Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tàI
Sông không nguồn thì sông cạn, cây không có rễ thì cây sẽ héo,con ngơì
không có thức ăn, nớc uống thì không thể sống và tồn tại Suy rộng ra trong
đó kinh tế cũng vậy, mỗi ngành kinh tế đều phải có một yếu tố đặc trng để tồn
tại và phát triển. Bên cạnh các yếu tố về kiến thức, khoa học kỹ thuật, thì với
các doanh nghiệp vốn là yếu tố quan trọng, cần thiết đầu tiên và bắt buộc phải
có ở bắt kỳ một doanh nghiệp nào ngay từ khi bắt đầu tiến hành quá trình sản
xuất kinh doanh.Số lợng vốn ở mỗi doanh nghiệp vừa là chỉ tiêu đánh giá quy
mô của doanh nghiệp, vừa thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trờng và sức mạnh
của doanh nghiêp. Trong quá trình hoạt động của mình, việc tăng lên không
ngừng của vốn là một dấu hiệu tốt đẹp về mức độ phát triển sản xuất, về hiệu
quả kinh doanh và cũng là một trong những mục tiêu lớn của tất cả các doanh
nghiệp.
ở Việt Nam, từ cuối những năm 1980, đầu 1990, nhà nớc đã thực hiện
chính sách chuyển đổi và phát triển kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN trong đó các thành phần kinh
tế khác nhau, các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ đợc bình đẳng, cùng tồn
tại và phát triển trong điều kiện của thị trờng. Từ đó cũng có sự chuyển đổi lớn
về hình thức huy động vốn từ chỗ đợc nhà nớc bao cấp là chủ yếu đến chỗ các
doanh nghiệp đều phải tự thân vận động, tự quyết định số phận của mình. Nhất
là trong điều kiện cạnh tranh nh hiện nay, vấn đề tranh thủ các nguồn vốn huy
động càng diễn ra quyết liệt giữa các doanh nghiệp. Hiện nay với cơ chế thông
thoáng khuyến khích rất nhiều doanh nghiệp mới thành lập. Khởi nghiệp _ một
chơng trình mới xuất hiện cũng là một nguồn tìm kiếm vốn cho các doanh
nghiệp trẻ khi mới bắt tay vào sản xuất kinh doanh. Hơn thế nữa, đối với các
doanh nghiệp, không chỉ tồn mãi với số lợng vốn ban đầu khi hình thành mà
trong quá trình sản xuất kinh doanh thờng xuyên đòi hỏi phải đợc bổ sung
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
I. Vốn, phân loại và vai trò của vốn.
1. Khái niệm: Vốn là gì ?
Trong lịch sử kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều cách hiểu
khác nhau do đó cũng có nhiều quan niệm khác nhau về vốn:
Trong bộ T bản Các Mác đã khái quát phạm trù vốn qua phạm trù T
bản. trong quá trình nghiên cứu sự chuyển hoá của tiền tệ thành thành T bản
CacMac đã kết luận Nh vậy là giá trị ứng ra lúc ban đầu không những đợc
bảo toàn trong lu thông mà còn thay đổi đại lợng của chúng, còn cộng thêm một
giá trị thặng d, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động ấy đã biến giá trị
đó thành T Bản
Vốn T bản là những tài sản có khả năng tạo ra tài nguyên và bản thân
nó cũng đợc tái tạo ra là quan điểm của các tác giả trong cuốn Từ điển kinh
tế thị trờng (KTTT)
Còn cuốn: Chú giải thuật ngữ kế toán Mỹ do các tác giả Hồ Văn Kim
Mộc và Điêu Quốc Tín biên soạn cho rằng: Vốn là: Tổng số tiền biểu hiện
nguồn gốc hình thành của tài sản đợc đầu t trong kinh doanh để tạo ra tài
nguyên và lợi tức
ở Việt Nam từ điển tiếng việt của viện ngôn ngữ viết: Vốn là Tổng
thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc ban đầu thờng biểu hiện bằng tiền dùng
trong sản xuất kinh doanh, nói chung trong hoạt động sinh lợi
Nhìnchung:
- Vốn là hình thái giá trị đợc biểu hiện bằng tiền.
- Vốn đợc biểu hiện bằng tiền nhng không phải tất cả tiền đều là vốn. Tiền
chỉ đợc hình thành thành vốn khi nó đợc sử dụng và mục đích đầu t hoặc kinh
doanh.Tiền tiêu dùng hàng ngày, tiền dữ trữ không phải là vốn.
Trong nền KTTT, vốn cũng là một hàng hoá, nó trở thành hàng hoá với
điều kiện: Vốn đợc sản xuất ra cho vay trong một thời gian nhất định và sẽ quay
trở về tay ngời chủ sở hữu khi đến thời gian đáo hạn và khi quay về vốn sẽ đem
theo một lợng giá trị lớn hơn, phần lớn hơn này đợc gọi là lợi tức.
