A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn là môn học rất quan trọng trong nhà trường THPT bởi nó
không chỉ dạy cho các em kiến thức mà còn giáo dục đạo đức, nhân cách và cả
kĩ năng sống cho các em sau này. Nhưng có một thực trạng đáng buồn là hiện
nay, các em học sinh đang mất dần hứng thú về môn học này. Thực trạng trên
hội tụ rất nhiều nguyên nhân và đang được giới chuyên môn bàn luận, nghiên
cứu. Chuyên đề này không đi sâu nghiên cứu thực trạng đáng buồn đó mà chỉ
đưa ra một số giải pháp để tìm lại niềm đam mê cho các em về môn học này mà
thôi.
Nâng cao chất lượng dạy học nói chung và nâng cao chất lượng môn Ngữ
văn trong nhà trường THPT nói riêng là yêu cầu bức thiết không chỉ của ngành
Giáo dục mà của toàn xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay. Trong thời đại
bùng nổ và phát triển thông tin như vũ bão, thật sai lầm khi người thầy bắt
người học sinh phải nhớ, phải thuộc nguyên xi những kiến thức mà mình đã
truyền đạt vì điều này hạn chế tư duy khái quát và khả năng sáng tạo của học
sinh.
Giờ đây, học sinh sẽ không còn khổ sở vì phải học theo kiểu: cứ đến giờ
đi học, thì cầm tập lên lớp, giáo viên cứ đọc và học sinh cứ chép, về học thuộc.
Học sinh sẽ được học theo phương pháp giảng dạy mới với phương châm lấy
học sinh làm trung tâm. Để thực hiện được điều này, giáo viên phải kết hợp
nhiều phương pháp dạy học một cách linh hoạt sao cho phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Đặc biệt là tìm lại hưng phấn, hứng thú
cho các em trong một giờ dạy. Đó chính là thành công của một giáo viên tâm
huyết trong một giờ dạy Ngữ văn.
Với mục đích đem lại sự hưng phấn, thích thú cho học sinh, đặc biệt là
làm cho các em thật sự động não, nói ra những suy nghĩ, những trăn trở thậm
1
chí phải tranh luận để đi đến chân lí của nhận thức, tôi đã có một mong muốn,
một mục đích tác động nhất định. Chính mục đích tác động này đòi hỏi sự tư
duy của các chủ thể tham gia vào cuộc đối thoại.
Như vậy, đối thoại là sự trao đổi kết quả tư duy của mình đối với người
khác. Cho nên không có kết quả của tư duy thì không có đối thoại, không có
giao tiếp. Ngược lại, đối thoại còn là cơ sở của phương pháp tư duy, phương
pháp nhận thức. Tư duy theo nguyên tắc đối thoại là một hướng tư duy nhằm
phát triển nội dung tri thức cần tiếp nhận. Trong dạy học tác phẩm văn chương,
thông qua ngôn ngữ, giáo viên hướng học sinh tiếp nhận tác phẩm bằng việc tổ
chức các cuộc đối thoại giữa học sinh với thế giới nghệ thuật trong tác phẩm,
với các nhân vật, các sự kiện, tình tiết trong tác phẩm với tác giả để từ đó học
sinh có thể khám phá tác phẩm, hiểu nội dung tác phẩm một cách cặn kẽ. Từ
những hiểu biết trên, sau đây tôi xin cung cấp một số quan điểm mới về đối
thoại.
1.
Đối thoại là một hoạt động giao tiếp bằng lời
3
Trước hết ta hiểu đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người
với nhiều mục đích khác nhau, trong những ngữ cảnh khác nhau. Trong bất cứ
cuộc đối thoại nào cũng gồm ba vận động chủ yếu: sự trao lời, sự trao đáp và
trong cuộc đối thoại đó, các nhân vật đối thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động
qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau. Với cách hiểu này, trong dạy học,
những giờ dạy chỉ có tiếng nói của thầy giáo giảng bài, truyền đạt thông tin,
thuyết giảng, không có tiếng nói của học sinh mà học sinh chỉ có nhiệm vụ lắng
nghe và ghi chép. Giờ dạy như vậy sẽ rất nhàm chán và chỉ gọi là giờ độc thoại
nội tâm của người thầy. Cách dạy này làm sao truyền lửa cho học sinh và gợi
hứng thú yêu thích bộ môn ở các em được. Đây chính là phần lỗi của giáo viên,
bản chất hai chiều trong đối thoại: đối thoại trong cái tôi và đối thoại giữa cái tôi
với người khác.
