ảnh hưởng của văn hóa phương tây đến lối sống của thanh niên việt nam hiện nay - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HÓA PHƢƠNG TÂY ĐẾN LỐI
SỐNG CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Sƣ phạm Giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204

Giảng viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

TS-GVC Lê Duy Sơn

Nguyễn Việt Khái
MSSV: 6106618

Lớp: Giáo Dục Công Dân K36

Cần Thơ: 11/2013


LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ,
giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của ngƣời khác. Trong suốt thời
gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đƣờng đại học cho đến nay, em đã nhận đƣợc rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Khoa học
chính trị - Trƣờng Đại Học Cần Thơ cùng với tri thức và tâm huyết của mình đã
truyền đạt vốn kiến thức quý báo cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại

2.1 Những ảnh hƣởng tích cực từ văn hóa phƣơng Tây đến lối sống của thanh niên
Việt Nam. ..................................................................................................................15
2.2 Những ảnh hƣởng tiêu cực từ văn hóa phƣơng Tây đến lối sống của thanh niên
Việt Nam. ..................................................................................................................26
Chƣơng 3:NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG ẢNH HƢỞNG
TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƢỞNG TIÊU CỰC TỪ VĂN HÓA
PHƢƠNG TÂY ĐẾN LỐI SỐNG THANH NIÊN VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI .35
3.1 Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nƣớc đối với công tác giáo dục lối sống
văn hóa cho thanh niên. .............................................................................................35
3.2 Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống......................................... 37
3.3 Kết hợp chặt chẽ công tác tuyên truyền và công tác giáo dục lối sống văn hóa
cho thanh niên Việt Nam...........................................................................................40
3.4 Tổ chức các hoạt động sinh hoạt, vui chơi, giải trí lành mạnh cho thanh niên... 43
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................... 51


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thanh niên là một lực lƣợng xã hội đặc biệt, có vai trò rất quan trọng trong
lịch sử, trong các giai đoạn Cách mạng cũng nhƣ trong hiện tại và tƣơng lai. Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thanh niên. Khi
đánh giá về Thanh niên Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Thanh niên là ngƣời
chủ tƣơng lai của nƣớc nhà… Nhà nƣớc thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần là
do các thanh niên”.[12, tr.84]. Nhận thức đúng vị trí, vai trò của thanh niên Đảng ta
khẳng định: Sự nghiệp đất nƣớc ta thành công hay không, đất nƣớc ta bƣớc vào thế
kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không chủ yếu là do lực
lƣợng thanh niên ngày nay quyết định. Tƣơng lai của dân tộc Việt Nam, sự phát
triển của đất nƣớc tùy thuộc vào việc bồi dƣỡng rèn luyện thế hệ thanh niên.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nƣớc, sự chuyển biến mạnh mẽ của những điều

Hai là, phân tích và làm rõ thực trạng ảnh hƣởng của văn hóa phƣơng Tây đến
lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay.
Ba là, đề xuất những giải pháp nhằm phát huy những ảnh hƣởng tích cực và
hạn chế những ảnh hƣởng tiêu cực từ văn hóa phƣơng Tây đến lối sống thanh niên
Việt Nam thời gian tới.
3.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là ảnh hƣởng của văn hóa phƣơng Tây đến lối
sống của thanh niên.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là ảnh hƣởng của văn hóa phƣơng Tây đến lối
sống của thanh niên Việt Nam giai đoạn hiện nay.
4.Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp chung nhất mà đề tài sử dụng là phƣơng pháp biện chứng duy
vật, ngoài ra đề tài sử dụng các phƣơng pháp: phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp
chứng minh, phƣơng pháp so sánh.
5.Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có cấu
trúc gồm ba chƣơng, 8 tiết.

2


B. PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA PHƢƠNG
TÂY, VỀ THANH NIÊN VIỆT NAM
1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hóa phƣơng Tây.
1.1.1 Tiêu chí đánh giá và phân loại văn hóa phƣơng Tây.
Khái niệm văn hóa
Cho đến nay ngƣời ta đã thống kê có tới hàng trăm định nghĩa văn hoá. Có thể
nói có bao nhiêu nhà nghiên cứu thì có bấy nhiêu khái niệm về văn hoá.Tuy đƣợc

trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là trình độ
phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ
chức đời sống và hành động của con chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên
con ngƣời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa đƣợc truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa ngƣời cũng nhƣ trong
giá trị vật chất và tinh thần mà do con ngƣời tạo ra.
Văn hóa phƣơng Tây
Văn hóa phƣơng Tây, đôi khi đồng nghĩa với văn minh phƣơng Tây, lối sống
phƣơng Tây hoặc nền văn minh châu Âu, là một thuật ngữ đƣợc sử dụng rất rộng rãi
để chỉ một di sản của chuẩn mực xã hội, các giá trị đạo đức, phong tục truyền thống,
hệ thống niềm tin, hệ thống chính trị và cụ thể các đồ tạo tác và các công nghệ.
Tiêu chí phân loại văn hóa
Văn hóa là sản phẩ m của con ngƣời, cho nên viê ̣c phân loại văn hóa cầ n bắ t
đầ u tƣ̀ viê ̣c tìm hiể u sƣ̣ hình thành và phân bố các chủng ngƣời trên trái đấ t nói
chung. Lâu nay trên thế giới phổ biế n cách phân chia nhân loại thành ba đa ̣i chủng:
chủng Á (Mongoloid, trong cách nói dân gian thƣờng gọi là chủng da vàng), chủng
Âu (Europeoid, dân gian thƣờng gọi là chủng da trắ ng) và chủng Úc-Phi (AustraloNegroid, dân gian thƣờng gọi là chủng da đen). Song nhƣ̃ng nghiên cƣ́u mới hơn
trong khoa nhân chủng học cho thấ y rằ ng sƣ̣ phân loại ấy mới chỉ dƣ̣a trên các đă ̣c
điể m thích nghi về màu da, hình tóc, mũi, môi...
Căn cƣ́ vào nhƣ̃ng đă ̣c điể m trung tính, không thay đổ i trƣớc biế n đô ̣ng của
môi trƣờng nhƣ: nhóm máu, đƣờng vân tay, hình thái răng... ngƣời ta đã chia nhân
loại thành hai khố i quầ n cƣ lớn Úc-Á và Phi-Âu. Đó cũng chính là hai trung tâm
hình thành chủng tô ̣c cổ xƣa nhấ t của loài ngƣời, trung tâm phía Tây (Phi-Âu)
4


và trung tâm phía Đông (Úc-Á). Theo nhà nhân chủng học nổ i tiế ng ngƣời Nga
N.N. Cheboksarov, ngay tƣ̀ sơ kỳ đồ đá cũ đã xuấ t hiê ̣n hai trung tâm hình thành
chủng tô ̣c: sớm hơn là miề n Đông-Bắ c Phi và Tây-Nam Á, ít nhiề u muô ̣n hơn là
miề n Đông-Nam Á. Nhƣ̃ng con ngƣời muô ̣n hơn nƣ̃a thuô ̣c loại hiê ̣n đa ̣i homo

ít ngƣời làm nghề nông, phầ n đông lo viê ̣c mục súc và hàng hải, ngƣời La Mã uố ng
sƣ̃a bò, áo quầ n dê ̣t bằ ng lông cƣ̀u hoă ̣c bằ ng da thú vâ ̣t. W. Durant trong
cuố nNguồ n gố c văn minh. cho biế t: "Tại nhƣ̃ng bô ̣ lạc săn bắ n và mục súc, loài bò
6


