BÁO CÁO THỰC TẾ CTXH CÁ NHÂN
I. ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ THỰC TẾ
1. Tên cơ sở kiến tập: Trung tâm dạy nghề nhân đạo tạo việc làm cho trẻ em
tàn tật Việt Nam (hay còn gọi là Trung tâm Nhân đạo Linh Quang).
2. Địa chỉ: Số nhà 25 ngách 48 ngõ Linh Quang phường Văn Chương quận
Đống Đa Hà Nội.
3. Vài nét về trung tâm
Ở Hà Nội hiện có khá nhiều cơ sở dạy nghề nhân đạo cho người tàn
tật. Tuy nhiên, có một trung tâm khá đặc biệt, do một cá nhân tự xây dựng
và duy trì các hoạt động, đó là Trung tâm Nhân đạo Linh Quang.
Trung tâm là một tổ chức phi chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận, được
thành lập năm 1993 theo Quyết định số 91 QĐ – TC ngày 18 tháng 01 năm
2001 của TW HCTTETTVN với tên gọi là: Trung tâm dạy nghề nhân đạo –
tạo việc làm cho trẻ em tàn tật, trực thuộc TW hội cứu trợ trẻ em tàn tật Việt
Nam. Đến ngày 19/11/2009 Trung tâm dạy nghề nhân đạo – tạo việc làm
cho trẻ em tàn tật chính thức chuyển hoạt động sang TW Hội Chữ Thập Đỏ
với tên gọi: Trung tâm dạy nghề nhân đạo tạo việc làm cho trẻ em tàn tật
Việt Nam.
Hơn 30 năm qua Trung tâm không ngừng phát triển, đã trợ giúp và dạy
nghề, tìm kiếm việc làm miễn phí cho hơn 10.000 học sinh khuyết tật, mồ
côi, lang thang cơ nhỡ, trợ giúp và tìm kiếm việc làm miễn phí cho hàng
chục ngàn lượt người nghèo ở các tỉnh về thủ đô tìm cuộc sống. Trợ giúp,
dạy nghề và tìm kiếm việc làm cho hàng ngàn phụ nữ và trẻ em bị bạo hành
gia đình, phụ nữ trẻ em bị bán ra nước ngoài khi họ được trở về quê hương,
phụ nữ và trẻ em bị xâm hại tình dục. Nhận được nhiều giấy khen, bằng
khen của Đảng và Nhà nước, đã được các cơ quan chức năng thông tấn báo
Báo cáo kiến tập
1
Tổ chức Công đoàn:
- Bà Trần Thị Bích Vân – Chủ tịch
- Ông Nguyễn Xuân Khu – P.chủ tịch
- Bà Lê Thị Nhã - Ủy viên
- Bà Lê Thị Hảo – TB nữ công
Tổ chức đoàn thanh niên
- Nguyễn Trung Kiên – Bí thư
- Trần thị Hường – Phó bí thư
- Nguyễn Thị Hải - Ủy viên
Các mô hình hoạt động của trung tâm:
Trung tâm có 05 phòng ban và 02 đoàn thể:
+ Có 02 lớp học, một xưởng thực hành ở tại đ/c số: 25/48 Ngõ Linh
Quang – Quận Đống Đa – TP. Hà Nội.
+ Một văn phòng tìm kiếm việc làm miễn phí cho người lao động
khuyết tật, lao động nghèo theo tinh thần nghị định 81 của Chính Phủ.
Hiện nay trung tâm tạo chỗ ăn ở và dạy nghề cho khoảng 60 đối
tượng. Các học viên được trung tâm cho ăn ở, dạy nghề (chủ yếu là nghề
may và tin học văn phòng) miễn phí trong vòng ba tháng. Các em khi thạo
nghề được giới thiệu việc làm ở nơi khác, hoặc làm tại trung tâm với thu
Báo cáo kiến tập
3
nhập trung bình từ hai đến ba triệu đồng/tháng. Bởi trung tâm còn liên kết
với các nhà sản xuất, các doanh nghiệp để nhận hợp đồng cho các em làm,
giúp các em có thu nhập nuôi bản thân mình và giúp đỡ gia đình. Bên cạnh
đó trung tâm đã liên hệ với các trung tâm giáo dục thường xuyên của các
quận để các em theo học văn hóa.
yếu thế trong xã hội, đang gặp khó khăn về những vấn đề liên quan đến đời
sống kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế…mà họ chưa có phương hướng
giải quyết. Với sự giúp đỡ của khoa địa bàn thực tập cho đợt kiến tập là
những trung tâm bảo trợ xã hội cho các đối tượng như: người già, người
khuyết tật, trẻ em,...
