ĐẶC TRƯNG của CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC QUA NHÂN vật CHÍ PHÈO của NAM CAO - Pdf 31

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI DƯƠNG
TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN TRÃI

CHUYÊN ĐỀ
ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC QUA NHÂN VẬT CHÍ
PHÈO CỦA NAM CAO

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hà

Hải Dương, 8/2014
MỤC LỤC
I.PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….3
II.PHẦN NỘI DUNG………………………………………………………………….5
1.Giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực và đặc trưng cơ bản…………………………5
1.1. Khái niệm…………………………………………………………………………..5
1.2.Thời điểm ra đời…………………………………………………………………….6
1.3.Đặc trưng điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực……………………………….7
1


2.Nhân vật điển hình Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên cuả Nam Cao.....................9
2.1. ”Chí Phèo” với các tác phẩm cùng giai đoạn.........................................................9
2.2.Chí Phèo – điển hình cho nỗi khổ về vật chất và nỗi đau về tinh thần của người
nông dân..........................................................................................................................10
2.3.Chí Phèo- sự sáng tạo độc đáo của Nam Cao……………………………………..12
2.4. Mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh..............................................................17
3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình Chí Phèo của Nam Cao.......................18
3.1.Kết cấu cốt truyện.....................................................................................................18
3.2.Tổ chức điểm nhìn trần thuật...................................................................................19
3.3.Ngôn ngữ…………………………………………………………………………...19
III.KẾT LUẬN…………………………………………………………………………20

phán qua tác phẩm cụ thể - một tác phẩm được học trong chương trình THPT, có ý nghĩa
quan trọng trên văn đàn văn học. Đồng thời vận dụng chuyên đề này để cung cấp kiến
thức lí luận, hướng dẫn học sinh thâm nhập vào một khía cạnh của một tác phẩm được
coi là kiệt tác của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 30-45. Học sinh qua
đây sẽ có kĩ năng vận dụng kiến thức lí luận vào việc phân tích khía cạnh của những tác
phẩm khác. Và điều quan trọng nữa khi thực hiện chuyên đề này, khi xã hội bây giờ có
những giá trị nghiêng ngả, lung lay theo thời cuộc thì việc giaó dục học sinh có niềm tin
vào bản tính “nhân chi sơ tính bản thiện” của con người là điều cần thiết để từ đó sẽ bao
dung, cảm hóa những lầm đường lạc lối.

3


II.PHẦN NỘI DUNG
1.Giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực và đặc trưng cơ bản
1.1. Khái niệm
Về tên gọi đến nay còn nhiều tranh cãi. Trong “Từ điển văn học” Trần Đình Sử
( chủ biên) đã đưa ra hai cách hiểu về thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực. Theo nghĩa rộng
thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực được hiểu là mối quan hệ giữa tác phẩm và hiện thực đời
sống bất kể đó là tác phẩm thuộc trường phái, khuynh hướng văn nghệ nào. Với ý nghĩa
này, khái niệm chủ nghĩa hiện thực gần như đồng nhất với khái niệm sự thật đời sống, vì
tác phẩm văn học nào cũng mang tính hiện thực. Tuy nhiên cách hiểu này chưa mang
4


màu sắc rõ nét của chủ nghĩa hiện thực để phân biệt với chủ nghĩa lãng mạn hay chủ
nghĩa cổ điển…Cũng theo nhóm tác giả đó, thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa hẹp
chỉ một phương pháp hiện thực, một khuynh hướng, trào lưu văn học có nội dung chặt
chẽ, sắc sảo được xác định bởi nguyên tắc mĩ học riêng.
Trong cuốn “Lí luận văn học” do nhóm tác giả Phương Lựu, Trần Đình Sử,