là mô ̣t đơn vị giá trị rấ t tiê ̣n. Vào thời đa ̣i Homer ở Hy Lạp, ngƣời ta đánh giá ngƣời
và vâ ̣t bằ ng số bò bô ̣ binh giáp của Diomède đáng giá 9 con bò, mô ̣t ngƣời nô lê ̣
khéo tay đáng giá 4 con. Ngƣời La Mã cũng vâ ̣y, họ dùng hai danh tƣ̀ gầ n giố ng
nhau - pecus vàpecunia - để trỏ bò và tiề n bạc". [18, tr.97].
Về sau, các dân tô ̣c ven biể n thì phát triể n thƣơng nghiê ̣p buôn bán, các dân
tô ̣c trong lục điạ thì làm nông nghiê ̣p, nhƣng chăn nuôi vẫn là mố i quan tâm chủ
yế u của họ. Trong Hồ i ký về cuô ̣c chiế n tranh ở Gôlơ, Ju. Cesar viế t rằ ng vào thế kỷ
II tr.CN, ngƣời Giécmanh vẫn số ng cuô ̣c đời du mục, đến giƣ̃a thế kỷ I tr. CN,
ngƣời Giécmanh đã cấ y trồ ng, song họ không chí thú với cuô ̣c số ng đinh
̣ cƣ, sau
mỗi năm lại chuyể n đi nơi khác, họ đă ̣c biê ̣t không chăm làm nông nghiê ̣p mà số ng
chủ yế u bằ ng sƣ̃a và súc vâ ̣t. Còn nhà sƣ̉ học La Mã nổ i tiế ng K. Taxit (54-120
s.CN) trong tâ ̣p Giécmanh thì cho biế t Giécmanh là đấ t nƣớc giàu gia súc, ngƣời
Giécmanh thích có nhiề u gia súc vì đó là hình thƣ́c của cải duy nhấ t và dễ chịu nhấ t.
Bô ̣ Luâ ̣t Salica cho biế t vào đầ u thế kỷ VI, ngƣời Frăng làm nông nghiê ̣p nhƣng vẫn
đă ̣c biê ̣t coi trọng chăn nuôi, công xã có bãi chăn nuôi chung.
Ở phƣơng Tây, các thầ n thánh đều cƣỡi ngƣ̣a và chơi với gia súc. Tiêu chuẩ n
của mô ̣t phụ nƣ̃ quý tô ̣c là phải biế t cƣỡi ngƣ̣a. Còn các chƣ̃ đầ u của cả hai bảng chƣ̃
cái La-tinh và Hy Lạp là A và a (alpha) đều bắ t nguồ n tƣ̀ hình vẽ cái đầ u bò. Các vâ ̣t
dụng nhƣ con dấ u, đồ ng tiề n, bình nƣớc, v.v., thƣờng có hình bò, ngƣ̣a.Con ngƣời
có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Do vậy, con
ngƣời cũng có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần.
Từ đó, văn hóa nhƣ một hệ thống thƣờng đƣợc chia làm hai dạng: văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần.

những sản phẩm có dạng chất liệu vật thể; còn văn hóa tinh thần thì chỉ liên quan
đến sự biến đổi thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của con ngƣời, sản phẩm của nó
là tƣ tƣởng thuần tuý, "phi vật thể". Với cách này, cùng một đối tƣợng có thể vừa có
phần giá trị vật chất, vừa có phần giá trị tinh thần của nó. Riêng về các hoạt động
thì, thông thƣờng, ngƣời ta xếp hoạt động sản xuất vật chất vào dạng văn hóa vật
chất (vì loại hoạt động này phải sử dụng nhiều năng lực cơ bắp, mồ hôi...) còn hoạt
động sản xuất tinh thần đƣợc xếp vào văn hóa tinh thần (vì loại hoạt động này chủ
yếu sử dụng năng lực trí tuệ).

8


1.1.2 Văn hóa phƣơng Tây nhìn từ góc độ triết học.
So sánh các nề n văn hóa trên thế giới, ngƣời ta thấ y chúng vô cùng đa dạng và
phong phú. Chính vì vâ ̣y mà khi nói đến chúng, ngƣời ta thƣờng liê ̣t kê. Chẳ ng hạn,
Arnold Toynbee kể ra 38 nề n văn minh thế giới, trong đó văn minh Viê ̣t Nam xế p
cạnh văn minh Triề u Tiên, Nhâ ̣t Bản. Song, cũng đã tƣ̀ lâu, ngƣời ta nhâ ̣n thấ y giƣ̃a
các nề n văn hóa có không ít nét tƣơng đồ ng.Để giải thích sƣ̣ tƣơng đồ ng này, ngƣời
ta đã đƣa ra nhiề u ý kiế n khác nhau nhƣng tƣ̣u trung lại, có thể quy về ba thuyế t .
Tƣ̀ cuố i thế kỷ XIX ởTây Âu đã phổ biế n thuyế t khuế ch tán văn hóa (cultural
diffusion) với nhƣ̃ng đa ̣i biể u nhƣ F. Ratsel, L.Frobenius, F. Grabner, W.Schmidt ở
Đức, Áo, G. Elliot Smith, W. Rivers ở Anh... Quan điể m chủ yế u của nhƣ̃ng ngƣời
theo thuyế t này là văn hóa đƣơ ̣c hình thành tƣ̀ mô ̣t trung tâm rồ i đƣơ ̣c "truyề n bá",
"lan tỏa" ra các nơi khác bằ ng cách mô phỏng hoă ̣c nhờ nhƣ̃ng cuô ̣c thiên di của các
dân tô ̣c. Có lan tỏa toàn bô ̣ hoă ̣c lan tỏa bô ̣ phâ ̣n (truyề n bá nhƣ̃ng yế u tố riêng lẻ
của mô ̣t nề n văn hóa), lan tỏa tiên phát (trƣ̣c tiế p tƣ̀ nơi phát sinh) hoă ̣c lan tỏa thƣ́
sinh. Viê ̣c cƣ̣c đoan hóa thuyế t này đã dẫn đến chỗ bị giới cầ m quyề n thƣ̣c dân lơ ̣i
dụng để đề cao dân tô ̣c này và khinh rẻ các dân tô ̣c khác, đi ngƣơ ̣c lại quyề n lơ ̣i của
con ngƣời. Đầu thế kỷ XX, tƣ̀ nhƣ̃ng ý kiế n của F. Boas, các nhà nhân chủng học
Mỹ C.L. Wisler và A.L. Kroeber đã phản đố i thuyế t khuyế ch tán văn hóa và đề xuấ t

