VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
TP. Hồ Chí Minh, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
Ngành : Tôn giáo học
Mã số : 8.22.90.09
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ QUẾ HƯƠNG
TP. Hồ Chí Minh, 2018
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Quế Hương, cô đã
tận tâm chỉ bảo, dẫn dắt, khích lệ, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi và là người
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Thầy Tổ, Chư huynh đệ, bạn bè, quý Phật tử và
gia đình đã động viên, khích lệ, trợ duyên cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập và
thực hiện luận văn.
Tôi thật sự biết ơn đến những chùa, những cơ quan và những gia đình đã giúp đỡ
cho tôi, để tôi hoàn thành những bài phỏng vấn trong luận văn.
Dù đã cố gắng rất nhiều, xong không thể tránh khỏi thiếu xót và hạn chế nhất
định. Rất mong nhận được những ý kiến xây dựng, đóng góp của quý thầy giáo, cô
giáo, các nhà khoa học để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Trân trọng tri ân !
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Thu Lượng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
Chương 1 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .......... 13
1.1. Vài nét về địa – tôn giáo của tỉnh Bình Phước hiện nay ....................... 13
1.2. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn ............................................. 23
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỰ NHIÊN CỦA GHPGVN TẠI BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY ........... 26
2.1. Quan điểm về bảo vệ môi trường tự nhiên............................................ 26
2.2. Một số hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên của Giáo hội Phật giáo
Việt Nam tỉnh Bình Phước hiện nay ............................................................ 34
2.3. Một số vấn đề đặt ra .............................................................................. 54
Chương 3 VAI TRÒ CỦA GHPGVN TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG
Bảo vệ môi trường tự nhiên
BVMTTN
Ô nhiễm môi trường
ONMT
Ô nhiễm nguồn nước
ONNN
Kinh tế xã hội
KTXH
Khu công nghiệp
KCN
Ô nhiễm không khí
ONKK
Tài nguyên-Môi trường
TN-MT
MỞ ĐẦU
Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Phước thành lập vào tháng
12/1997. Trong quá trình thành lập và phát triển, Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình
Phước tham gia vào các hoạt động văn hóa – xã hội, nhất là hoạt động bảo vệ
môi trường tự nhiên, bằng cách kết hợp với chính quyền tuyên truyền công tác
bảo vệ môi trường. Có thể nhắc đến Hội nghị tập huấn tuyên truyền về vấn đề
biến đổi khí hậu và thu gom xử lý rác thải (23/6/2017) cho tín đồ Phật giáo tỉnh
Bình Phước tại chùa Thanh Long (huyện Đồng Phú), v.v…
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Phước, xuất hiện ngày càng nhiều các
hiện tượng phá hoại môi trường, ngập lụt, cạn kiệt nguồn tài nguyên do phá rừng
bừa bãi và còn tồn tại nhiều do các tộc người thiểu số di cư đến. Ý thức người
dân còn kém, cuộc sống khổ cực nên phá vườn cây ăn trái và phá rừng để trồng
cao su, xả rác bừa bãi, v.v... Do đó, việc bảo vệ môi trường ở tỉnh Bình Phước
đang gặp nhiều khó khăn, cần có sự chung tay giúp sức của các ban ngành liên
quan trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên, tạo cảnh quan môi trường sống xanh
- sạch - đẹp cho người dân trong tỉnh.
Đặc biệt, Bình Phước là tỉnh có diện tích rộng, rừng chiếm phần nhiều và
nhiều dân tộc sinh sống, có nhiều khu sinh thái, nhiều con sông, thác nước là
điểm du lịch lý tưởng, hấp dẫn cần được khai thác, đẩy mạnh tiềm năng vốn có
của tỉnh nhà để Bình Phước ngày một phát triển từ văn hóa du lịch, du lịch sinh
thái, du lịch tâm linh… cho đến vườn cây ăn trái, đồng thời hạn chế thiên tai, cạn
kiệt nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trường ở Bình Phước hiện nay. Vậy việc
bảo vệ môi trường tự nhiên của tỉnh Bình Phước hiện nay đã được triển khai ra
sao? hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh
Bình Phước diễn ra như thế nào?. Vai trò của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh
Bình Phước trong hoạt động đó thể hiện như thế nào? Sự ảnh hưởng của hoạt
động này đến cộng đồng trong bảo vệ môi trường đến đâu?. Đó là những câu hỏi
cần được trả lời trong luận văn này.