nhiều ý kiến về dấu mốc ra đời của chủ nghĩa hiện thực. Có người cho rằng nguyên tắc
phản ánh hiện thực chủ nghĩa hình thành từ thời cổ đại và trải qua các giai đoạn phát triển
lịch sử như Cổ đại, Phục hưng, Ánh sáng, thế kỉ XIX…Một số khác thì cho là chủ nghĩa
hiện thực xuất hiện từ thời Phục hưng. Nhiều người khẳng định chủ nghĩa hiện thực hình
thành từ khoảng những năm 30 của thế kỉ XIX.
Theo “Bách khoa toàn thư” những tác phẩm có tính hiện thực hay giá trị hiện thực
đã xuất hiện từ lâu trước khi có chủ nghĩa hiện thực tuy nhiên chủ nghĩa hiện thực với tư
cách là một trào lưu, một phương pháp hoàn thiện chỉ xuất hiện vào thế kỉ XIX ở các
nước như Anh, Pháp, Ý, Nga sau đó lan rộng ra các nước khác trên thế giới. Và “Bách
khoa toàn thư” khẳng định rằng bài tiểu luận đầu tiên có tính chất lí luận về chủ nghĩa
hiện thực được viết bởi nhà lí luận Pháp Săngflory vào năm 1857.
Dù rằng các ý kiến còn tranh cãi nhưng không thể phủ nhận được rằng chủ nghĩa
hiện thực có đời sống lịch sử phát triển cụ thể và vào những năm 40 của thế kỉ XIX trở đi
chủ nghĩa hiện thực trong văn học đã bước sang một giai đoạn phát triển hoàn chỉnh và
rực rỡ, mang cảm hứng phân tích mới về hiện thực đó là phê phán. Từ đây chủ nghĩa hiện
thực mang tên mới: chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Ở Việt Nam, những tác phẩm của văn học trung đại như Truyện Kiều, Chinh phụ
ngâm, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến…đã phơi bày hiện thực
khách quan của cuộc sống. Phải đến Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn…mới khơi dòng
cho khuynh hướng hiện thực khi các tác phẩm thể hiện màu sắc phong tục, nếp sống của
một số miền đất, một số người. Đến khoảng những năm 30 của thế kỉ XX cây bút hiện
thực phê phán Nguyễn Công Hoan là người bắt đầu đi theo khuynh hướng tả chân, lấy
cuộc sống hiện thời, lấy cái đã và đang xảy ra làm nội dung tác phẩm. Và từ những năm
1930 đến trước 1945 khuynh hướng văn học hiện thực phát triển rầm rộ, quy mô, nhiều
cây bút tài năng đã xuất hiện như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp…và

6


Nam Cao được đánh giá là người có công đưa văn học hiện thực lên một trình độ mới,