nằ m trong nhƣ̃ng điề u kiê ̣n tƣ̣ nhiên và xã hô ̣i tƣơng đồng thì chúng cũng có thể có
nhƣ̃ng nét giố ng nhau. Sản phẩ m của hai trƣờng hơ ̣p này là nhƣ̃ng đă ̣c trƣng loại
hình. Đặc trƣng loại hình càng mạnh và rõ ở các nề n văn hóa cùng gố c hoă ̣c gầ n gũi
nhau về điạ lý. Chính vì vâ ̣y mà các nhà dân tô ̣c học Xô-viế t đã phân biê ̣t khái niê ̣m
"loại hình kinh tế - văn hóa" với khái niê ̣m "vùng văn hóa - lịch sƣ̉": Nế u vùng văn
hóa - lịch sƣ̉ là mô ̣t không gian điạ lý liên tục thì loại hình kinh tế - văn hóa có thể
bao gồ m cả nhƣ̃ng khu vƣ̣c điạ lý khác nhau.
Các thuyế t và các khái niê ̣m nêu trên đều có thể đƣơ ̣c vâ ̣n dụng ở nhƣ̃ng mƣ́c
đô ̣ khác nhau. Chẳ ng hạn, lý thuyế t vùng văn hóa sẽ rấ t hƣ̃u hiê ̣u cho viê ̣c xác đinh
̣
các vùng văn hóa của ngƣời Viê ̣t và các dân tô ̣c ít ngƣời nhƣ văn hóa sông Hồ ng,
văn hóa đồ ng bằ ng sông Cƣ̉u Long, văn hóa Tây Nguyên... Lý thuyế t về sƣ̣ lan tỏa
thích hơ ̣p cho viê ̣c giải thích sƣ̣ tƣơng đồ ng văn hóa giƣ̃a Đông Nam Á lục địa và
Đông Nam Á hải đảo... Song, để làm sáng tỏ bản sắ c của văn hóa Viê ̣t Nam, điề u
quan trọng hơn là cầ n nêu đƣơ ̣c sƣ̣ đồ ng nhấ t và khác biê ̣t giƣ̃a nó với các nề n văn
hóa khu vƣ̣c (nhƣ Trung Hoa) và thế giới (nhƣ phƣơng Tây). Trong sƣ̣ so sánh này,
10


viê ̣c xác đinh
̣ loại hình văn hóa là hế t sƣ́c quan trọng. Chỉ ra đƣơ ̣c các loại hình với
mƣ́c đô ̣ khái quát cao và nhƣ̃ng đă ̣c trƣng của mỗi loại, ta có thể căn cƣ́ vào đó mà
xế p bấ t kỳ mô ̣t nề n văn hóa nào vào mô ̣t trong các "ô" phân loại đã có. Ba loại hình
kinh tế - văn hóa của N.N. Cheboksarothiên về các đă ̣c điể m mang tính lịch sƣ̉ kinh tế mà chƣa đồ ng thời phản ánh đƣơ ̣c các đă ̣c trƣng điạ lý - khu vƣ̣c là điề u
không kém phầ n quan trọng đố i với viê ̣c xác đinh
̣ mô ̣t nề n văn hóa.
1.1.3 Văn hóa phƣơng Tây nhìn từ góc độ xã hội hiện nay.
Chúng ta đang bƣớc vào thời kì hội nhập của toàn cầu hóa. Đất nƣớc đang
bƣớc những bƣớc khá quan trọng trên đà tăng trƣởng kinh tế, những tiến bộ khoa
học ngày một ứng dụng rộng rãi. Con ngƣời đang bƣớc vào thời kỳ mà hàng hóa vật