2. Hoạt động 2: Tìm và tiếp cận thân chủ
Để tìm và tiếp cận thân chủ thì việc đầu tiên em làm là gặp gỡ và làm
quen với địa bàn thực tập. Cụ thể, trong buổi làm việc đầu tiên em đã cùng
giảng viên hướng dẫn và cả nhóm gặp gỡ và làm quen với ban quản lí Trung
tâm Dạy nghề nhân đạo tạo việc làm cho trẻ em tàn tật Việt Nam hay còn
được gọi là Trung tâm nhân đạo Linh Quang, em đã được tham quan và
nghe giới thiệu về trung tâm, về tình hình hoạt động hiện nay của trung tâm.
Sau khi làm quen và nhận được lịch làm việc từ kiểm huấn viên em
trực tiếp xuống trung tâm.
- Gặp gỡ và nói chuyện với các đối tượng ở các phòng học và phòng
thực hành để giới thiệu bản thân và công việc sẽ làm ở trung tâm.
- Khoanh vùng phạm vi tìm và lựa chọn thân chủ của mình là ở phòng
học may váy cưới.
- Sau khi khoanh vùng, em vận dụng các kĩ năng và phương pháp đã
học xác định và tiến hành tiếp cận thân chủ.
Báo cáo kiến tập
5
Bên cạnh đó thu thập thông tin liên quan đến thân chủ từ nhiều nguồn thông
tin khác nhau: từ phía kiểm huấn viên, từ hồ sơ của thân chủ…
3. Hoạt động 3: Thu thập và phân tích thông tin liên quan đến thân chủ
Trong quá trình thực tập em đã tiến hành việc thu thập thông tin liên quan
đến thân chủ nhằm phục vụ cho quá trình lập kế hoạch trợ giúp cho thân
nguyên nhân, trường cấp III thì cách xa nhà em quá (hơn 5km), em không
muốn tiếp tục làm phiền mọi người phải đưa em đi học (đặc biệt là em trai
em vì em trai đang là lứa tuổi mới lớn thích giao du đi chơi với bạn bè), em
không muốn đi xe máy giành cho người khuyết tật vì sợ ánh mắt của người
khác nhìn vào. Trước đó em đã có ý định nghỉ học sẽ tới trung tâm học nghề.
Em nghỉ học suốt ngày ở trong nhà vì mẹ em không muốn em đi ra ngoài sợ
em gặp chuyện không hay. Ở nhà em cũng thường xuyên nấu cơm giúp gia
đình. Nhưng do mâu thuẫn thậm chí là xung đột giữa bố mẹ ngày càng
thường xuyên hơn cộng với em luôn có tâm lí tự ti, nghĩ mình là gánh nặng
của gia đình đã tạo áp lực rất lớn cho em. Em rất sợ phải chứng kiến mâu
thuẫn gia đình càng không muốn nhìn mẹ khóc. Em đã từng nghĩ nếu em
tiếp tục ở nhà em sẽ phát bệnh mất. Mặt khác em luôn mong muốn học được
một nghề để tự nuôi sống bản thân. Vì chính những điều này mà em càng
quyết tâm tới trung tâm để học nghề. Việc em quyết định đi học nghề đã bị
bố mẹ phản đối gay gắt, nhất là bố em. Đây cũng là lần đầu tiên em dám cãi
lại ý của bố. Nhờ họ hàng khuyên nên bố cũng đồng ý cho em đi. Tuy nhiên
ở tỉnh của em chỉ có trung tâm dành cho người khuyết tật trí não và trung
tâm dành cho người khuyết tật vận động nhưng phải là đối tượng con của
người có công. Nhờ có người quen giới thiệu nên cách đây 4 tháng em được
bố mẹ đưa đến trung tâm. Em dần dần thích nghi với môi trường ở trung
Báo cáo kiến tập
7
tâm, em còn được người chị họ làm việc gần trung tâm giúp đỡ rất nhiều.