Trong ”Phòng trưng bày vật cổ” Banzac đã cho rằng ”Muốn vẽ một hình tượng đẹp thì
mượn dùng cánh tay của người mẫu này, chân của người mẫu kia, ngực của người mẫu
nọ và đôi vai của người mẫu khác nữa”. Nhờ sự khái quát hóa ấy, tính cách nhân vật sẽ
”tiêu biểu cho các giai cấp và các trào lưu nhất định, do đó, tiêu biểu nhất định cho các tư
tưởng nhất định của thời đại”. (Angghen).
Bên cạnh tính chung, khái quát hóa, nhân vật điển hình phải có tính riêng, cá thể
hóa cao độ, khiến nhân vật vừa quen vừa lạ. Cá thể hóa nhân vật không phải là để nhân
vật làm những việc độc đáo kì lạ mà bản chất, tính cách riêng của nhân vật vẫn được bộc
lộ thông qua cách làm độc đáo đối với những sự việc bình thường. Khi có tính cá thể hóa
nhân vật tự thân trở nên sinh động, hấp dẫn, chẳng thế mà các nhà hiện thực nổi tiếng
luôn ám ảnh về nhân vật của mình, như Nguyễn Công Hoan khắc khoải về người nông
dân điêu đứng vì nạn tranh cướp ruộng đất của bọn cường hào ác bá, còn Ngô Tất Tố day
dứt với số kiếp long đong lận đận vì nạn sưu thuế của người nông dân. Đến Nam Cao –
đại diện xuất sắc cho chủ nghĩa hiện thực phê phán giai đoạn 30-45 ám ảnh về người
nông dân không chỉ rơi vào cảnh bần cùng hóa mà đau đớn hơn khi bị lưu manh hóa, tha
hóa về nhân cách. Như vậy, nếu như tính chung đòi hỏi nhà văn dám xông vào giữa cuộc
đời để nắm bắt thì tính riêng đòi hỏi nhà văn có khả năng phân tích, xử lý những biến thái
tinh vi trong tâm lý nhân vật. Để hình tượng mang tính khái quát hóa nhà văn cần có vốn
sống phong phú nhưng để hình tượng độc đáo, sinh động thì đòi hỏi nhà văn phải có khả
năng sáng tạo.
Để xây dựng được chân dung điển hình vừa mang cái riêng sắc nét, vừa mang cái
chung khái quát cao, là sự thống nhất của tính cá thể hóa và khái quát hóa, nhà văn luôn
có ý thức đặt nhân vật trong quan hệ nhiều chiều, trong hoàn cảnh cụ thể, trong cái nhìn
vừa tương phản, vừa tương đồng tạo ra tính đối thoại sâu sắc.
2.Nhân vật điển hình Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên cuả Nam Cao
2.1. ”Chí Phèo” với các tác phẩm cùng giai đoạn
Trong văn học hiện thực phê phán 1930-1945 đã xây dựng những nhân vật nông
dân mang số kiếp long đong, khốn khổ như tiểu thuyết ”Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng,
”Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, ”Nhà bố Nấu” của Nguyên Hồng, ”Bước đường cùng” của

như một chiếc chìa khoá để nhà văn khám phá cuộc đời, đề tài xây dựng nên một nhân
vật điển hình không chỉ của một xã hội mà đó là điển hình của cả một nhân loại: Người
9


nông dân hiền lành, lương thiện, giàu lòng tự trọng và có ước mơ trong sáng, nhưng sống
trong cái xã hội " Quần ngư tranh thực" họ đã bị đẩy đến bước đường cùng: "Làm quỷ thì
sống mà làm người thì tất yếu phải chết".
2.2.Chí Phèo – điển hình cho nỗi khổ về vật chất và nỗi đau về tinh thần của người
nông dân
Chí Phèo là điển hình cho nỗi đau về vật chất của người nông dân. Hành trang
bước vào đời của Chí là một số O tròn trĩnh: là một đứa con hoang, không cha, không
mẹ, không một tấc đất cắm dùi. Đến năm hai mươi tuổi Chí Phèo làm canh điền cho nhà
Bá Kiến, tiếp tục cuộc sống làm kiếp trâu ngựa của người cố nông lao động nghèo khổ ở
nông thôn. Đến lúc có tài sản là một túp lều cuối làng thì Chí cũng đã phải chà đạp biết
bao số phận khốn khổ khác, được lấy từ nỗi đau của người khác. Nam Cao đã để Chí phát
biểu một câu tiêu biểu cho nỗi khổ cùng cực của người nông dân dưới chế độ thực dân
phong kiến ”Xin cụ cho con đi ở tù. Ở tù mới có cơm mà ăn”. Thật đau xót khi có miếng
ăn Chí phải giành giật, dọa nạt, đâm thuê chém mướn, xin đi ở tù và cuối cùng phải bán
dần, bán lẻ nhân hình, nhân tính của mình. Chị Dậu khổ nhưng chị còn được làm người
mà Chí muốn sống trong làng ”quần ngư tranh thực” ấy thì phải trở thành con quỷ dữ.
Chí Phèo đã trượt dài trên con đường tha hóa. Đọc ”Tắt đèn” cảm thông sâu sắc với nỗi
khổ đè nặng trên đôi vai gày yếu, nỗi đau xé lòng của chị Dậu, tưởng như chị đã là nỗi
đau tột cùng nhưng khi Chí Phèo với tiếng chửi tục tĩu, khuôn mặt đầy vết sẹo, bước chân
khật khưỡng đi trên những dòng văn của Nam Cao ta mới thấy rằng đó là kẻ khốn cùng
nhất của nông dân Việt Nam ngày trước. Nam Cao đã khái quát được một quy luật mà
các tác phẩm hiện thực phê phán khác chưa đề cập được đó là hiện tượng người nông dân
bị đẩy vào con đường lưu manh hóa.
Những tưởng đã cùng cực với nỗi đau về vật chất thì Chí Phèo còn là điển hình
cho nỗi đau về tinh thần của người nông dân. Chị Dậu trong ”Tắt đèn” phải bán con bán