đƣợc ngƣời ta ca tụng. Chính vì thế mà họ luôn tìm cách theo đuổi những giá trị,
những phƣơng cách sống nhằm thỏa mãn họ. Họ luôn khát khao cái mới, cái nổi
trội, vì thế mà họ luôn tìm mọi cách để nổi trội, để đổi mới, không chịu gò bó trong
một khuôn khổ nào cả.
Ngày nay thanh niên có trong tay của mình sức khỏe, sự cƣờng tráng, sự liều
lĩnh, ý chí vƣợt khó sự hăng hái xã thân, lòng nhiệt thành. Họ có kiến thức, kiến
thức sống và kiến thức hội nhập bạn bè, hàng xóm, gia đình. Họ có đủ điều kiện để
có một lý tƣởng sống chính đáng, có một đích hƣớng đến cái hay cái đẹp, một hy
vọng tràn về tƣơng lai.
1.2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh niên Việt Nam
Từ góc độ xã hội học, thanh niên đƣợc xem là một nhóm xã hội của những
ngƣời “mới lớn”. Khi nghiên cứu về lối sống thanh niên PGS.TS Phạm Hồng Tung
cho rằng: tuổi thanh niên là độ tuổi quá độ từ trẻ con sang ngƣời lớn trong cuộc đời
mỗi ngƣời. Nhà khoa học này cũng khẳng định: đây là một nhóm động, không ổn
định, nó nhƣ một dòng chảy, thƣờng xuyên đón nhận những thành viên mới và chia
tay với những ngƣời đã trƣởng thành, vƣợt quá phạm vi lứa tuổi của nhóm.
Từ góc độ tâm lý học, thanh niên là một độ tuổi, ở giữa lứa tuổi trẻ em và
trƣởng thành. Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh cao. Tuy nhiên,
các yếu tố tâm lý mới đƣợc định hình và ổn định một cách tƣơng đối. Thanh niên có
sự khác biệt lớn về nhiều mặt (tuổi, nơi sinh sống, nghề nghiệp…), do đó, các đặc
điểm tâm lý của thanh niên rất phong phú, đa dạng, tuy nhiên, chúng có một tính
chất chung, đó là tính trẻ. Tính trẻ đƣợc thể hiện ở sự năng động, nhiệt huyết, chấp

12


nhận mạo hiểm, giàu mơ ƣớc và hoài bão lớn, thích cái mới, thích giao lƣu, học hỏi
và mong muốn có những đóng góp cho xã hội để khẳng định bản thân.
Từ góc độ pháp luật, theo điều 1, Luật Thanh niên năm 2005: thanh niên là
công dân Việt Nam từ mƣời sáu tuổi đến ba mƣơi tuổi.

nhiệm hơn đối với những vấn đề của quê hƣơng, đất nƣớc, những vấn đề trong khu
vực và trên thế giới. Ý thức lập nghiệp của thanh niên cũng cao hơn, tinh thần xung
phong, tình nguyện, ý thức chia sẻ, tinh thần tƣơng thân, tƣơng ái đã đƣợc khơi dậy
với một chất lƣợng mới, thanh niên đã chủ động và tự tin hơn trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thanh
niên đang đứng trƣớc nhiều khó khăn thách thức lớn đó là: trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật và ý thức
chấp hành pháp luật của thanh niên nhìn chung còn thấp. Trong thanh niên nhận
thức về học nghề, chọn nghề, định hƣớng nghề nghiệp còn nhiều lệch lạc, việc làm
và thu nhập thấp vẫn đang là những vấn đề bức xúc trong thanh niên. Rồi sức khoẻ
và thể chất của thanh niên nƣớc ta còn thấp hơn các nƣớc trong khu vực và trên thế
giới rất nhiều, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ trong thanh niên thiếu ý thức rèn
luyện để hoàn thiện nhân cách của mình, non kém về nhận thức chính trị, chƣa xác
định đƣợc lý tƣởng sống đúng đắn…Trƣớc những thuận lợi và khó khăn của đất
nƣớc cũng nhƣ của bản thân mình, hơn lúc nào hết thanh niên Việt Nam phải nhận
thấy rõ vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển của đất nƣớc. Phải nhận thức
đƣợc khó khăn lớn nhất của mình trong giai đoạn này là sự cạnh tranh quyết liệt về
trí tuệ để đạt tới những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng nhƣ trình
độ quản lý. Để vƣợt qua đƣợc khó khăn đó, đòi hỏi rất cao ở thanh niên là phải tự
học tập, tự rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt, phải trau dồi bản lĩnh chính
trị, giữ vững lý tƣởng, phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh với vai trò là chủ thể tích cực, là lực lƣợng đi đầu
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Để cùng đất nƣớc vƣợt qua những khó khăn, trƣớc mắt mỗi thanh niên phải nỗ
lực nhiều hơn, đặc biệt là phải mở rộng tầm hiểu biết của mình về tình hình thế giới
để có tƣ duy, hành động phù hợp hơn. Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là
quyền lợi của thanh niên, của tổ chức đoàn để cùng đất nƣớc gặt hái đƣợc nhiều
thành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