Em học may váy cưới tuy nhiên do chân yếu nên việc học may của em rất
khó khăn. Ở trung tâm em được mọi người quan tâm, giúp đỡ rất nhiều nhất
là những bạn ở cùng phòng với em. Em cũng cảm thấy vui hơn rất nhiều vì
hoạch có hiệu quả hay không. Nếu có hiệu quả thì tiếp tục thực hiện và
ngược lại nếu không có kết quả thì kịp thời chỉnh sửa lại kế hoạch. Quá trình
lượng giá cần phải có sự tham gia của thân chủ vì hơn ai hết thân chủ hiểu
kế hoạch trợ giúp có tác động như thế nào đến mình.
IV. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ SỞ, CHUYÊN NGÀNH ĐƯỢC VẬN
DỤNG.
Lí thuyết là là một hệ thống tri thức, là một tập hợp khái niệm để giải
thích bản chất của sự vật.
Bất kì khoa học nào cũng có lí thuyết của nó, CTXH cũng có hệ thống
lí thuyết riêng. Nó đóng vai trò là phương pháp luận, là công cụ hưỡng dẫn
cho thực hành CTXH có hiệu quả.
CTXH có hệ thống lí thuyết riêng của ngành CTXH nhưng bên cạnh
đó còn vay mượn lí thuyết của một số ngành liên quan như: Xã hội học, triết
học, tâm lí học, nhân chủng học, gia đình học, pháp luật, y học…Vì vậy mới
nói lí thuyết CTXH là lí thuyết liên ngành.
Trong đợt kiến tập này nhằm mục đích tạo điều kiện cho sinh viên vận
dụng lí thuyết của môn học CTXH cá nhân vào thực hành nhưng bên cạnh
đó sinh viên cũng cần phải biết vận dụng kết hợp với hệ thống lí thuyết của
các ngành liên quan, nó rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy trong quá trình vận
dụng cần phải nghiên cứu cụ thể, vận dụng linh hoạt, phù hợp với từng hoàn
cảnh.
Báo cáo kiến tập
9
1. Các lí thuyết liên quan
Trong đợt kiến tập này em đã vận dụng các lí thuyết như: Lí thuyết
hệ thống, lí thuyết sinh thái, lí thuyết nhu cầu, lí thuyết thân chủ trọng tâm, lí
đình (đặc biệt là bố mẹ em), bạn bè (bao gồm cả bạn bè ở trung tâm và bạn
cùng lớp trước đây), họ hàng, người chị họ, trung tâm.
1.2 Lí thuyết sinh thái
Sinh thái là các yếu tố thuộc về vật sống và môi trường sống. Đây là lí
thuyết đi kèm với lí thuyết hệ thống trong việc tìm hiểu nghiên cứu đối
tượng trong mối tương quan với các yếu tố xung quanh.
Mỗi một cá nhân tồn tại không thể tách rời khỏi một môi trường hoàn
cảnh cụ thể. Cá nhân là một yếu tố của môi trường và chịu sự tác động của
môi trường. Trong mối quan hệ tương tác đó hình thành hai xu thế là cá
nhân cải tạo môi trường để phù hợp với bản thân hoặc cá nhân đó sống hoàn
toàn phụ thuộc vào môi trường.
Trong thực hành, em luôn đặt thân chủ vào hệ thống sinh thái mà thân
chủ đang sống để nghiên cứu xem thân chủ thuộc vào xu thế nào trong hai
xu thế trên. Cụ thể, trước đây ở nhà có thể thấy gia đình em là gia đình gia
trưởng và em luôn luôn nghe theo lời của bố mẹ, đặc biệt là bố em vì em rất
sợ bố, không dám cãi lại. Tuy nhiên em cũng có phản kháng, đó là khi bố mẹ
em muốn em đi học bằng xe lăn nhưng em kiên quyết không đi hoặc là khi
em học hết lớp 9, em quyết định nghỉ học ở nhà mặc dù bố muốn em tiếp tục
đi học, khi em quyết định đi học nghề bố mẹ em hoàn toàn phản đối nhưng
em vẫn kiên quyết đi.
1.3 Lí thuyết nhu cầu
Báo cáo kiến tập
11
Nhu cầu là những mong muốn của con người phù hợp với điều kiện khách
quan. Nhu cầu là thước đo của sự phát triển.