đến mức tột cùng của sự bi thảm. Như vậy theo Nam Cao con người đau khổ nhất không
phải là đói cơm rách áo mà là bị đồng loại ruồng bỏ.
Với Chí Phèo, Nam Cao đã khái quát được những vấn đề bức xúc của con người
trong thời đại 30-45. Ngật ngưỡng bước ra từ trang văn của Nam Cao, Chí Phèo là điển
hình cho số phận của bao người dân An Nam xưa. Trong làng Vũ Đại không chỉ có một
mình Chí Phèo mà còn có những Năm Thọ, Binh Chức bị xô đẩy vào con đường tội lỗi
11


như là hiện tượng đầy ám ảnh về sự thật tàn nhẫn ”tre già, măng mọc, bao giờ hết những
thằng du côn”. Và hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện đầu cuối tác phẩm góp phần cùng với
điển hình Chí Phèo đã khái quát một hiện tượng xã hội trước cách mạng, hiện tượng có
tính quy luật khủng khiếp: chừng nào còn áp bức bóc lột nặng nề chừng ấy những người
dân lương thiện sẽ bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Tuy nhiên hình ảnh đó
cũng gợi về một cách kết thúc chưa hoàn kết, chưa xong xuôi gợi ra mâu thuẫn, xung đột
chưa kết thúc. Nó gợi nhiều suy tư về hiện thực xã hội, về thân phận người nông dân
trong thời kì xã hội trước cách mạng tháng Tám.
2.3.Chí Phèo- sự sáng tạo độc đáo của Nam Cao
Nếu như chỉ dừng lại xây dựng Chí Phèo với những điển hình cho nỗi đau khốn
cùng của người nông dân đẩy dần họ vào tăm tối, u mê, vào con đường phải thành “đầu
trộm đuôi cướp” mới tồn tại được thì chắc rằng tác phẩm ấy, nhân vật ấy sẽ không có sức
sống lâu bền như thế. Bản thân Nam Cao luôn trăn trở về nghề viết văn của mình, luôn
tâm niệm một điều tác phẩm có giá trị là khi nhà văn biết “biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi
những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có...”Ông không chấp nhận cái
nhìn giản đơn đối với hiện thực cuộc sống, luôn khai thác thế giới nội tâm sâu kín của
nhân vật “phát giác sự vật ở những bề chưa thấy, ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa”
(Chế Lan Viên). Với nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã làm được điều đó – là sự sáng tạo
độc đáo của người nghệ sĩ luôn ấp ủ hoài bão với nghề. Ông đã dùng tình thương để cảm
hóa kẻ lầm đường ấy và để thức tỉnh xã hội vô tình. Ông đã tìm thấy và khẳng định bản
chất lương thiện đẹp đẽ, bền vững của con người, ngay cả khi họ đã vùi dập tới mức méo

tác phẩm văn học Việt Nam lại chửi như Chí “Hắn vừa đi vùa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ
rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi
hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi
ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng tự nhủ: “Chắc nó trừ mình ra”.
Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế
hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ
kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không?” Với bài chửi độc đáo của mình
Chí Phèo đã tỏ ra rất tỉnh táo giữa những cơn say. Hắn đã sắp xếp các đối tượng mình
chửi theo một trật tự đầy ý nghĩa: “từ trời, đến đời, đến cả làng Vũ Đại, đến đứa nào
không chửi nhau với hắn...”Đây là một trật tự từ cao tới thấp, từ xa tới gần, từ trừu tượng
13