14

tình huống, có lúc dễ dàng xử lý, có lúc thật phức tạp, khó xử. Xã hội càng văn
minh thì nhu cầu ứng xử của con ngƣời càng cao. Ứng xử một cách thông minh,
15


khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật, ngày nay đƣợc
coi nhƣ là bí quyết thành công trong cuộc sống và trong công việc.
Văn hoá ứng xử và văn minh giao tiếp là một phạm trù rất rộng gồm cử chỉ,
lời nói, hành vi thể hiện và cả trang phục phù hợp. Trong xã hội ngày càng văn
minh, hiện đại thì những quy tắc, những phong cách giao tiếp lịch sự, văn minh ấy
càng cần đƣợc thể hiện. Những việc tƣởng chừng nhƣ đơn giản ấy, thực ra lại rất
quan trọng và mang lại một giá trị to lớn. Cái đẹp đã tạo ra thế giới và nó luôn hiện
hữu quanh ta. Nhƣng trong dòng chảy hối hả của cuộc sống, có một lúc nào đó
ngƣời ta vô tình bỏ qua nhiều giá trị cao đẹp. Đã có một số quan niệm cho rằng, với
tốc độ phát triển nhƣ vũ bão hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá nhanh và mạnh của
thời đại, dần dần xã hội sẽ đƣợc duy trì bằng pháp luật và đô la. Nếu bình tĩnh suy
nghĩ lại, văn hoá là cái đẹp nhân bản kết tinh từ những tinh hoa của nhân loại. Đây
mới chính là nền tảng vững chắc nhất để duy trì sự tồn tại và phát triển xã hội. Hải
Thƣợng lãn ông Lê Hữu Trác - danh y từ Thế kỷ XVIII - trong Y huấn cách ngôn
ông đã viết: "Khi gặp những ngƣời cùng ngành nghề, nên khiêm tốn hoà nhã, cẩn
thận, chớ nên coi rẻ xem hơn. Đối với ngƣời cao tuổi thì nên cung kính lễ phép. Đối
với ngƣời giỏi hơn mình thì phải tôn thờ nhƣ bậc thầy. Đối với kẻ kiêu ngạo thì
nhún nhƣờng. Đối với những ngƣời non nớt thì nên dìu dắt giúp đỡ họ".[16, tr.51].
Văn hoá ứng xử là một nghệ thuật nhƣng nó không phải đến mức nghệ thuật
hoá. Nghệ thuật ứng xử bao giờ cũng xuất phát từ cuộc sống chân thực, lối sống thật
thà, thái độ của nhân sinh quan và tâm lý sâu sắc, không rắp tâm làm những điều mà
mình và ngƣời khác không mong muốn. Nếu một ngƣời có trái tim nhân hậu của
ngƣời mẹ hiền, có bộ não uyên bác của nhà khoa học, có tâm hồn lãng mạn của một
nghệ sỹ, có bàn tay khéo léo của một nghệ nhân, thì nghệ thuật ứng xử sẽ tự nhiên
thấm ngấm vào cuộc sống hàng ngày của họ. Nghệ thuật ứng xử không tự nhiên mà