2
3
đứng trước thách thức và hiểm họa. Đồng thời hai tác giả cũng đưa ra một vài
ứng dụng thực tiễn để giải quyết vấn đề môi trường sinh thái.
Phạm Quỳnh Hoa và Dương Minh Hào (dịch), (2016) với tác phẩm Sống
hòa hợp với môi trường, do Nxb Giáo dục đã nhắc nhở lứa tuổi học sinh nhận
thức môi trường quan trọng đối với chúng ta như thế nào, cho nên chúng ta cần
phải mỗi người một hành động cụ thể để bảo vệ môi trường.
Ngoài ra còn có các báo cáo, các bài viết nghiên cứu đăng trên tạp chí
Môi trường cũng đề cập đến vấn đề BVMTTN. Cụ thể trong Báo cáo hiện trạng
môi trường của tỉnh Bình Phước do sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình
Phước (giai đoạn 2011-2015) ban hành vào tháng 5/2015. Báo cáo này không
những nói đến vấn đề môi trường hiện nay và biện pháp khắc phục mà còn nói
đến tình hình môi trường trước đó và những vấn đề môi trường đã giải quyết
được cũng như những vấn đề bất cập hạn chế.
Đặt biệt trong Tạp chí Môi trường cho chúng ta thấy hiện thực sống động
hơn về MT, BVMT, nhất là việc con người chưa ý thức cao trong vấn đề bảo vệ
môi trường, dẫn đến những điều đáng tiếc xảy ra như hiện nay. Tạp chí cập nhật
những thông tin hàng ngày xung quanh vấn đề môi trường và việc BVMTTN.
Điển hình một số bài như: Hoa Vũ (2018), Tiềm năng phát triển du lịch tâm
linh-sinh thái của khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Tạp chí Môi Trường, số
2, trang 49. Nói đến nhiều Di tích, khu du lịch đã bị tàn phế theo thời gian và
chiến tranh. Và có những lời kêu gọi người dân giữ gìn và bảo tồn những khu
vực đó. Hay tác giả Mai Hương (2018) có bài Nâng cao hiệu quả công tác thanh
tra, kiểm tra về Tài nguyên và Môi Trường, tạp chí môi trường, số 1,trang 6. Bộ
TN-MT kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân hãy đồng hành với Bộ/ ngành
địa phương trong BVMT thiên nhiên, bảo tồn tài nguyên nước. Hồng Nhung
(2018), có bài “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Mậu Tuất 2018,
mà diệt trừ ngay trong hiện tại Phẩm thứ tư Ngài đã chỉ rõ điều đó.
Như vậy, đạo Phật tán dương một nếp sống hài hòa với thiên nhiên hài
hòa với loài người, tán thán lòng từ bi, khích lệ thương người thương vật, đề cao
5
hạnh thiểu dục tri túc, sống lành mạnh và giản dị, với mục đích xây dựng một
môi trường xanh và sạch. Đây là cơ sở để thiết lập nền hòa bình cho nhân loại.