vu vơ đến cụ thể trực tiếp. Thật ra, Chí Phèo đang cố gắng đi tìm ai là kẻ đã đẩy đời mình
đến nông nỗi này. Hắn muốn có lời giải đáp cho câu hỏi: “đứa chết mẹ nào đẻ ra cái
thằng Chí Phèo?”Qua tiếng chửi không có người đáp lại của Chí, ta hình dung ra một số
phận khốn khổ. Chí Phèo là một kẻ không cha, không mẹ, lại bị cả làng Vũ Đại ruồng bỏ.
Không ai thèm lên tiếng đáp lại hắn. Chí tự chửi, tự nghe. Điều ấy chứng tỏ hắn là một kẻ
lạc loài, là một số phận vô cùng cô đơn trong xã hội làng Vũ Đại. Trong tiếng chửi của
Chí Phèo vừa có nỗi uất hận, vừa có một nhu cầu tha thiết. Chí mong có người chửi lại
mình cũng có nghĩa là muốn được mọi người đối xử với mình như với một con người.
Chí Phèo cứ trượt dài trên con đường tha hóa của mình nếu như không gặp thị Nở.
Thị Nở là một sáng tạo nghệ thuật của Nam Cao. Thị cũng là một công trình nhỡ tay của
tạo hóa. Tuy thuộc về phái đẹp nhưng thị lại có tất cả những gì mà một người phụ nữ
không bao giờ muốn có. Mối tình giữa thị và Chí Phèo không phải là mối tình của hai kẻ
nửa người nửa ngợm như nhan đề “đôi lứa xứng đôi” mà một nhà xuất bản đã đặt tên. Đó
là một tình yêu thông thường vì có đầy đủ các cung bậc như của tình yêu như gặp gỡ - tỏ
tình – cầu hôn – thất tình. Thậm chí đây còn là tình yêu đẹp vì nó làm cho hai cuộc đời
trở nên tốt đẹp hơn. Từ khi gặp thị Nở, Chí Phèo dần dần từ con vật trở lại kiếp con
người. Lần đầu tiên hắn thấy “sợ rượu”, cũng là lần đầu tiên hắn tỉnh rượu để nghe thấy

vào xã hội loài người. Thị như một thứ đồ phế thải của làng Vũ Đại nhưng khi Chí Phèo
nhặt lấy, định coi là của riêng mình thì họ lại xông đến cướp lại. Làng Vũ Đại chủ yếu là
những người nông dân thất học, đầy những thành kiến định kiến độc ác mà bà cô thị Nở
là người đại diện phát ngôn đã tuyên bố thẳng thừng “Ai lại đi lấy cái thằng Chí Phèo”.
Cánh cửa duy nhất để hắn có thể trở về với xã hội loài người đã đóng sập. Chí định trở lại
con đường cũ, bản tính lưu manh trỗ dậy nhưng hương vị tình thương của bát cháo hành,
nhân tính vừa thức dậy đã ngăn hắn lại. Trong cơn tuyệt vọng, hắn lấy rượu ra uống
nhưng lần này lạ thay “càng uống càng tỉnh”. Hắn không thấy hơi rượu mà cứ thoang
thoảng thấy hơi cháo hành. Hương vị của tình người cứ ám ảnh dày vò Chí. “Hắn ôm mặt
khóc rưng rức” những giọt nước mắt của Chí lúc này chứng tỏ nhân tính đã trở về trọn
vẹn trong hắn.
Chí Phèo đến nhà Bá Kiến sau khi uống rất nhiều rượu. Hành động của Chí lúc
này đã được Nam Cao khắc họa rõ nét. Lúc đầu Chí định đến nhà Thị Nở nhưng không
hiểu sao chân hắn lại đưa hắn đến nhà Bá Kiến. Có lẽ trong sâu thảm tiềm thức hắn đã
15