tính, giảm bớt đƣợc khẩu nghiệp. Không thể cầu mong nghe đƣợc những lời nói dịu
dàng trong khi chính bản thân chƣa làm đƣợc nhƣ vậy.
Lời nói dễ nghe, êm ái, ngọt ngào bao giờ cũng xuất phát từ một tâm hồn cao
đẹp, một tấm lòng nhân ái bao la, nó có tác dụng động viên, an ủi ngƣời nghe, làm
cho ngƣời nghe có cảm tình, tạo dựng niềm tin và làm theo lời nói ấy. "Chim khôn
hót tiếng rảnh rang, ngƣời khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe". Cùng một nội dung
của lời nói, nhƣng tùy theo giọng nói, tùy theo cách nói mà hai ngƣời có thể cảm
thông cho nhau, nhƣng cũng có thể gây trách cứ, hiểu lầm nhau. Trong giao tiếp,
17


ngôn ngữ nói phải hấp dẫn, lôi cuốn, mạch lạc, dễ hiểu câu nói có đầy đủ cụm chủ
vị, đơn giản nhƣng hàm ý sâu xa. Ngƣời nói phải có sự chuẩn bị trƣớc, không nói
bừa, nói ẩu, nói không suy nghĩ. Phải hiểu và nắm bắt đƣợc tâm lý ngƣời nghe, đặt
mình vào vị trí ngƣời nghe. Phải luôn tôn trọng ngƣời nghe, xƣng hô đúng mực,
tuyệt đối không dùng những từ miệt thị nhƣ: mày, tao, thằng, con, nó, cái. Trong
ngôn ngữ giao tiếp đòi hỏi con ngƣời phải luôn luôn tế nhị và nhạy cảm. Có những
điều nói ra để góp ý cho ngƣời khác là không sai, nhƣng cần bình tĩnh, không nên
góp ý theo phản ứng, mà phải chọn thời điểm thích hợp. Ngƣời có trách nhiệm với
lời nói của mình là phải biết chọn đúng thời điểm thích hợp để nói, đó là khi bản
thân mình và ngƣời nghe đều đang ở trong trạng thái thoải mái, bình tĩnh, không hề
nóng giận. Bằng không, ngƣời nghe sẽ hiểu lầm, sẽ tìm cách phản ứng chống đối
lại, hoặc ít nhất cũng gây cho họ sự lúng túng khó xử. Một ngƣời mắc phải sai lầm
nhƣng họ đã nhận ra và đang có thái độ tích cực sửa chữa thì tốt hơn hết là không
nên góp ý với họ. Tranh luận về một vấn đề nào đó là rất tốt, nhƣng mục đích của
tranh luận là phải đi tới tận cùng vấn đề, phải tìm ra sự đúng sai để rút kinh nghiệm,
cho nên ngƣời nói và ngƣời nghe phải cùng có thiện chí.
Bản tính con ngƣời ai cũng muốn nhận đƣợc những lời khen. Lời khen khéo
léo và thành thật không phải là lời tâng bốc, phỉnh nịnh. Không nên nói những lời
khách sáo hoa mỹ, đề cao quá đáng, chót lƣỡi đầu môi. Dùng lời nói tâng bốc để

Cách ứng xử trong việc lƣu thông trên đƣờng: không có chuyện phóng nhanh,
giành đƣờng, vƣợt ẩu trên đƣờng. Mọi ngƣời chấp hành luật giao thông nhƣ là một
nét văn hóa của ngƣời lái xe. Đặc biệt ở ngã tƣ khi đèn tín hiệu giao thông bất ngờ
trục trặc không hoạt động hay báo hiệu không đúng, thì mọi ngƣời nhƣờng nhau,
mỗi chiều di chuyển khoảng 4, 5 chiếc sau đó tự động nhƣờng đƣờng cho chiều kia
đi. 4, 5 chiếc cứ thế lần lƣợt mà đi không xảy ra kẹt xe dù không có cảnh sát ở đó. Ở
Mỹ có luật cấm uống rƣợu bia khi lái xe, nhƣng điều quan trọng là ý thức tự giác
của mọi ngƣời, hầu nhƣ không ai uống rƣợu bia khi lái xe.
Những con đƣờng nội bộ trong siêu thị, khu mua sắm, khu dân cƣ khi gặp ngƣời đi
bộ băng ngang qua thì tất cả lái xe phải dừng lại nhƣờng đƣờng sau đó mới chạy
tiếp. Xe hơi chạy rất nhiều trên đƣờng cũng nhƣ trong trung tâm thành phố nhƣng
không có một tiếng còi xe. Giữa đêm khuya vắng vẻ không có chiếc xe nào qua lại
nhƣng ngƣời lái xe vẫn chờ đèn xanh ở ngã tƣ bật sáng lên rồi mới tiếp tục chạy.