Cuốn Đạo Phật và môi trường được tác giả Thích Nhuận Đạt sưu tầm và
chuyển ngữ từ những tiếng như: Anh, Hoa và Nhật sang ngôn ngữ Việt Nam do
Nxb. Tổng Hợp Tp. HCM, (2010). Trong cuốn sách này, tác giả đã sưu tầm
những bài rất hay và ý nghĩa, phù hợp đối với vấn đề môi trường hiện nay. Cuốn
sách không những nói đến môi trường của toàn cầu mà còn nói đến sự liên hệ
giữa con người đối với môi trường. Áp dụng giáo lý duyên khởi của đạo Phật đối
với sự hiện hữu của môi trường. Sự phát triển hay suy thoái của môi trường đều
liên quan đến con người và chính con người đã góp phần không nhỏ đến sự thay
đổi đó. Phật giáo nhận định thế giới là Duyên Khởi. Sự tồn tại và hủy diệt của
thế giới là do sự hình thành và tan rã của các điều kiện. Đó gọi là: “có nhân có
duyên thế giới tập thành, có nhân có duyên thế giới hủy diệt. Nghĩa là: cái này có
nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này không nên cái kia không, cái
này diệt nên cái kia diệt”. [23, tr 30]. Cuốn sách không những dành cho tín đồ
Phật giáo mà cho cả mọi người. Bởi nội dung cuốn sách đòi hỏi sự nhận thức cao
của con người đối với môi trường. Đồng thời đã chỉ ra một vài hành động cụ thể
đề bảo vệ môi trường. Hoạt động đó đòi hỏi con người tự giác, tự nhận thức để
hành động.
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam cho ra đời cuốn sách Phật giáo vùng
Mê Công - Ý thức môi trường và toàn cầu hóa, năm 2015, cuốn sách đã cho
người đọc biết được tầm quan trọng của nguồn nước và con sông đối với người
miền Tây như thế nào?. Đặt ra nhiều vấn đề ô nhiễm cũng như biến đối khí hậu
biết lấy tâm từ để ứng xử với muôn loài, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc
sống của chúng ta.
GHPGVN tỉnh Bình Phước là một giáo hội còn non yếu về nhiều mặt hoạt
động cũng như tổ chức giáo hội. Những tài liệu về Bình Phước nói chung và bảo
vệ MTTN của GHPGVN tỉnh Bình Phước nói riêng còn rất hạn chế. Tuy nhiên
những năm gần đây Bình Phước đang từng bước chuyển mình. Nhiều tài nguyên
7
được phát hiện được bảo vệ. Người dân nói chung, tộc người thiểu số như Sóc
Bompo nói riêng đang dần chuyển biến về ý thức trong môi trường sống. Có thể
kể đến nhiều hoạt động nhằm bảo vệ môi trường của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh và Sở Tài nguyên và Môi trường phát động hằng năm. Bên cạnh đó, nhiều
bài báo không những nêu ra thực trạng của môi trường Bình Phước hiện nay mà
còn kêu gọi nhân dân giữ gìn và bảo vệ môi trường đặt biệt là rừng. Hiện nay,
Giáo hội Phật giáo Bình Phước luôn chủ trưởng áp dụng giáo lý Phật đà trong
việc bảo về môi trường. Trong những bài thuyết pháp, giảng sư đều đề cập đến
vấn đề bảo vệ môi trường, như hạn chế đốt vàng mã, đốt nhang giữ gìn vệ sinh
chung, trồng cây xanh trong nhà. Tạo một môi trường sinh thái lành mạnh cho
cuộc sống ở mọi nơi.
Từ những trình bày nêu trên, có thể thấy vấn đề bảo vệ môi trường tự
nhiên ở Bình Phước chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, liền mạch về thực
trạng hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như vai trò của GHPGVN tỉnh
Bình Phước trong các hoạt động bảo vệ môi trường, đây là nhiệm vụ căn bản của
luận văn cần phải giải quyết, để từ đó đưa ra những giải pháp cho vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên của Giáo
hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Phước để nêu bật vai trò của Giáo hội Phật giáo
đồng bào thiểu số sinh sống), chùa Thanh Tường, H. Bù Đốp (nơi tiếp giáp biên
giới Campuchia), Chùa Sóc Lớn, H. Lộc Ninh (nơi di tích lịch sử và là nơi tu tập
của PG Nguyên Thủy) và một số gia đình tín đồ Phật tử cũng như người dân nói
chung.
- Pham vi nội dung nghiên cứu: Do khuôn khổ của một Luận văn nên nội
dung nghiên cứu tập trung về các vấn đề MTTN tại Bình Phước có tác động, ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân như: rừng, nguồn nước,
khai thác khoáng sản.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lí luận
9
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa - Lê Nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và công tác
tôn giáo.
- Luận văn sử dụng cách tiếp cận thực thể tôn giáo (là tổng thể niềm tin
tôn giáo, thực hành tôn giáo của cá nhân và cộng đồng tôn giáo), đây là cách tiếp
cận để chúng ta nhìn tôn giáo một cách toàn diện trong tổng thể các quan hệ xã
hội. Với cách tiếp cận này có thể thấy rõ niềm tin cũng như thực hành của tín đồ
Phật giáo trong các hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên như thế nào?. Tức là
xem xét từ việc nhận thức của Tăng Ni, Phật tử hay người dân về vấn đề MTTN,
ONMT được giảng giải trong các buổi thuyết pháp có lồng nghép vấn đề MT, từ
đó sẽ cho thấy kết quả của việc BVMT thông qua các hoạt động BVMTTN của
Tăng Ni, Phật tử trong tỉnh. Do đó, tác giả luận văn đã đi khảo sát tại 04 cơ sở
Phật giáo (đã nêu cụ thể trong phần phạm vi nghiên cứu) về các hoạt động tuyên
truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường, tác giả tiến hành phỏng vấn 18 cuộc với
các Tăng, Ni, Phật tử (có theo các tiêu chí: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, dân
tộc,… khác nhau, ) tại một số chùa trong tỉnh Bình Phước về nhận thức cũng như
về môi trường có gì khác so với người dân thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường
như: trồng cây công nghiệp lâu năm, trồng cây ăn trái hay trồng hoa màu v.v.. và
việc áp dụng các hoạt động bảo vệ môi trường của Phật giáo có mang lại hiệu quả
thiết thực hơn những người không thực hiện những hoạt động bảo vệ môi trường
của Phật giáo không?. Ý thức của tín đồ Phật giáo và người dân có gì khác?
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đề tài sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản, những quan điểm của Phật
Giáo, của GHPGVN trong việc bảo vệ môi trường cũng như các hoạt động bảo
vệ môi trường tự nhiên.
- Đưa ra những ứng dụng, quan điểm bảo vệ môi trường tự nhiên của Phật
giáo vào các hoạt động tái tạo môi trường tự nhiên và tạo ra môi trường sinh thái
của tín đồ Phật giáo, góp phần làm cho tỉnh Bình Phước ngày một phát triển hơn
về đời sống kinh tế, cũng như xã hội. Qua đó, góp phần hạn chế thiên tai, bão lũ,
11
ô nhiễm môi trường... nhằm tạo cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho con người
trong đời sống hiện nay và cả mai sau.
- Từ việc thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên của một số
chùa trong tỉnh Bình Phước, có thể nhân rộng mô hình trong toàn tỉnh và một số
tỉnh lân cận góp phần xây dựng môi trường sống ngày một sạch, đẹp hơn, có
nhiều khu vườn cây ăn trái không độc hại, vườn rau sạch được nhiều người biết
đến từ đó làm gia tăng kinh tế cho người dân địa phương.
- Nâng cao nhận thức của người dân cũng như Tăng Ni, Phật tử về môi
trường cũng như việc thể hiện mối quan hệ tương hỗ giữa môi trường tự nhiên
với con người trong đời sống sinh hoạt.
- Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu khoa học hữu ích, thiết thực cho
những ai muốn khảo cứu về quan điểm của Phật giáo, GHPGVN về môi trường
và hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên của Việt Nam và tỉnh Bình Phước.
là 136 người/km2. [59, tr 15-16].
Bình Phước có địa hình tương đối cao, là nơi bắt nguồn của nhiều sông,
suối, có mạng lưới sông suối khá dày đặc 0,7 - 0,8 km/km2, lớn nhất là sông Bé,
sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Nhìn chung địa hình Bình Phước tương đối
bằng phẳng nhưng độ cao và độ dốc biến động lớn, phân bố không đều, phong
phú về địa mạo, một số nơi địa hình bị chia cắt, gồm dạng địa hình đồng bằng và
bán đồng bằng, trung du, đồi bát úp, núi thấp, cao nguyên thấp, phần lớn diện
tích tỉnh Bình Phước là đồi đất đỏ bazan nối tiếp nhau, có địa hình tương đối
thoải lượng sóng nhẹ với đỉnh bằng, độ cao trung bình chung của tỉnh không
vượt quá 200 m [105].