nhận ra kẻ hủy hoại đời mình chính là Bá Kiến chứ không phải bà cô thị Nở. Chí đã đi
chệch đường nhưng đúng hướng. Bá Kiến có lúc cả giận mất khôn đã cư xử với Chí như
một con vật, đã mỉa mai khát vọng lương thiện của Chí. Vừa đau đớn, vừa căm giận, Chí
trợn mắt lên, dõng dạc đòi lại cái quý nhất của đời mình đã bị Bá Kiến cướp mất. “Tao
muốn làm người lương thiện”. Chí cũng tỉnh táo nhận ra tình thế bế tắc của mình. Hắn
chỉ rõ hai nguyên nhân đẩy hắn vào bước đường cùng “Ai cho tao lương thiện?” chính là
ám chỉ Bá Kiến, kẻ đã đẻ ra con quỷ dữ làng Vũ Đại. “Làm thế nào cho mất được những
mảnh chai trên mặt này?” chính là ám chỉ những định kiến tàn ác của xã hội làng Vũ Đại
đã chặn đứng khát vọng hoàn lương của Chí. Để bảo toàn tính người vừa trở về Chí đã
hành động đột ngột nhưng hoàn toàn logic: đâm chết Bá Kiến và sau đó tự sát. Bá Kiến
chết đau đớn đúng với quy luật kẻ gieo gió gặt bão. Hành động này dự báo mâu thuẫn
giữa hai tầng lớp nông dân và địa chủ trong xã hội Việt Nam đã gay gắt tới mức không
điều hòa nổi. Người ta thấy cách mạng tháng 8 có mầm mống từ tia chớp của lưỡi dao

Quan hệ tương đồng: Chí Phèo/ Thị Nở; Chí Phèo với người làng Vũ Đại (đều là
người nông dân bị áp bức, bóc lột); Chí Phèo với Năm Thọ, Binh Chức; Bá Kiến với các
phe cánh khác như Đội Tảo; Thị Nở với Bà cô và dân làng Vũ Đại… Như thế ngay trong
những quan hệ tương phản có những tương đồng và ngay trong những con người tương
đồng lại có những mâu thuẫn gay gắt. Các mối quan hệ của nhân vật trong tác phẩm rất
phức tạp, đan chéo, chằng chịt. Tương phản hay tương đồng chỉ ở một khía cạnh và ở cái
nhìn, cách cảm nào mà thôi. Khi nhân vật được nhìn từ nhiều điểm, nhiều ý kiến, nhiều
sự cảm khác nhau sẽ tạo ra một chân dung điển hình, toàn vẹn trong sự đối thoại sâu sắc.
và đánh giá hình tượng Chí Phèo cũng không thể quy chụp giản đơn theo một cái nhìn
nào. Bởi Chí là con người đa tư cách, một nhân vật sống với tất cả những đặc điểm chân
thực, đa dạng nhất.
Trước hết là quan hệ Chí Phèo với làng Vũ Đại, với xã hội. Quan hệ này cũng
không đơn giản vì làng Vũ Đại như quê hương của Chí, nuôi dưỡng Chí. Nhưng cũng
chính làng Vũ Đại, với những định kiến nặng nề, cố hữu đã khước từ Chí, không cho Chí
một con đường trở về. Và đến lượt Chí, hắn cũng khiến cho cả làng Vũ Đại khiếp sợ,
sống không yên ổn bởi những tội ác, những vụ cướp phá, mưu hại. Làng Vũ Đại cho Chí
một hy vọng là Thị Nở nhưng lại nhanh chóng cướp đi bằng những phát ngôn của bà cô
thị. Cái làng quê này – “mảnh đất quần ngư tranh thực” không cho chí một con đường
17