19


Cách ứng xử nơi công sở, bệnh viện: khi đến công sở, điều đầu tiên nhận đƣợc
là lời chào hỏi của nhân viên làm việc và hỏi anh (chị) có cần đƣợc giúp không? sau
đó rất vui vẻ giải quyết công việc cho bạn đến khi xong và không quên chúc bạn có
một ngày tốt đẹp. Trong bệnh viện, khi bạn đến nhân viên hành chánh nhanh chóng
làm các thủ tục, các cô y tá niềm nở đón bạn vào phòng chờ đợi, sau đó họ đi mời
bác sĩ đến khám bệnh. Các bác sĩ khám bệnh rất tận tình, nói chuyện nhỏ nhẹ với
ngƣời bệnh, thật tuyệt vời trong giao tiếp với bệnh nhân làm cho bệnh nhân cảm
thấy bệnh tình cũng đƣợc thuyên giảm phần nào.
Cách ứng xử trong mua sắm: hàng hóa bạn mua đƣợc đổi hay trả lại trong
vòng một tháng sau khi sử dụng nếu bạn cảm thấy không thích nó và ngƣời bán vui
vẻ nhận lại. Tại mỗi nơi mua sắm đều có một quầy chuyên nhận lại hàng hoá đã bán
mà khách đem trả lại, mọi ngƣời đều vui vẻ không có tiếng cãi vã giữa ngƣời mua
và ngƣời bán. Ở Mỹ khi mua nhà cũng đƣợc trả lại cho ngƣời chủ trong một tháng

lực của mình.
2.1.2 Cách ăn mặc của phương tây tác động tích cực đến lối sống của thanh niên
Việt Nam.
Trong cuộc sống hiện đại, nhu cầu về ăn mặc sao cho đẹp, hợp thời trang rất
đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Vấn đề ăn mặc không đơn thuần chỉ là ăn cho no, mặc
cho ấm mà nó còn thể hiện nhân cách, vẻ đẹp và gu thẩm mỹ của mỗi con ngƣời.
Xã hội ngày càng phát triển, vấn đề ăn mặc càng trở nên quan trọng hơn bao giờ
hết. Thậm chí, nó còn ảnh hƣởng đến đông đảo tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất
là thanh niên. Xƣa nay, ăn và mặc luôn là hai nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Nếu
nhƣ ăn là để duy trì sự sống thì mặc là để bảo vệ cơ thể, làm đẹp bản thân. Khi cuộc
sống cải thiện thì nhu cầu ăn mặc càng đƣợc nâng cao. Trang phục mặc trên ngƣời
không chỉ làm đẹp cho bản thân, tôn trọng bản thân mà còn tạo thiện cảm với mọi
ngƣời. Mặc đẹp, sang trọng, đứng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và môi
trƣờng là điều cần thiết. Nhƣng mặc thế nào để không trở nên lạc lõng với mọi
ngƣời xung quanh mà vẫn làm đẹp cho cộng đồng, xã hội và dân tộc, phù hợp với
xu thế của thời đại là điều quan trọng.
Đối với thanh niên, những đối tƣợng nhạy bén với thời trang, họ nhanh chóng
thích ứng với nhiều xu hƣớng, trƣờng phái, phong cách khác nhau. Một số thanh
niên đã tiếp thu và chọn lọc để có phong cách ăn mặc hài hòa, phù hợp với giới tính,
độ tuổi, hoàn cảnh giao tiếp. Sự tiếp biến ấy giúp các bạn có phong cách thời trang
21


thanh lịch, nhã nhặn nhƣng vẫn hiện đại, trẻ trung và tạo ra hình mẫu thời trang lý
tƣởng. Đó là phong cách thời trang đƣợc mọi ngƣời ƣa chuộng, tán đồng và ngƣỡng
mộ. Đồng thời bên cạnh đó vẻ đẹp trong cách ăn mặc truyền thống không hề bị mất
đi. Chúng ta có thể dể dàng thấy đƣợc điều đó thông qua hình tƣợng chiếc áo dài
truyền thống mà hiện đại.
Do ảnh hƣởng sự giao lƣu phƣơng Tây, chiếc áo dài cổ truyền đã đƣợc cải tiến
thành chiếc áo dài tân thời. Chiếc áo dài đã trở thành một sản phẩm thật độc đáo, nó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status