Đối thoại trong cái “tôi” là cách nhận thức có chiều sâu, nhận thức đa
chiều. Nghĩa là người nhận thức luôn đặt ra câu hỏi: Tại sao như thế? Điều đó
có nghĩa là gì?...Đó là cách tạo đối thoại ngầm trong tư duy của người tiếp nhận,
để việc tiếp nhận, lĩnh hội không đơn giản, bằng phẳng.
Đối thoại giữa cái “tôi” với người khác là đối thoại giữa những luồng
nhận thức, tư tưởng tình cảm, quan điểm, chỗ đứng, điểm nhìn của các chủ thể
khác nhau về một vấn đề. Muốn thực hiện hình thức đối thoại này, mỗi bên phải
có nhiều thông tin. Có thể là thông tin cùng chiều hoặc ngược hướng để có cơ
sở lựa chọn, phân tích, bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình. Trong giảng dạy môn
Ngữ văn ở trường THPT cũng vậy, trước một hiện tượng đời sống, giáo viên,
học sinh đều có những quan điểm, thái độ đánh giá riêng, đều có tiếng nói riêng
của mình. Để khơi gợi hứng thú, niềm đam mê của học sinh, giáo viên phải biết
tạo mọi điều kiện, mọi tình huống để học sinh tranh luận, đối thoại, tự cảm thụ,
tự bộc lộ ý kiến, suy nghĩ, tình cảm riêng… dưới sự hướng dẫn, định hướng của
mình. Điều cốt yếu là làm sao để học sinh đưa ra quan điểm, thái độ, kiến giải
riêng của mình vào tiếp nhận tạo ra được một cuộc đối thoại thực thụ để học
sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức và phát huy cao độ tính tích cực, chủ động
sáng tạo của học sinh.
Vận dụng quan điểm đối thoại trong tư duy, trong tư tưởng, trong dạy học
5
tác phẩm văn chương ta có thể tổ chức các quan hệ đối thoại giữa bạn đọc học
sinh với thế giới hiện thực trong tác phẩm, với các nhân vật, với các bức tranh
thiên nhiên được miêu tả trong tác phẩm. Học sinh phải được dạy cách nghe
được thông tin từ các quan hệ đối thoại này và tiếp nhận tác phẩm như tham dự
một cuộc tham quan thú vị mà chính nhà văn là người hướng dẫn tham quan.
Giáo viên tạo ra đối thoại bên trong mỗi người học để sự tiếp nhận tri thức
cho các em trau dồi kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, đem lại sư năng động trong
tính cách và khơi gợi được hứng thú, say mê trong học tập. Trong đối thoại, ý
kiến, quan điểm, tri thức… của các em được tôn trọng, tạo ra bầu không khí
bình đẳng, tự do, dân chủ trong việc đi tìm chân lí.
II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỐI THOẠI TRONG GIỜ NGỮ VĂN
Để các em phải nói, được nói, được bộc lộ những suy nghĩ, những cảm
xúc, những hiểu biết của mình không phải là chuyện đơn giản của ngày một
ngày hai mà phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bền bỉ. Quá trình đó
có sự đóng góp tích cực của người thầy trong khâu soạn giảng và kĩ năng đứng
lớp. Sau đây tôi xin trình bày một số kinh nghiệm của bản thân được đúc rút từ
thực tiễn dạy học nhằm làm cho các em có được kĩ năng đối thoại trong giờ dạy
học Ngữ văn ở nhà trường THPT.
1. Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm
Văn chương là một môn học nghệ thuật có khả năng khơi gợi cảm xúc,
suy ngẫm, tưởng tượng... Tác phẩm văn chương luôn gợi ra một chân trời mới
lạ trước mắt người đọc. Muốn đến với chân trời mới lạ ấy phải bắt đầu bằng
việc đọc và phải đọc hay, đọc diễn cảm. Đây là hoạt động đầu tiên để thổi hồn
vào tác phẩm. Là một hình thức hoạt động có tính chất đặc thù của nhận thức
về văn học. Tiếng nói của nhà văn gởi gấm cho bạn đọc thông qua hệ thống
ngôn ngữ kết dệt nên hình tượng của tác phẩm. Đọc tác phẩm văn chương là
một cách giải mã văn bản. Khi tiếp xúc với tác phẩm, người đọc cảm thấy mình
đang hòa nhập, được sống cùng với nhân vật, yêu thương, cảm thông với những
số phận nhân vật tội nghiệp; căm ghét, bất bình với những xấu xa, tội lỗi.