sống nào khi ở tù ra, không một tấc đất cắm dùi, không cha mẹ, người thân… và đẩy hắn
làm tay sai cho Bá Kiến, đẩy hắn vào sự lựa chọn duy nhất để tồn tại: phải liều lĩnh để
mạnh, và muốn liều thì phải say. Như thế, Chí Phèo vừa là nạn nhân của hoàn cảnh,
không chỉ là những áp bức, bóc lột mà còn cả do môi trường sống quần ngư tranh thực và
định kiến nặng nề. Nhưng Chí cũng làm cho cái hoàn cảnh ấy thêm nhiều căng thẳng,
cùng cực.
Bên cạnh đó, các nhân vật khác như Bá Kiến, bà cô thị Nở… đều là những con
người xây dựng, củng cố cái hoàn cảnh sống theo những cách của mình. Rất ít nhân vật
trong tác phẩm chống lại hoàn cảnh, muốn làm thay đổi hoàn cảnh. Chỉ có Chí, thị chống

ngược lại. Vì vậy, nó tạo nên cấu trúc đa giọng, đa thanh: có giọng khách quan của người
trần thuật, giọng nhân vật, giọng nửa nhân vật, nửa người kể chuyện. Như thế, luôn luôn
có sự chuyển dịch từ cái nhìn bên ngoài vào cái nhìn bên trong nhân vật. Chính vì vậy,
nhân vật được cảm nhận sâu sắc, không chỉ là các yếu tố ngoại hiện mà còn có các yếu tố
nội tâm, những ước mơ thầm kín, những góc khuất sâu tẳm của tâm linh. Và do đó, người
đọc có cách tiếp cận đa chiều, để có thể lý giải hiện thực và những số phận của người
nông dân trong tác phẩm, đồng cảm với tư tưởng nhân đạo của nhà văn.
3.3.Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của Nam Cao sống động, khỏe khoắn, tinh tế, uyển chuyển, chỉ có thể là ngôn
ngữ của một nhà văn đã gắn bó sâu sắc với cuộc sống lam lũ của người lao động. Như
trong tiếng chửi của Chí Phèo – một người nông dân lương thiện bị lưu manh hóa khác
với Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng –một kẻ lưu manh hóa theo kiểu thành thị thì ngôn
ngữ của Chí mang đậm chất nông dân. Nhà văn đã dùng rất nhiều khẩu ngữ, thậm chí
dùng những từ thô tục, suồng sã như “chửi trời”, “chửi đời”, “chửi cha đứa nào”, “mẹ
kiếp”...Khẩu ngữ được đánh giá là “máu của văn xuôi nghệ thuật”, quả là rất đúng với
trường hợp Nam Cao. Thứ ngôn ngữ mọc lên từ bùn đất làm cho câu văn của Nam Cao
có vẻ “ít đồ trang sức”, nhưng chính nhờ thế mà nó sống động và lột tả được một cách
chân thực tính cách nhân vật Chí Phèo.
III.KẾT LUẬN
Chí Phèo là đại diện cho người nông dân An Nam thời thuộc địa bị bần cùng hóa
và lưu manh hóa nhưng cũng là một sáng tạo độc đáo của nhà văn Nam Cao. Ông khẳng
định tình thương cứu rỗi con người, khẳng đinh bản chất lương thiện, bền vững của con
người ngay cả khi bị vùi dập đến méo mó cả nhân hình và nhân tính. Việc nghiên cứu
nhân vật điển hình Chí Phèo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao mở ra cách tiếp
19


cận mới với tác phẩm Chí Phèo nói riêng và tác phẩm văn học nói chung. Giáo viên
giảng dạy sẽ linh hoạt truyền thụ kiến thức với từng đối tượng học sinh. Với học sinh học
ban cơ bản, tiếp cận tác phẩm “Chí Phèo” từ góc độ nhân vật điển hình sẽ bao quát, thâu

tác phẩm văn học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc, Phương Ngân (tuyển chọn và biên soạn), 2003,
NXB Văn hoá thông tin.
2.Lí luận văn học, Trần Đình Sử (chủ biên), 2007, NXBĐHSP
3.Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 1992,
NXBGD.
4.Tuyển tập tác phẩm Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, 2010, NXBVH.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status