Vốn đợc thể hiện bằng tiềm năng và lợi thế vô hình. Tiềm năng và lợi thế
Y: Sản lợng đầu ra (GDP hay GNP)
K: Vốn
L: Lao động
R: Tài nguyên
T: Tiến bộ kĩ thuật và công nghệ.
Trong nền KTTT các biến số trực tiếp tạo ra giá trị sản lợng (đầu ra) chịu
sự điều tiết của mối quan hệ cung cầu. Một số đầu vào thì ảnh hởng tới mức
cung, một số thì ảnh hởng tới mức cầu. Sự cân bằng cung cầu _ do giá cả thị tr-
ờng điều tiết sẽ tác động trở lại các luồng đầu vào dẫn tới kết quả sản lợng nền
kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn các nớc chậm phát triển và đang phát triển cung
cha đáp ứng đợc cầu. Sự gia tăng sản lợng phải bắt nguồn từ việc gia tăng các
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
yếu tố đầu vào sản xuất theo quan hệ hàm số giữa sản lợng với vốn, lao động,
đất đai, nguyên liệu, kĩ thuật và công nghệ. Hàm số nói lên sản lợng tối đa có
thể sản xuất đợc t uỳ thuộc vào lợng các yếu tố đầu vào trong điều kiện trình độ
kĩ thuật và công nghệ nhất định
Trong các yếu tố tác động đến kết quả sản xuất có bao nhiêu luồng đầu
vào và vốn đóng vai trò nh thế nào trong sự gia tăng sản lợng ?
Sự gia tăng sản lợng phụ thuộc vào sự gia tăng các yếu tố đầu vào theo
quan hệ giữa sản lợng với vốn, lao động, đất đai, nguyên liệu, kĩ thuật và công
nghệ. Nếu nhìn theo cách mở rộng hơn, nguồn vốn để tăng trởng sản lợng trong
một nớc gồm nhiều loại vốn: vật t kĩ thuật, tiền tệ, lao động, tri thức khoa học
trong đó tiền tệ là nguồn vốn bao trùm nhất do những lý do sau:
Thứ nhất: Vốn sản xuất biểu hiện dới hình thái tiền tệ cùng với các yếu tố
sản xuất khác để tạo ra sản phẩm hàng hoá (đầu ra) trong điều kiện năng suất
lao động không đổi thì tăng số vốn sẽ làm tăng sản lợng.
Thứ hai: lao động là một yếu tố sản xuất, yếu tố đầu vào trong sản xuất
cũng giống nh các yếu tố khác đợc tính bằng tiền trên cơ sở giá cả sức sức lao
động đợc hình thành do thị trờng quy định. Lao động không đơn thuần chỉ là số
thực hiện việc luân chuyển vốn của mình.
Sơ đồ quá trình luân chuyển vốn của doanh nghiệp:
H-T liệu sản xuất
T - - - Sản xuất - - - H T
Quá trình nàybắt đầu từ một lợng vốn dới hình thái tiền tệ đợc doanh
nghiệp ứng ra sau đó lần lợt thay đổi hình thái,tơng ứng với quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp;từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hàng
hoá là t liệu sản xuất của sức lao động - hình thái sản phẩm dở dang - hình thái
sản phẩm - hình thái tiền tệ,sau khi doanh nghiệp thực hiện xongviệc tiệu thụ
sản phẩm trong dịch vụ của mình trên thị trờng Nh thế vốn của doanh nghiệp đã
đợc thực hiện một vòng tuần hoàn và tiếp tục quá trình luân chuyển.
Lợng tiền thu đợc T phải > T ban đầu nghĩa là:t=T+t,điều nàycó thể hiểu
là trong sản xuất kinh doanh tiền đã đẻ ra tiền hay nói cách khác vốn bỏ ra để
sản xuất kinh doanh phải bù đắp đợc vốn ban đầu đã bỏ ra và sinh ra lợi nhuận,
đây là điều kiện cần thiết để việc sản xuất kinh doanh đợc tiến hành liên tục.Đó
cũng là mục tiêu mà tất cả các doanh nghiệp đặt ra khi bắt đầu tiến hành sản
suất kinh doanh.Nếu không làm đợc điều này doanh nghiệp sẽ đi vào con đờng
thua lỗ, sẽ bị phá sản,sẽ tự xoá tên mình ra khỏi thị trờng cạnh tranh.
Trớc đây trong nền kinh tế bao cấp, các doanh nghiệp chỉ quan tâm chủ
yếu đến việc hình thành vợt mức kế hoạch. Sự bao cấp tràn lan về vốn, sự can
thiệp hành chính quá mức của các cơ quan chủ quản cấp trên vào quá trình sản
xuất kinh doanh đã làm cho các doanh nghiệpkhông có điều kiện phát huy tính
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của dơn vị
mình dẫn đến việc sử dụng vốn kém hiệu quả.
