ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
HÀ THỊ BẮC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
HÀ THỊ BẮC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC .............................................................................................................. 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT .............................................. 4
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI................................................................................................................. 10
1.1. Những nghiên cứu về gia đình và giáo dục gia đình .......................... 10
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về gia đình ....................................... 10
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về giáo dục gia đình......................... 16
1.2. Những nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức trong gia đình .... 22
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về đạo đức ........................................ 22
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức trong gia đình ...... 27
1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án .............. 30
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................... 32
Chương 2: GIA ĐÌNH VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ............................................................................ 33
2.1. Khái niệm gia đình, đạo đức và giáo dục đạo đức.............................. 33
2.1.1. Khái niệm gia đình .............................................................................. 33
2.1.2. Khái niệm đạo đức và giáo dục đạo đức ............................................ 40
2.2. Giáo dục đạo đức trong gia đình ........................................................ 45
2.2.1. Khái niệm giáo dục đạo đức trong gia đình ....................................... 45
2.2.2. Vai trò của giáo dục đạo đức trong gia đình ...................................... 48
2.2.3. Nội dung giáo dục đạo đức trong gia đình ......................................... 54
2.2.4. Phương pháp giáo dục đạo đức trong gia đình................................... 59
2.3. Đặc điểm và một số yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức trong gia
đình Việt Nam hiện nay............................................................................ 61
giáo dục đạo đức cho trẻ em trong gia đình ............................................ 120
4.1.1. Trang bị kiến thức và kỹ năng giáo dục đạo đức cho các bậc cha mẹ120
4.1.2. Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức trong gia đình 122
4.2. Phát huy ý thức tự giác rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho trẻ em
trong gia đình ......................................................................................... 130
2
4.2.1. Cha mẹ cần chú trọng thực hành và nêu gương đạo đức trong việc
giáo dục đạo đức cho trẻ em ....................................................................... 130
4.2.2. Rèn luyện thói quen tốt cho trẻ em thông qua việc tổ chức đời sống
gia đình ........................................................................................................ 133
4.3. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh để nâng cao hiệu quả giáo
dục đạo đức trong gia đình ..................................................................... 137
4.3.1. Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc, tạo nên bầu không
khí lành mạnh cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ....... 137
4.3.2. Tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường và xã hội ........ 140
4.3.3. Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước và sự điều tiết của pháp
luật trong xây dựng môi trường giáo dục đạo đức lành mạnh ................... 144
Tiểu kết chương 4 ............................................................................................. 150
KẾT LUẬN........................................................................................................ 151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ................................................................................................. 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 156
PHỤ LỤC
3
NXB
: Nhà xuất bản
PGS
: Phó giáo sư
QHSX
: Quan hệ sản xuất
UNCEF
: Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
TS
: Tiến sĩ
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
phát triển nhân cách của trẻ em hiện nay.
Gia đình cùng với nhà trường và xã hội là môi trường giáo dục quan trọng
đối với sự hình thành phẩm chất đạo đức và nhân cách cho thế hệ trẻ. Song vai trò
của các thiết chế xã hội này chỉ có thể được phát huy một cách có hiệu quả khi lấy
giáo dục đạo đức trong gia đình làm cơ sở. Tuy nhiên, nhiều bậc cha mẹ hiện nay
vẫn chưa nhận thức được vai trò của giáo dục đạo đức trong gia đình. Không ít cha
mẹ chỉ quan tâm đến đời sống vật chất của con mà xem nhẹ việc dạy chữ, dạy người
cho con cái. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường cùng với những tác động
nhiều mặt của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tốc độ phát triển tâm - sinh lý của
trẻ hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, có khi đột biến, bất thường trong khi các bậc
cha mẹ lại chưa kịp thời nhận thức để điều chỉnh những hành vi lệch chuẩn và định
hướng cho trẻ phát triển một cách lành mạnh. Nhiều gia đình tỏ ra lúng túng thậm
chí bất lực trong việc giáo dục đạo đức cho con cái. Trong bối cảnh đó, việc định
hướng các giá trị đạo đức, hình thành các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cho trẻ
em thông qua giáo dục đạo đức trong gia đình là một yêu cầu cấp bách hiện nay.
Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế ở
Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với sự nghiệp giáo dục nói chung
và giáo dục đạo đức trong gia đình nói riêng nhằm góp phần tạo ra thế hệ trẻ Việt
Nam phát triển toàn diện, vừa có “Đức” vừa có “Tài”. Trẻ em sẽ là nguồn nhân lực
chủ yếu trong tương lai, họ phải được giáo dục và rèn luyện về mọi mặt, mà trước
hết là phải được giáo dục về đạo đức. Không có những đảm bảo về đạo đức và giáo
dục đạo đức thì gia đình không trở thành “tế bào lành mạnh”, do đó, cũng không
thể đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai. Vì vậy, nâng
cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong gia đình không chỉ là trách nhiệm của các bậc
làm cha mẹ đối với con cái của mình mà còn thể hiện trách nhiệm của họ với sự
phát triển của xã hội và đất nước. Nhận thức rõ vị trí và vai trò của gia đình trong
giáo dục thế hệ trẻ, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn 2030 đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng
6
+ Làm rõ các khái niệm: “Gia đình”; “Đạo đức” và “Giáo dục đạo đức trong
gia đình”.
7
+ Làm rõ vai trò, nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức trong gia đình.
+ Phân tích đặc điểm và một số yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức trong
gia đình Việt Nam hiện nay.
+ Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay; phân tích
những vấn đề đặt ra trong giáo dục đạo đức của gia đình Việt Nam hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo
đức trong gia đình Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là giáo dục đạo đức trong gia đình Việt
Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
Giáo dục đạo đức trong gia đình là hoạt động giáo dục có mục đích và hệ
thống, diễn ra trong phạm vi gia đình nhằm tác động đến nhận thức, tình cảm, hành vi
đạo đức của các thành viên trong gia đình. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác
giả chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức của cha mẹ đối với trẻ em
trong gia đình Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh đổi mới từ năm 1986 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của
Nhà nước ta về gia đình và giáo dục gia đình. Luận án cũng sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu như lôgíc - lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, v.v. để
làm rõ vấn đề nghiên cứu.
5. Đóng góp mới của luận án
đức trong gia đình Việt Nam hiện nay.
9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến nay, vấn đề gia đình đã được đề
cập và xem xét dưới nhiều khía cạnh trên quy mô quốc gia và quốc tế. Cùng với cơn
lốc của cuộc cách mạng công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và quá trình hiện
đại hóa, đô thị hóa diễn ra trên toàn cầu thì “gia đình - tế bào cơ bản của xã hội” đã
không ngừng được cảnh báo như là một đối tượng đang bị đe dọa tổn thương và
phải chịu đựng những cú sốc riêng của nó [103, tr. 198]. Chính vì vậy, nghiên cứu
về vấn đề gia đình và vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội nói
chung và trẻ em nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan và tổ chức
trong nước cũng như quốc tế quan tâm. Liên quan đến đề tài luận án, có thể phân
loại các công trình nghiên cứu nêu trên thành các nhóm cơ bản sau:
1.1. Những nghiên cứu về gia đình và giáo dục gia đình
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về gia đình
Trong những năm qua, GS Lê Thi đã có nhiều công trình nghiên cứu về gia
đình, trong đó có một số công trình tiêu biểu như: Gia đình Việt Nam trong bối
cảnh đất nước đổi mới; Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân
gia đình giữa các thế hệ người Viêt Nam hiện nay; Cuộc sống và biến động của hôn
nhân, gia đình Việt Nam, v.v.. Trong cuốn Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất
nước đổi mới (2002) [113], GS Lê Thi đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh toàn
cảnh về gia đình Việt Nam hiện nay. Đó là những thay đổi về cấu trúc, quy mô,
chức năng, cũng như quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Trên cơ sở làm rõ
sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới và chuyển sang
thế kỷ XXI, tác giả còn đề cập tới vấn đề giáo dục trẻ em vị thành niên và những
bình đẳng trong quan hệ gia đình là những vấn đề rất cấp thiết hiện nay. Trong
công trình này, tác giả tập trung làm rõ vấn đề văn hoá ứng xử và tổ chức cuộc
sống gia đình với những phân tích chi tiết về hành vi ứng xử trong gia đình và
giao tiếp ngoài xã hội, quan niệm tự do, trách nhiệm, tổ chức cuộc sống và phát
huy truyền thống gia đình. Tác giả cũng đề cập đến việc đánh giá tư cách đạo
đức của con người thông qua những hành động cụ thể diễn ra trong sinh hoạt gia
đình. Theo tác giả, cách ăn nói, giao tiếp không phải là biểu hiện xã giao, bề
11
ngoài mà chứa đựng, thể hiện, phản ánh những quan niệm đạo đức, văn hoá nhất
định, những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục con cái trong gia đình.