Trong giảng dạy, bằng sức mạnh riêng của đọc, đặc biệt là đọc diễn cảm,
giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào thế giới tác phẩm một cách dễ dàng. Đọc diễn
cảm gắn bó với giáo viên, học sinh trong suốt quá trình giảng văn, làm cho tiếng
nói nhà văn luôn luôn gần gũi với giáo viên, học sinh. Giờ giảng văn trở thành
7
8
Sử dụng câu hỏi gợi mở và tình huống nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm
văn chương đã tác động đến học sinh, tạo ra được tư duy khoa học, tư duy sáng
tạo, đồng thời kích thích được cảm xúc thẩm mỹ ở các em. Học sinh phải có sự
dấn thân, phải có sự vui vẻ nhập cuộc để đối thoại cùng tác phẩm, từ đó mà tìm
ra chân lí.
Ví dụ: Đọc đến đoạn cuối tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, một vấn
đề đặt ra: Vì sao Nam Cao để cho Chí Phèo giết chết bá Kiến, tức là Chí đã giết
đúng kẻ thù của mình, nhưng Chí Phèo lại tự kết liễu đời mình bằng cái chết
quằn quại đau đớn? Qua kết cục đó, nhà văn muốn nói lên điều gì? Những câu
hỏi này hàm chứa những điều học sinh đã biết về mâu thuẫn giữa Chí Phèo và
bá Kiến, về những tội lỗi mà bá Kiến đã gây ra cho Chí, biến Chí thành một tên
lưu manh. Việc Chí Phèo giết bá Kiến là đúng. Nhưng đồng thời câu hỏi còn
đưa học sinh đến một vấn đề mới cần suy luận, lí giải, trao đổi. Vì sao Chí Phèo
lại phải chết? Cái chết của Chí Phèo có sức tố cáo mạnh mẽ cái xã hội cũ đã
không thể cho người dân lương thiện được sống yên ổn. Một bá Kiến chết
nhưng sẽ còn nhiều bá Kiến khác tiếp tục bóc lột. Chí Phèo chết mới chấm dứt
cuộc đời nhục nhã để hi vọng cuộc đời mới may ra tốt lành hơn ở kiếp sau. Chí
Phèo chết trong sự nhận thức rõ về mình. Chí không muốn tiếp tục cuộc sống
của một con quỷ dữ. Chí muốn trở thành một con người nhưng Chí không thể
trở thành người được. Chí chỉ còn cách hũy diệt chính mình. Giá trị hiện thực,
giá trị nhân đạo ở chỗ đó. Đó cũng chính là điều tác giả muốn nói cùng độc giả.
Có thể nói những câu hỏi gợi mở và những tình huống nêu vấn đề sẽ có tác
dụng lôi cuốn học sinh vào quá trình tư duy, đối thoại cùng tác phẩm.
Trong quá trình phân tích tác phẩm, giáo viên thường sử dụng phương
pháp gợi mở- một biện pháp, một cách thức giúp học sinh có phương pháp tự
tìm tòi, học tập, nghiên cứu. Phương pháp này được thực hiện chủ yếu bằng
đàm thoại. Với con đường đàm thoại, giờ học văn có được không khí tâm tình,
Châu? Mị Châu bị thần Rùa vàng kết tội là giặc, lại bị vua cha chém đầu
nhưng sau đó máu nàng hóa thành ngọc trai, xác nàng hóa thành ngọc
thạch. Hư cấu như vậy, người xưa muốn bày tỏ thái độ gì đối với nhân vật
Mị Châu? Nàng Mị Châu đáng thương hay đáng trách? Qua hình tượng
10
nhân vật Mị Châu, tác giả dân gian muốn nhắn nhũ với chúng ta điều gì?
Tôi tin chắc rằng, với hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề như vậy, học sinh sẽ
mạnh dạng bày tỏ nhận thức, quan điểm… của mình, tạo cho các em cở hội
được nói, được trình bày, được tranh luận trước tập thể. Giờ học như vậy sẽ đem
lại hứng thú, niềm đam mê và cả bầu không khí dân chủ cho các em.