Abraham Maslow (1908- 1970) chia nhu cầu của con người thành 5
thì thân chủ trả lời vì không được ra ngoài nhiều nên không biết có những
nghề gì và cũng không biết bản thân thích nghề gì…Vận dụng lí thuyết này
trong lúc trò chuyện với thân chủ em luôn dùng những lời khích lệ, động
viên thân chủ chia sẻ và nêu ra ý kiến của mình. Chẳng hạn: Em đừng tự ti
như thế, chưa thử thì làm sao biết được kết quả, chị thấy em đính hoa khéo
như thế thì em sẽ học thêu được thôi. Hoặc: ai cũng có điểm mạnh và điểm
yếu, không có ai là toàn diện cả. Bản thân em cũng như thế nhưng em chỉ
chú ý tới điểm hạn chế mà không nhận ra điểm mạnh của bản thân mình mà
thôi.
1.5 Lí thuyết động năng tâm lí
Thuyết động năng tâm lí được hình thành trên cơ sở học thuyết phân
tâm của Freud (1856 – 1939). Thuyết động năng tâm lí giải thích nguồn gốc
của hành vi con người. Thuyết này đề cập đến hai yếu tố giải thích nguồn
gốc của hành vi của thuyết phân tâm: ảnh hưởng của yếu tố vô thức và quá
trình tâm trí của con người. Tuy coi hai yếu tố này là nền tảng nhưng cũng
nhẫn mạnh không kém đến yếu tố xã hội. Đây là một trong những thành
phần cơ bản của quan điểm sinh thái. Thuyết quan tâm đến mối tương tác
qua lại giữa hành vi con người và môi trường. NVXH vận dụng thuyết này
có thể sử dụng các phương pháp sau để làm việc với cá nhân :
- Khơi thông cảm xúc: giúp thân chủ bộc lộ những cảm xúc tiêu
cực dang bị dồn nến trong long.
- Điều chỉnh lai các mối quan hệ.
Báo cáo kiến tập
13
Trong quá trình thực hành em cũng đã vận dụng lí thuyết này để quan
sát diễn biến tâm lí hành vi của thân chủ và phân tích vai trò của môi trướng
2.3 Gia đình học
Vận dụng kiến thức của môn học gia đình học em có thể xác định được
gia đình của thân chủ là một gia đình gia trưởng thông qua một số chi tiết
thân chủ đã chia sẻ. Trong gia đình bố em luôn là người quyết định mọi
công việc và muốn mọi người phải làm theo ý mình. Có những lúc quyết
định làm một việc gì đó mẹ em luôn hỏi ý kiến của bố em trước nhưng do
không để ý lúc làm xong bố mới cho rằng mẹ tự ý quyết định mà không hỏi
ý kiến của bố. Những lúc như thế gia đình lại nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí
là xung đột.
Vận dụng thuyết tương tác biểu trưng để hiểu rõ được mối quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình thân chủ. Chẳng hạn: những lúc thấy bố
đi đâu về mà nhìn mặt trầm xuống là biết bố đang tức giận, không ai dám
nói gì…
2.4 Hành vi con người và môi trường xã hội
Trong qúa trình thực hành em đã vận dụng kiến thức của môn học này để
phân tích ảnh hưởng của môi trường sống của thân chủ và nghiên cứu xem
phản ứng của thân chủ ngược trở lại môi trường như thế nào. Thân chủ sẽ
phản ứng theo xu hướng nào, chấp nhận hay là cải tạo môi trường cho phù
hợp với bản thân. Cụ thể em đã phân tích sự tác động của hai môi trường là
ở gia đình và môi trường ở trung tâm. Qua những thông tin thu thập được có
thể thấy môi trường sống đã tác động rất lớn đến thân chủ (vì dụ: môi trường
gia đình luôn bao bọc, bảo vệ em, không muốn em ra ngoài sợ em bị tổn
thương chính vì vậy mà em sống càng ngày càng khép kín, ít tiếp xúc vời
Báo cáo kiến tập
15
người ạ) và phần lớn thân chủ theo xu hướng thứ nhất là chấp nhận. Tuy
nhiên có lúc thân chủ phản ứng lại như quyết định nghỉ học, quyết định đi
gàng, sạch sẽ. Khi em chia sẻ về gia đình mình nhất là khi nói về người mẹ
của mình em nói nhiều hơn hết, ngừng làm việc để kể về mẹ em, ánh mắt
không khỏi tự hào. Qua đó có thể thấy mẹ là người có ảnh hưởng rất lớn đến
em. Trong quá trình lên kế hoạch giúp đỡ thân chủ cần phải đặc biệt quan
tâm tới mối quan hệ này.
3.3 Kĩ năng lắng nghe tích cực
Kĩ năng lắng nghe tích cực đó là việc NVXH chú tâm vào lắng nghe
những lời nói, biểu hiện và những trạng thái cảm xúc của thân chủ và phản
hồi lại những gì mình nghe được trong khi tiếp xúc với thân chủ. Những
phản hồi của NVXH trong khi nghe được thể hiện qua những hành vi không
lời , chẳng hạn như giao tiếp bằng mắt, cơ thể và lời nói mà nó chứa đựng sự
thấu cảm, tôn trọng, ấm áp, tin tưởng, chân thành và chân thật.
Mục đích của lắng nghe là hiểu lời nói và cảm nghĩ của người nói
càng chính xác càng tốt, cho nên NVXH cần rất tập trung lắng nghe. Người
nghe phải chú ý đến những gì được nói ra và thậm chí cả những gì không
được nói ra, những gì không được đề xuất. Lắng nghe là một hoạt động được
thực thi một cách có ý thức đối với NVXH, hơn thế nữa nó còn là mọt khía
cạnh thực hành nguyên tắc chấp nhận.
Nghe tích cực với hai mục đích: Thứ nhất, thông tin với người khác
với sự nồng nhiệt , tiếp nhận những thông tin không bằng lời và chúng ta
hiểu, chia sẻ,sẵn sàng giúp đỡ người đó. Thứ hai, giúp cho người nói tự hiểu
mình hơn.
Báo cáo kiến tập
17
Để lắng nghe một cách đầy đủ, NVXH không chỉ thụ động nhận thông
tin, mà phải là người chủ động tham gia trong quá trình trao đổi thông tin,
tuy không vận dụng phổ biến như kĩ năng lắng nghe nhưng lại rất hiểu quả
đối với thân chủ. Chẳng hạn: chị biết những lúc chứng kiến việc bố mẹ mâu
thuẫn với nhau em rất buồn và đau khổ thậm chí có lúc em hận bố mình.
Thêm vào đó trong thâm tâm của mình em luôn nghĩ mình chính là nghuyên
nhân khiến cho bố mẹ ngày càng mâu thuẫn với nhau. Hoặc: chị hiểu cảm
giác của em khi mới đến đây, buồn, tủi thân và có lúc cảm thấy sợ hãi.
3.5 Kĩ năng đặt câu hỏi
Hỏi là một quá trình tương tác giữa người nêu vấn đề và người trả lời
nhằm làm sang tỏ vấn đề đó. Đây là một phương pháp thu thập thông tin một
cách chi tiết về vấn đề đang tồn tại, về những mối quan hệ cũng như mong
muốn của thân chủ. Câu trả lời của thân chủ chính là một bức tranh tương
đối toàn diện về cuộc đời và nhu cầu của chính họ.
Đặt câu hỏi trong CTXH nói chung và trong CTXH cá nhân nói riêng
với mục đích không chỉ tập trung vào khai thác những thông tin bề nổi có
liên quan đến sự kiện của thân chủ mà còn đi sâu khai thác, làm rõ những
thông tin ẩn chứa đằng sau vấn nạn của thân chủ.
Đặt câu hỏi cũng là cả một nghệ thuật, trước khi đưa ra câu hỏi cho
thân chủ thì NVXH phải tự trả lời một số câu hỏi như: có cần phải hỏi
không? hỏi với mục đích gì? Sẽ đặt câu hỏ bằng cách nào? Liệu câu hỏi
mình nêu ra có cản trở quá trình trò chuyện hay không? Vì vậy đòi hỏi
NVXH phải khéo léo, nhảy cảm, biết lựa chọn loại câu hỏi cho phù hợp.
Trong thực hành em đã kết hợp các loại câu hỏi và đã thu được nhiều
thông tin quan trọng về thân chủ.