Gia đình luôn đảm nhiệm các chức năng cơ bản đối với sự phát triển của xã hội,
tuy có những chức năng được Nhà nước, xã hội hỗ trợ một phần như việc nuôi
dạy con cái, chăm sóc người ốm, người già nhưng trong cuộc sống thường ngày,
gia đình luôn có vai trò quan trọng đối với việc giáo dục con cái, bảo đảm sự cân
bằng về tâm lý cho các thành viên, thoả mãn nhu cầu tình cảm của họ. Nhìn từ
phương diện này, rõ ràng còn nhiều bất hợp lý phải giải quyết, nhiều hành động
phải uốn nắn trong đời sống gia đình, trong quan hệ giữa các thành viên, giữa
người lớn và trẻ em trong bối cảnh đổi mới toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã
hội ở Việt Nam hiện nay.
Cuốn Xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới của Trần Hữu
Tòng - Trương Thìn (Chủ biên) (1997) [122], các tác giả đã khái quát thực tiễn xây
dựng gia đình văn hóa trong quá trình đổi mới ở nước ta. Trong bối cảnh đổi mới và
hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra sâu rộng, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc vị trí, vai
trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắc của xã hội, là môi trường lành
mạnh để xây dựng nguồn lực con người; coi xây dựng gia đình văn hóa là một trong
những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hy vọng rằng, trong thời gian tới, vị trí, vai trò của
diện chung nên các tác giả chưa đi sâu phân tích về vai trò, nội dung và phương
pháp giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình Việt Nam hiện nay.
Cuốn sách chuyên khảo Gia đình học của các GS.TS Đặng Cảnh Khanh - Lê
Thị Quý (2009) [58] là một công trình khoa học công phu, hệ thống, được biên soạn
dưới hình thức một giáo trình giảng dạy, nghiên cứu. Ngoài những nội dung mang
tính lý thuyết, các tác giả cũng trình bày rất nhiều tư liệu nghiên cứu, tổng kết thực
tiễn mà các tác giả đã trực tiếp khảo sát.
Từ quan niệm Gia đình học với tính cách một khoa học, các tác giả đã trình bày
cặn kẽ các khái niệm gia đình và gia đình học; vị trí, vai trò và chức năng của gia đình;
những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống. Các tác giả cho rằng, gia đình
Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn của sự nghiệp công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước. Thông qua số liệu thống kê từ những cuộc điều tra và nghiên
cứu cơ bản về gia đình Việt Nam, các tác giả đã phác họa những nét tổng quát về quy
13
mô, cơ cấu và những hình thức tổ chức vận hành của gia đình Việt Nam. Đồng thời các
tác giả đã đề cập tới vấn đề giáo dục gia đình và xã hội hóa cá nhân trên bình diện lý
luận và thực tiễn. Giáo dục gia đình hay còn gọi là gia giáo là cơ sở để tạo nên một
trong những hệ giá trị truyền thống quý báu của người Việt. Ngày nay, mặc dù hệ
thống giáo dục quốc dân đã phát triển mạnh mẽ nhưng vẫn không thể thay thế hoàn
toàn được giáo dục gia đình [58, tr. 262]. Thông qua việc phân tích những vấn đề về
nội dung và phương pháp giáo dục gia đình, các tác giả đã giúp chúng ta có cái nhìn
khát quát về thực trạng giáo dục gia đình ở Việt Nam hiện nay. Mặc dù không tiếp cận
dưới góc độ giáo dục đạo đức trong gia đình nhưng những phân tích và điều tra về giáo
dục gia đình, đặc biệt là việc giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình
Việt Nam sẽ là những tư liệu quý giúp tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vấn
đề giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay.
Công trình Kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 (2008) [19] do Bộ
đình, chẳng hạn như công tác giáo dục trước và sau hôn nhân, việc cung cấp các
kiến thức làm cha mẹ, giáo dục kỹ năng ứng xử của các thành viên trong gia đình,
cung cấp dịch vụ gia đình, v.v. chưa được coi trọng [104, tr. 7]. Nhiều gia đình còn
xem nhẹ việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ các thành viên, đặc biệt là phụ nữ, trẻ
em và người cao tuổi. Trong tình hình đó, nếu các gia đình không được hỗ trợ,
không được chuẩn bị đầy đủ về nhận thức, các điều kiện vật chất, tinh thần sẽ không
đủ khả năng đối phó với những biến động và sự thay đổi nhanh chóng của xã hội và
không làm tròn được chức năng của mình [104, tr. 7].
Đề tài cấp Bộ Tổng quan về xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2011 2020 (2012) [87] của Viện Khoa học xã hội Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Hữu
Minh làm chủ nhiệm. Công trình này đề cập đến nhiều vấn mang tính “thời sự”
của gia đình Việt Nam hiện nay, đó là mối quan hệ giữa vợ và chồng; vị thế và vai
trò của con cái trong gia đình; quan hệ cha mẹ - con cái vị thành niên; quan hệ
giữa người cao tuổi và con cháu; quan hệ gia đình và vấn đề tổ chức cuộc sống
trong những gia đình có vợ hoặc chồng di cư lao động. Những thay đổi trong các
mối quan hệ gia đình đang tác động mạnh mẽ đến giáo dục gia đình. Trên cơ sở
đánh giá thực trạng các mối quan hệ của gia đình, tác giả đã đưa ra một số giải
pháp để nâng cao chất lượng các quan hệ trong gia đình Việt Nam.
Tiếp cận gia đình dưới góc độ xã hội học có một số công trình như: cuốn
Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (1991) [64] do PGS Tương Lai
15
chủ biên đã trình bày khá rõ nét những đặc điểm của gia đình, đặc biệt có những nội
dung phân tích về gia đình và giáo dục gia đình của GS Trần Đình Hượu; phụ nữ
với chức năng giáo dục gia đình của GS Đặng Thanh Lê đã phân tích sâu sắc ảnh
hưởng của giáo dục gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con
người. Trong cuốn Xã hội học gia đình (2003) [14] của Mai Huy Bích, tác giả đã đi
sâu phân tích các kiểu loại gia đình trên thế giới và Việt Nam, các chức năng cơ bản
của gia đình, vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội.
Ma-ca-ren-cô đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ, ông cho rằng: việc giáo
dục thế hệ trẻ phải được bắt đầu ngay từ thời thơ ấu. Việc giáo dục trẻ ngay từ thời thơ
ấu không khó như nhiều người lầm tưởng và tất cả các bậc cha mẹ đều có thể làm
được, mặt khác, đó là một công việc lý thú, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chính
những người làm cha mẹ. Nếu trẻ em không được gia đình giáo dục ngay từ đầu thì
công việc cải tạo sẽ tốn hơn rất nhiều công sức không chỉ của gia đình, mà của toàn xã
hội. Kinh nghiệm giáo dục gia đình của A. Ma-ca-ren-cô vẫn có ý nghĩa rất lớn đối với
việc giáo dục trẻ em trong gia đình Việt Nam hiện nay.
Trong các công trình như: Dạy con yêu lao động (1980) [95] của I.A-Pê-secni-cô-va, Giáo dục con người chân chính như thế nào (1971) [144] và Giáo dục thái
độ cộng sản đối với lao động (1977) [145] của Xu-khôm-lin-xki, các tác giả nhấn
mạnh đến việc giáo dục lao động cho con cái trong gia đình. Muốn cho con cái của
chúng ta lớn lên được mạnh khỏe, vui tươi, yêu đời, yêu lao động và cống hiến được
nhiều cho xã hội thì lúc còn nhỏ, trẻ phải được giáo dục về lao động (lao động học
tập, lao động gia đình và lao động xã hội, v.v.), bởi các phẩm chất đạo đức được hình
thành ở trẻ, trước hết là trong quá trình lao động.
Các tác giả cho rằng, nội dung và phương pháp giáo dục gia đình rất phong
phú và đa dạng lại xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm để cảm hóa trẻ nên
giáo dục gia đình có ưu thế hơn so với giáo dục trong nhà trường và xã hội. Những
nghiên cứu chung về giáo dục gia đình của các tác giả nêu trên đến nay vẫn là
những tư liệu quý để nghiên cứu về giáo dục gia đình, đồng thời giúp các bậc cha
mẹ nhận thức đúng đắn hơn về nội dung và phương pháp giáo dục trẻ em.
Ở Việt Nam, trong những năm qua đã có một số công trình, bài viết của các nhà
giáo dục học, tâm lý học, xã hội học được công bố, đề cập khá sâu sắc đến công tác
giáo dục gia đình đối với trẻ em, tiêu biểu là các công trình: Khoa học giáo dục con
17
em trong gia đình (1979) [131] của Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương do Đức
Minh chủ biên. Cuốn sách này đã giới thiệu một số quan điểm về giáo dục xã hội chủ
Cuốn Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa (1996) của Lê Ngọc Văn
[132], tác giả đã nghiên cứu về những biến đổi, những thách thức và khó khăn đang
đặt ra trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa của gia đình Việt Nam. Trên có sở
đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chức năng xã hội hóa cho gia
đình Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả chỉ
đề cập đến vai trò giáo dục con cái trong gia đình nói chung, những biến đổi theo lát
cắt lịch đại, mà chưa đề cập đến những vấn đề cụ thể về vai trò, nội dung và phương
pháp giáo dục đạo đức của cha mẹ đối với con cái trong gia đình Việt Nam hiện nay.