3. Bình văn thơ- một sự đối thoại ngầm trong giờ học
Với quan điểm đổi mới, giờ học tác phẩm văn chương với mục tiêu lấy
học sinh làm trung tâm chủ yếu là những hoạt động của học sinh. Việc giảng
bình bị xem nhẹ, lu mờ. Tuy nhiên, giảng bình là một phương pháp có tính đặc
thù, có vai trò rất lớn trong việc cảm thụ và truyền thụ văn thơ. Người giáo viên
thông qua sự hiểu biết và rung cảm về bài thơ, bài văn có nhiệm vụ làm cho học
sinh cũng rung cảm và hiểu biết bài văn một cách đúng đắn, sâu sắc. Cái tài của
người bình tác phẩm trong quá trình tiếp nhận văn học là chon đúng và trúng
những cái hay trong sáng tạo nghệ thuật. Giờ giảng văn có giảng bình sẽ nâng
chất văn, hồn văn trong giáo viên và học sinh, khiến các em rung động trước cái
hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương. Giảng bình sẽ làm bộc lộ cái độc đáo,
mới lạ đầy cảm xúc sáng tạo thẩm mỹ của người nghệ sĩ gởi gấm trong hình
tượng văn học. Lời bình của giáo viên mang xúc cảm, sự thưởng thức, đánh giá
riêng. Người nghe – học sinh say mê tự mình bộc lộ những suy nghĩ, những
cảm xúc của mình trong bầu không khí văn chương, sinh động của việc hưởng
thụ thẩm mỹ. Như vậy, bình văn thơ cũng tạo ra một sự đối thoại trong giờ học
- một sự đối thoại ngầm trong tư duy, trong nhận thức của học sinh. Giảng bình
được gởi vào email giáo viên trước một ngày để trình duyệt, sửa chữa. Qua
thực tế dạy học, tôi thấy có em tìm hiểu, tóm tắt thuyết trình về Giáo sư Ngô
Bảo Châu, nhà cách mạng – nghệ sĩ Hồ Chí Minh, Nam Cao, Tố Hữu, về một
cầu thủ bóng đá nổi tiếng mà các em yêu thích như Mecxi, Ronaldo… Bài
thuyết trình tiểu sử tóm tắt về một nhân vật lịch sử, một danh nhân được các em
chuẩn bị rất công phu, kĩ lưỡng và thuyết trình trên lớp cũng rất hào hứng, sôi
nổi tạo được sự hứng thú, say mê của những học sinh khác. Tập thể lớp chăm
chú theo dõi các em trình bày. Sau mỗi bài thuyết trình, giáo viên tổ chức cho
các em nhận xét, đánh giá những điều được cũng như hạn chế để rút kinh
nghiệm cho các lần sau. Cứ như thế, tiết học diễn ra rất thoải mái và các em trao
12
đổi, nhận xét, đánh giá rất chân thành. Tạo được thói quen này, các em sẽ dần
dần tự tin trong khâu trình bày, tranh luận, trao đổi, góp ý. Rèn được kĩ năng
diễn đạt, lập luận trước đám đông. Kích thích khả năng tìm tòi, sáng tạo trong
suy nghĩ. Tạo được mối quan hệ gắn bó, gần gũi giữa các em trong khi cùng
chung giải quyết một nhiệm vụ học tập.
13
C. PHẦN KẾT LUẬN
Như trên đã trình bày, đối thoại, tranh luận có rất nhiều hình thức và có
vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Làm thế nào để
các em được nói ra những suy nghĩ, lập luận, cảm xúc riêng, được tranh luận,
góp ý, nhận xét để tìm kiếm tri thức, đem lại hứng thú cho các em trong giờ học
Ngữ văn, đặc biệt là làm sao để các em yếu, nhút nhát phải “mở miệng”, để dần
dần lấy lại tự tin trong học tập và trong cuộc sống là điều mà tôi luôn trăn trở.
Căn cứ vào bản chất của đối thoại, vào từng đặc điểm loại thể của tác phẩm,
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Viết Chữ, Đối thoại và định hướng cảm thụ văn chương trong
dạy học tác phẩm văn học, NXB Hà Nội 2008.
2. Phan Thị Tuyết Nhung, Một số giải pháp góp phần nâng cao chất
lượng bộ môn qua các giờ dạy Ngữ Văn ở trường THPT, Chuyên đề
lưu hành nội bộ 2012.
3. Phan Thị Tuyết Nhung, Cách làm bài văn nghị luận xã hội ở trường
THPT, Chuyên đề lưu hành nội bộ 2013.
16
4. Phan Trọng Luận, Phương Pháp dạy tác phẩm văn chương, NXB
Giáo dục 2009.PHẦN ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG
XÉT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CỦA TRƯỜNG
(Chủ tịch HĐ xếp loại, ký và đóng dấu)
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Xếp loại …………………………………………………………………………
Vinh Xuân, ngày…..tháng…….năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG