liên quan
đến các loài vật nhằm giáo dục Phật tử về tự nhiên luôn mang đến lợi ích cho
con người, ngược lại con người phải thể hiện tình yêu với tự nhiên, yêu thương
và tôn trọng sự sống của muôn loài. Nếu con người tàn phá tự nhiên, săn đuổi
tận diệt các loài vật vì mục đích kinh tế họ sẽ nhận lại những Nghiệp báo trong
kiếp đời hiện tại hoặc tương lai.

Phật tử là sinh viên người Khmer đến chùa Âng chiêm bái Đức Phật.
Nguồn: Phan Anh Tú

Kết luận
Môi trường được phản ánh qua quan niệm tâm linh và Phật thoại đồng
thời cũng thể hiện bằng những việc làm thiết thực để bảo vệ cây cối và muôn
vật sinh sống trong khuôn viên của các ngôi chùa Phật giáo Theravada và trong
phum sóc của cư dân Khmer Nam Bộ. Trong lĩnh vực mỹ thuật, các tác phẩm
trang trí trong chùa luôn thể hiện các chủ đề liên quan đến cảnh quan môi
trường như những biểu tượng điêu khắc, tranh vẽ tường, được giải thích bằng
những truyền thuyết dân gian hay Phật thoại nói về các loài cây cỏ và linh vật.
Tất cả nhằm giáo dục cho Phật tử về tình yêu thương muôi loài, tôn trọng tự
nhiên và những gì thiên nhiên ban tặng cho con người. Phật giáo Theravada
luôn nói đến Nghiệp báo (Karma) đang chờ đợi những ai không tôn trọng sự
sống của muôn loài trong tự nhiên. Đó cũng là chính phương thức giáo dục
sinh thái học tâm linh (Spiritual ecology) để con người sống thiện hơn, trách

fine art aspect, the decoration objects in the pagodas always present the topics
relating to landscapes and environment such as sculptural symbols, mural
painting, which are explained in folk and Buddhism legends, telling about the
sacred trees, flowers, grass and holy animals. The paper purposes to research of

11


the methods for spiritual ecology, on which the Khmer monks have educated
the Buddhist about environments and respectable view to animal life.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cao Huy Đỉnh (2003), Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ (tác phẩm được giải thưởng
Hồ Chí Minh), KHXH, Hà Nội.
2. Cao Xuân Phổ (1994), “Văn hóa biển Đông Nam Á”, Nghiên cứu Đông
Nam Á, số 04, Hà Nội.
3. Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách (1999), Tự điển Phật học, Thuận
Hóa, Huế.
4. Châu Đạt Quan (1973), Chân Lạp phong thổ ký (Lê Hương dịch), Nguyên
Thiều, Sài Gòn.
5. Chevalier Jean (1997), Tự điển biểu tượng văn hóa thế giới, Đà nẳng.
6. Durant Will (2002), Lịch sử văn minh Ấn Độ (Nguyễn Hiến Lê dịch), Văn
hóa Thông tin.
7. Fisher Robert. E (2002), Mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo (Huỳnh Ngọc
Trảng dịch), Mỹ Thuật.
8. Geetesh Sharma (2012), Những dấu vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam (Thích
Minh Trí dịch), Văn hóa Nghệ thuật TP. HCM.
9. Lê Hương (1974), Người Việt gốc Miên, Thanh niên, Sài Gòn
10. Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Thanh niên, Sài Gòn.
11. Lương Duy Thứ (cb), Phan Thu Hiền, Phan Nhật Chiêu (1996), Đại cương
văn hóa Phương Đông, Giáo dục, Hà Nội.

21. Phan Anh Tú (2004), “Truyền thuyết về rắn Naga trong văn hóa Khơ-me”,
Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 71, tháng 10, tr. 02 – 04.
22. Phan Anh Tú (2005), “Hình tượng rắn Naga trong văn hóa Ấn Độ giáo”,
Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 80 (2), tháng 7, tr. 13 – 16.
23. Phan Anh Tú (2005), “Nghệ thuật điêu khắc cổ Đông Dương”, Tạp chí Xưa
Nay, số 238, tháng 06, tr. 55 - 60.
24. Phan Anh Tú (2006), “Quan hệ giữa sử thi Phả Đeng Nang Ay và truyền
thuyết Pháya khăn khác (chúa Cóc) với lễ hội Bun Băng Phay của người
Lào”, Kỷ yếu Hội thảo văn học Lào tháng 12, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, tr 36 - 42.

13


25. Phan Anh Tú (2013), Điêu khắc Hộ thế Bát phương thiên (Dikpalaka) từ Ấn
Độ đến Đông Nam Á, Tạp chí Khoa học xã hội, số 10 (180).
26. Reid Anthony (2008), “Các vùng đất bên dưới luồng gió thổi” (Ngô Bắc
dịch), website: Gio O. org.
27. Trần Kỳ Phương (2001), “Phù điêu Hộ thế bát phương thiên của đế chóp
tháp Vân Trạch Hòa và hình tượng Hộ thế bát phương thiên trong điêu
khắc Champa”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 3 (33), tr. 84 – 98, Sở
KHCN và MT tỉnh Thừa Thiên Huế.
28. Trần Quốc Vượng (1989), “Tôn giáo và văn hoá”, Báo NCGVN Xuân Kỷ
Tỵ.
29. Trần Thị Lý (1984), “Tượng Đức Phật ngồi trên rắn Naga trong điêu khắc
Campuchia”, Tạp chí văn hóa dân gian số 03.
30. Trần Thị Lý (1991), Tượng tròn Campuchia, Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status