Trong điều kiện hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự cạnh
tranh cuả các thành phần kinh tế, vốn kinh doanh có tính chất quyết định đến sự
thành công hay thất bại của các doanh nghiệp trên thị trờng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
H-Sức lao động
hình thức tạo vốn của các doanh nghiệp là một trong những nguồn gốc quyết
định tới thế mạnh của từng loại hình doanh nghiệp trong điều kiện KTTT. Nhng
nhìn chung nguồn hình thành vốn cho doanh nghiệp từ ba nguồn sau: Vốn chủ
sở hữu, vốn tín dụng, vốn các doanh nghiệp chiếm dụng lẫn nhau.
1. Vốn chủ sở hữu.
Để bắt đầu hoạt động khi thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải
đầu t một số vốn nhất định đó là vốn chủ sở hữu. Loại vốn này đóng vai trò
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, góp phần hình thành tài sản ban
đầu của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nhà nớc (thuộc sở hữu nhà nớc) nguồn vốn tự có ban
đầu chính là vốn đầu t của ngân sách nhà nớc.
Trong công ty t nhân chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần
thiết để xin đăng kí thành lập doanh nghiệp. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu
phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là một yếu
tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công
ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy
nhiên các công ty cổ phần cũng có một số hình thức khác nhau, do đó cách thức
huy động vốn cổ phần cũng khác nhau.
Trong thực tế, vốn tự có của chủ doanh nghiệp thờng lớn hơn nhiều so với
vốn pháp định nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh. Bao
gồm cổ phần phát hành thêm hoặc ngân sách cấp thêm trong quá trình hoạt
động, lợi nhuận tích luỹ, thặng d vốn các quỹ .
Cổ phần phát hàng thêm, ngân sách cấp thêm: doanh nghiệp có thể phát
hành thêm cổ phần (thông thờng hoặc u đãi), hoặc xin cấp thêm vốn ngân sách
để mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp, chống đỡ rủi ro.
Lợi nhuận bổ sung vốn chủ sở hữu: Đối với các công ty cổ phần, lợi nhuận
sau thuế sau khi bù đắp các khoản chi phí đặc biệt, thờng đợc chia làm hai
Tuỳ theo tính chất và mục đích sử dụng, ngân hàng cũng có thể phân loại
vay thành các loại nh: vay đầu t tài sản cố định, vay vốn lu động, vay để phục
vụ dự án. Cũng có nhiều cách phân chia khác nhau nh: theo ngành kinh tế, theo
lĩnh vực phục vụ hoặc theo hình thức đảm bảo của khoản vay.
Các doanh nghiệp cũng thờng khai thác nguồn vốn tín dụng thơng mại hay
còn gọi là tín dụng của ngời cung cấp. Nguồn vốn hình thành một cách tự nhiên
trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hat trả góp. Nguồn vốn tín dụng
thơng mại có ảnh hởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp và cả đối
vối toàn bộ nền kinh tế. Trong một số công ty, nguồn vốn tín dụng thơng mại d-
ới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có
thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn.
Nguồn vốn tín dụng thơng mại là một phơng thức tài trợ rẻ, tiện dụng và
linh hoạt trong kinh doanh; mặt khác nó còn khả năng mở rộng các quan hệ
hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể đợc
ấn định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung. Tuy
nhiên cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thơng mại khi quy mô
tài trợ vợt quá giới hạn an toàn.
Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất của
các khoản vay, đó là chi phí lãi vay. sẽ đợc tính tính vào giá thành sản phẩm
hay dịch vụ. Khi mua bán hàng hoá trả chậm chi phí này có thể ẩn dới hình
thức thay đổi mức giá, tuỳ thuộc quan hệ và thoả thuận cụ thể giữa các bên.
Trong xu hớng hiện nay ở Việt Nam cũng nh trên thế giới các hình thức tín
dụng ngày càng đa dạng hoá và linh hoạt hơn, với tính chất cạnh tranh hơn; do
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho
hoạt động của doanh nghiệp.
3. Vốn các doanh nghiệp chiếm dụng lẫn nhau.
Bên cạnh các nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay ngân hàng, các doanh
nghiệp cũng thờng xuyên tranh thủ vốn của nhau. Thông qua các hợp đồng kinh
vốn vào doanh nghiệp đóng vai trò nh một chủ đầu t.
Nhờ đổi mới chính sách, thời gian qua doanh nghiệp đạt đợc một số thành
tựu,sản xuất gia tăng, cơ chế thông thoáng, quy mô ngày càng đợc mở rộng.