13
Như vậy, có thể thấy Bình Phước có địa hình rất đa dạng và phức tạp, vừa
có địa hình đồi núi thấp lại vừa có địa hình trung du xen lẫn với đồng bằng nhỏ
hẹp và bàu trũng. Địa hình có xu hướng thoải dần từ Đông, Đông Bắc về phía
Tây, Tây Nam, bề mặt địa hình bị phân cắt mạnh bởi hệ thống sông, rạch, suối
khá dày dạng cành cây nên cũng rất dễ bị lũ lụt, xạt lở nếu MTTN không được
bảo vệ.
Trong giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ % dân số khu vực thành thị tăng dần
hàng năm, trong khi dân số khu vực nông thôn giảm, dân số đô thị tỉnh Bình
Phước tuy có gia tăng nhưng tăng lên không đáng kể so với dân số nông thôn do
đời sống của người dân nông thôn ngày càng được cải thiện, tốc độ đô thị hoá,
công nghiệp hoá chậm nên lượng dân di cư từ nông thôn vào đô thị là không
đáng kể. Nguyên nhân của quá trình chuyển dịch là do những năm gần đây, Bình
Phước đang trong quá trình đô thị hoá, các nhà máy, khu công nghiệp (KCN)
hình thành và đi vào hoạt động như KCN Bắc Đồng Phú, KCN Minh Hưng Hàn Quốc, KCN Tân Thành, KCN Chơn Thành I, II, ngoài ra còn do khu vực
thành thị có điều kiện sống cao, sinh hoạt và giao thông thuận tiện nên đã thu hút
được nhiều lao động khu vực nông thôn và lao động ngoài tỉnh.
ấn lịch sử đó, Bình Phước còn là nơi có nhiều cảnh quan tự nhiên đang dấu mình
trong các khu rừng bạt ngàn như thác Mơ, Hồ Sóc Xiêm, Núi Bà Rá, khu di tích
suối Lam, rừng nguyên sinh Bù Gia Mập, vườn quốc gia Cát Tiên.... Khu du lịch
thác số 4, Khu du lịch suối Lam, kho xăng Lộc Quang, và có rất nhiều lễ hội văn
hóa.
Bình Phước cũng là nơi định cư và sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau,
trong đó dân tộc ít người chiếm 17,9%, đa số là người Khmer, và Xtiêng, một số
ít người Hoa, Nùng, Tày,... vì vậy, Bình Phước có nhiều nét văn hóa của người
Xtiêng. Ngoài ra, còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như Liên hoan văn
hóa các dân tộc thiểu số vào tháng 12 hàng năm, lễ hội cầu mưa của người
Xtiêng, lễ bỏ mả, lễ hội đánh bạc bầu cua, đánh liêng tố xả láng ở điểm 2, lễ
mừng lúa mới của người Khmer[104].
15
Trải qua gần 20 năm xây dựng kể từ ngày tái lập tỉnh, từ xuất phát điểm
rất thấp về kinh tế, Bình Phước ngày nay đang từng ngày đổi mới; cơ sở hạ tầng
ngày càng hoàn thiện với hệ thống giao thông thông suốt, kinh tế nông nghiệp
phát triển nhanh chóng, hình thành những khu công nghiệp; văn hóa - giáo dục
phát triển vượt bậc, cộng đồng các dân tộc đoàn kết cùng phát triển... tạo nên
một diện mạo xã hội mới. Tuy nhiên, là một tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp và là nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số có trình độ dân trí, kỹ thuật sản
xuất còn thấp, nên mặc dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, Bình
Phước vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển
xã hội bền vững.
1.1.1.2. Về môi trường tự nhiên
Bình Phước là một tỉnh có môi trường tự nhiên khá đặt biệt, vừa là đồi
núi, vừa là đồng bằng, nên thuận lợi cả về chăn nuôi và trồng trọt. Theo thống kê
cho biết: “Phần lớn đất đai của tỉnh thuộc loại đất tốt, đất có chất lượng trung
làm rẫy. Tác hại của phương thức này là hủy hoại môi trường của nó, biến đất
rừng thành đất trống đồi trọc, hoang hóa, xói mòn làm suy thoái đất đai và môi
trường... xói mòn đất là một trong những nguyên nhân gây trượt lỡ đất, lũ bùn
đá, bồi lấp dòng chảy làm giảm khả năng thoát lũ, gây ô nhiễm nguồn nước trên
địa bàn tỉnh.
Có thể thấy rõ, vị trí địa lý tỉnh Bình Phước thuộc vùng chuyển tiếp từ Tây
Nguyên xuống đồng bằng và thuộc sườn tây Nam của dãy Trường Sơn, có điều
kiện địa hình, địa mạo và thủy văn đa dạng. Về mặt sinh thái thuộc vùng sinh thái
Nam Trường sơn và vùng sinh thái rừng khô trung tâm Đông Dương, do đó thảm
thực vật có các đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa, có
lượng mưa lớn và phân mùa rõ rệt, ánh sáng dồi dào, độ ẩm không khí cao và chế
độ thủy văn khá thuận lợi. Phần lớn diện tích đất thuộc nhóm đất đỏ vàng trên nền
đá bazan, giàu dinh dưỡng, thích hợp cho nhiều loại động thực vật sinh sôi và
phát triển, hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển nhiều hệ sinh thái đặc sắc cũng
như số lượng loài thực vật, động vật hết sức phong phú và đa dạng.
17
Như vậy, có thể thấy môi trường tự nhiên ở Bình Phước rất phong phú và
đa dạng. Rừng, sông ngòi và khoáng sản… có tiềm năng phát triển kinh tế cao.
Song song đó, môi trường tự nhiên của tỉnh bị tàn phá nghiêm trọng, đặt biệt là
rừng. Những năm gần đây, tuy nhà nước cũng như các cấp lãnh đạo tỉnh đã có kế
hoạch bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rất nghiêm ngặt, nhưng vẫn không thể ngăn
chặn được lòng tham cũng như nhu cầu cuộc sống của con người dẫn đến gây tác
hại không nhỏ đến môi trường, nhất là đối với những người chưa có ý thức
BVMT.
1.1.2. Lược sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Phước
Năm 1997, Sông Bé được tách làm hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước.
Vì thế, hệ thống của Giáo hội cũng phải tách làm hai. Những ngày đầu Ban trị sự
chức các buổi lễ Quy Y cho những ai theo đạo Phật. Hướng dẫn Phật tử phát
nguyện ăn chay, tránh sát sanh hại vật.
Đến nhiệm kì thứ hai tức là từ năm (2001-2006) trước và sau khi Quốc
Hội ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004). Các chùa trong tỉnh dần đi
vào ổn định và phát triển. Nhiều ngôi chùa được thành lập và GHPGVN tỉnh suy
cử đầy đủ các ban như: Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hướng dẫn Phật tử, Hoằng
pháp, Nghi lễ, Văn hóa, Kinh tế Tài chánh, Từ thiện xã hội, Kiểm soát. Trong đó
có ban Hoằng Pháp, ban Hướng dẫn Phật tử và ban Văn hóa có trách nhiệm
truyền tải những giáo lí Phật Đà đến cho các tín đồ. Vấn đề môi trường đã được
các ban nhiều lần nhắc đến. Như trong các bài giảng những vị tu sĩ nhiều lần
nhắc đến vấn đề sát sanh, thương chúng sanh như thương chính bản thân mình.
Đồng thời hướng cho Phật tử lai tạo những giống cây trồng có nhiều lợi ích cho
kinh tế cũng như môi trường sống. Bản thân các Tăng Ni đã tự mình tu tập cũng
như áp dụng giáo lí qua các việc làm thiết thực. Vẫn thực hiện đúng luật Bảo vệ
môi trường mà Quốc hội nước ta ban hành. Giữ vững những giáo lí cũng như
giới luật mà mỗi tu sĩ thọ nhận. Mỗi một ngôi chùa đều có những khuôn viên
khác nhau và tất cả các chùa đều trồng cây xanh vườn rau, vệ sinh sạch sẽ, đặc
19