Nghiên cứu Biến đổi chức năng của gia đình và giáo dục trẻ em hiện nay
(2006) [116], TS Hoàng Bá Thịnh đã nhấn mạnh vai trò của gia đình đối với sự phát
triển của trẻ em; sự biến đổi chức năng gia đình hiện nay và vấn đề giáo dục trẻ em.
Ngày nay trong phương pháp giáo dục con cái thì sự độc đoán, áp đặt đã giảm, tính
dân chủ trong mối quan hệ gia đình được tôn trọng, đề cao. Sự lạm dụng quyền uy
của cha mẹ giảm dần ở các gia đình đô thị và nếu so sánh giữa 2 giới thì người cha
thường nghiêm khắc và sử dụng quyền uy hơn người mẹ. Nghiên cứu của tác giả
cũng cho thấy, cha mẹ có trình độ văn hóa thấp cũng ảnh hưởng đến quá trình nuôi
dạy và giáo dục con cái. Chính sự nuông chiều con cái và buông lỏng quản lý là tiền
đề cho những hành vi phạm pháp trong giới trẻ hiện nay. Như vậy, thông qua công
trình này, tác giả đã khẳng định rất rõ vai trò của giáo dục gia đình trong việc định
hướng phát triển nhân cách của trẻ em. Giáo dục gia đình là cách tốt nhất để trang bị
cho trẻ một bộ lọc văn hóa trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường xã hội.
Nghiên cứu Mối quan hệ gắn bó giữa cha mẹ và con cái trong giáo dục gia
đình (2005) [27] của Phạm Khắc Chương đã đưa ra nguyên nhân chung về mối
quan hệ lỏng lẻo trong các gia đình hiện nay là do: sự phân công lao động đã tác
động mạnh mẽ đến gia đình, các thành viên trong gia đình làm những nghề nghiệp
khác nhau, quy chuẩn thời gian lao động khác nhau làm cho không gian và thời gian
gắn bó giữa cha mẹ và con cái thay đổi. Cha mẹ không có điều kiện, thời gian để
chăm sóc, giáo dục con cái, không hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của trẻ, do đó, việc
giáo dục trẻ gặp rất nhiều khó khăn. Sự gắn bó chặt chẽ giữa cha mẹ với con cái
khẳng định tính hiệu quả của hình thức giáo dục bằng tình thương chứ không phải
bằng roi vọt. Mặc dù không tập trung nghiên cứu vào nội dung giáo dục đạo đức
20
trong gia đình nhưng tác giả rất đề cao vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo
đức cho thế hệ trẻ. Tác giả cho rằng: Trong giáo dục gia đình, giáo dục đạo đức là
nội dung quan trọng nhằm xây dựng ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm đạo đức,
rèn luyện thói quen hành vi đạo đức và để mỗi thành viên trong gia đình được sống
trong môi trường giàu tình thương, đậm tính nhân văn. Như vậy, mục đích của giáo
dục đạo đức trong gia đình hướng tới sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế
hệ trẻ với những phẩm chất đạo đức như: lòng yêu Tổ quốc, yêu gia đình, kính trên
nhường dưới, thái độ đúng đắn với lao động và nghề nghiệp, lòng yêu thương con
người, tính trung thực, khiêm tốn, tính tự trọng, lòng dũng cảm, vượt khó khăn, v.v..
Thông qua những phân tích, đánh giá về vai trò của gia đình đối với việc giáo dục
thế hệ trẻ tác giả cũng chỉ ra những thuận lợi khó khăn của gia đình trong giáo dục
thế hệ trẻ trong tình hình hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của giáo dục gia đình.
Luận án Tiến sĩ Triết học Đổi mới việc thực hiện chức năng giáo dục gia
đình đối với thế hệ trẻ trong gia đình nông dân Việt Nam hiện nay (2003) của
Dương Văn Bóng [17]. Tác giả chủ yếu tập trung vào khách thể là gia đình nông
dân, những đặc điểm của gia đình nông dân chi phối đến việc giáo dục con cái của
các gia đình đó như thế nào. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả chia thành hai
mảng so sánh giữa gia đình nông dân truyền thống và gia đình nông dân hiện đại để
thấy được phương pháp, nội dung giáo dục có phần khác biệt theo chiều hướng tích
cực hơn, phù hợp với xã hội ngày nay. Tuy nhiên trong giáo dục gia đình nông dân
vẫn còn những hạn chế và tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân chủ quan và khách
quan, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gia đình
đối với thế hệ trẻ trong gia đình nông dân Việt Nam hiện nay.