3.6 Kĩ năng soạn thảo văn bản
Báo cáo kiến tập
19
Đây là kĩ năng dùng để viết báo cáo, cần phải thành thạo các thao tác tin học
dụng những phương pháp và kĩ năng sau:
Kĩ năng tạo lập mối quan hệ với thân chủ: Kĩ năng tạo lập mối quan
hệ là khả năng NVXH thiết lập quan hệ công việc với đối tượng để đối
tượng có cảm giác an toàn và tin cậy, sẵn sàng chia sẻ với NVXH. Để tạo
lập mối quan hệ thì ngay từ giây phút ban đầu tiếp xúc, gặp gỡ, NVXH phải
biết cách chào hỏi,giới thiệu làm quen.
Kĩ năng tóm tắt và diễn giải: Tóm tắt và diễn giải những gì thân chủ
chia sẻ à không được bóp méo thông tin.
Kĩ năng quan sát, kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng giao tiếp, kĩ
năng đặt câu hỏi, kĩ năng thấu hiểu được vận dụng trong quá trình tiếp cận
thân chủ như đã phân tích ở trên.
Phương pháp thu thập thông tin: tiến hành thu thập thông tin về thân
chủ và vấn đề của thân chủ từ nhiều nguồn thông tin khác nhau.thứ nhất,
quan sát thái độ, hành vi, biểu hiện của thân chủ và những người liên quan.
Thứ hai, phỏng vấn (vấn đàm) là một phương pháp thu thập thông tin quan
trọng, trước khi tiến hành phỏng vấn cần xác định mục đích,mục tiêu,các
bước và kĩ năng cần thiết cho cuộc phỏng vấn. Thứ ba, tìm hiểu thông tin về
thân chủ thông qua hồ sơ từ trung tâm, hỏi thông tin từ những người liên
quan như kiểm huấn viên, người chị họ…
2.2 Tóm tắt quá trình tiếp cận thân chủ
Báo cáo kiến tập
21
Để tiếp cận thân chủ việc đầu tiên cần làm là làm quen với môi trường
sống của thâ chủ. Vì vậy công việc đầu tiên em làm đó là lam quen với trung
tâm. Em đã có một buổi tham quan và được nghe giới thiệu về trung tâm
cùng cả nhóm và giáo viên hướng dẫn.
hệ thống kiến thức của CTXH nói chung và kiến thức của môn CTXH
cá nhân nói riêng. Bên cạnh đó em còn được các thầy cô truyền đạt lại
kinh nghiệm khi đi thực tế.
- Trong qúa trình tiếp cận thân chủ em luôn nhận được sự quan tâm,
chỉ dẫn nhiệt tình của giảng viên hưỡng dẫn.
- Về phía trung tâm, trung tâm rất nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho
em hoàn thành tốt đợt thực hành. Đặc biệt là sự giúp đỡ của anh Kiên
– kiểm huấn viên, anh đã sắp xếp thời gian hợp lí tạo điều kiện cho
chúng em có nhiều thời gian tiếp xúc thân chủ hơn, anh luôn hỏi thăm
tình hình, tiến độ của từng người, luôn nhiệt tình giải đáp những khúc
mắc và truyền đạt lại những kinh nghiệm quý báu cho chúng em.
- Về phía thân chủ: em học may nên công việc chỉ ngồi một chỗ nên
việc tiếp xúc, nói chuyện thuận lợi hơn. Mạt khác em là một cô gái
dịu dàng, dễ gần nên việc chia sẻ sẽ dễ dàng hơn.
Khó khăn:
- Đây là đợt kiến tập đầu tiên tuy đã được thầy cố hướng dẫn cụ thể nhưng
bản thân em rất lo lắng, hồi hộp, bỡ ngỡ, chưa có kinh nghiệm làm việc tại
một môi trường mới.
Báo cáo kiến tập
23
- Hệ thống lí thuyết rất nhiều làm cho trong quá trình vận dụng ít nhiều vẫn
còn khó khăn, lúng túng.
- Thân chủ tuy là người dễ gần, dễ nói chuyện song em cũng rất tự ti vì vậy
có những vấn đề riêng tư em rất ngại chia sẻ.
- Thời gian và không gian sinh hoạt và làm việc của thân chủ hạn chế nên
em rất ít khi trò chuyện riêng với thân chủ, hạn chế quá trình thu thập thông
Báo cáo kiến tập
25