Tuy nhiên không phải là không có những tồn tại. Tình hình quản lý và sử dụng
vốn cho khu vực kinh tế quốc doanh không khả quan do số vốn bình quân một
doanh nghiệp là rất nhỏ. Số vốn của doanh nghiệp nhà nớc lại càng trở nên nhỏ
bé và mỏng manh hơn khi đối chiếu giữa vốn chủ sở hữu và tình hình công nợ
của doanh nghiệp. Vốn đã ít, công nợ lại nhiều, số vốn phải trả của doanh
nghiệp nhà nớc thờng cao hơn rất nhiều số vốn của doanh nghiệp.
Vấn đề nan giải nhất với các doanh nghiệp vẫn là vấn đề thiếu vốn. Các
doanh nghiệp nhà nớc quy mô vốn còn quá nhỏ nên muốn làm việc gì cũng khó
khăn. Hầu hết các doanh nghiệp thiếu vốn trung và dài hạn nhng tỉ lệ vốn vay
trung và dài hạn thấp kể cả trong nớc và ngoài nớc.
Hơn nữa vốn huy động nhiều khi không đợc sử dụng đúng mục đích, khi
vay vốn còn cha tính đến chi phí sử dụng vốn vay vì do nhà nớc vẫn còn chính
sách u đãi về lãi suất nên sử dụng vốn vay kém hiệu quả do các doanh nghiệp
còn cha cố gắng, nỗ lực hết mình, còn dựa dẫm vào nhà nớc.
Hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc trong trạng thái thiếu vốn nghiêm trọng
các doanh nghiệp nhà nớc nhất là những doanh nghiệp nhà nớcđịa phơng không
có khả năng đầu t chiều sâu, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại để
nâng cao năng suất. Do vậy mà tình hình công nợ và khả năng thanh toán của
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
khu vực doanh nghiệp này còn cha đợc tốt. Các khoản nợ phải trả chiếm khoảng
70% - 80% vốn kinh doanh của doanh nghiệp và gần gấp hai lần số nợ phải thu.
Vấn đề bảo toàn và phát triển vốn ít đợc nhà nớc coi trọng và cha thực sự
đợc quan tâm nhiều nên hậu quả với doanh nghiệp là vốn mất dần, thất thoát tài
sản và hiệu quả sử dụng thấp.
2. Thực trạng về huy động vốn của kinh tế t nhân.
Tốc độ phát triển của khu vực kinh tế t nhân tăng lên nhanh chóng sau khi
tự chủ, không còn dựa dẫm quá mức vào ngân sách nhà nớc cấp nữa. Vốn đầu t
của nhà nớc chỉ tập trung vào những khâu xung yếu nhất nhằm ổn định môi tr-
ờng kinh tế vĩ mô, mở rộng các ngành, các vùng các lĩnh vực kinh tế có liên
quan đến cả quốc gia, dân tộc chủ yếu là đầu t cho các công trình giao thông
công cộng: xây dựng cầu,đờng trên cơ sở đó giải quyết các vấn đề xã hội và
tạo nhiều công ăn việc làm cho ngời lao động, khắc phục nguy cơ bị quá tải khi
nền kinh tế có tốc độ tăng trởng cao. Với mục đích đó vốn của nhà nớc chỉ tập
trung đầu t cho:
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: hệ thống điện, nớc, giao thông,
thuỷ lợi, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học .
Đầu t vào các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và các lĩnh vực kinh tế
mũi nhọn, công nghệ mới đem lại lợi ích cho quốc gia
Đầu t khai thác các loại tài nguyên, nhiên vật liệu quan trọng: dầu khí,
than, thép, xi măng, phân bón .
Đầu t cho quốc phòng để sản xuất những sản phẩm thuộc lĩnh vực quốc gia
Đầu t cho các dự án giải quyết việc làm, phủ xanh đất trống núi đồi trọc,
đánh bắt hải sản, một số cơ sở công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản và dịch
vụ xuất khẩu .
Vốn đầu t tập trung từ kênh ngân sách nhà nớc bao gồm 2 phần: phần cấp
phát trực tiếp từ ngân sách nhà nớcvà phần tín dụng đầu t u đãi.
Ngân sách nhà nớc chỉ cấp phát cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội không có hoặc khó có thể thu hồi vốn trực tiếp nhng lại đóng
vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp nớc ngoài đầu t vào
Việt Nam và cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc có môi trờng
sản xuất kinh doanh thuận lợi.
Một phần vốn đợc chuyển thông qua hình thức tín dụng đầu t với lãi suất u
đãi: chính phủ cho vay với lãi suất thấp, ổn định với thời gian tơng đối dài.
Hiện nay nguồn vốn huy động cho đầu t phát triển qua kênh ngân sách nhà
nớc tỷ trọng đã giảm dần so với trớc kia. Việc nhà nớc đầu t từ ngân sách chỉ
nhằm vào những ngành mũi nhọn, các lĩnh vực mang tính chất định hớng cho