ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VĂN NAM
(Thích Trí Như) ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO
TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌCGiáo viên hướng dẫn:
TS. Dương Văn Duyên
Hà Nội - 2010
108
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của luận văn 6
7. Ý nghĩa của luận văn 6
8. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC, TƯ
TƯỞNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO 7
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về đạo đức 7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công
nguyên. Người sáng lập là thái tử Tất Đạt Đa (Sidahrtha), họ Gôtama
(Gautama), con vua Tịnh Phạn (một vương quốc Bắc ấn Độ) Phật giáo với
tư cách là một tôn giáo đặc biệt không đề cập đến thần sáng tạo ra thế giới
và con người. Khác với các tôn giáo khác (Kitô giáo: thượng đế, Đạo
Islam: Thánh Allah, Đạo giáo: Trời đại la sinh ra ba Thánh, Đạo Do Thái:
yaroeh (tồn tại mãi), Đạo Bàlamôn: Brahman…). Sự xuất hiện Phật giáo là
nhằm phủ nhận thế giới quan của đạo Bàlamôn, chống lại sự bất bình đẳng
của tôn giáo này, nó đã thể hiện tính tiến bộ, nhân văn nhất định. Phật giáo
đã chứa đựng sự kết hợp hai tư cách: tôn giáo và triết học. Với sự hoà quện
cả hai tư cách tôn giáo và triết học, Phật giáo đã sớm được truyền bá rộng
rãi và có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá các nước châu Á: Trung quốc, Nhật
Bản, Triều Tiên… và Việt Nam. Hiện nay, Phật giáo còn được truyền bá và
phát triển trên phạm vi toàn thế giới.
Phật giáo được truyền bá vào nước ta từ những năm đầu Công nguyên
theo hai con đường là từ Ấn Độ và từ Trung Hoa. Phật giáo đã tồn tại ở
nước ta hơn 18 thế kỷ, một chiều dài lịch sử khá đủ để dân tộc ta khẳng
định và gạn lọc, khẳng định những gì tích cực và hay đẹp, gạn lọc những gì
không hợp. Sự thật hiển nhiên, những tư tưởng nhân văn cao đẹp của Phật
giáo trong kinh sách, nhất là trong giới luật đã ảnh hưởng không nhỏ tới lối
sống, đạo đức của nhân dân Việt Nam trong mấy nghìn năm từ rất nhiều
thế hệ và thuộc mọi tầng lớp.
Giới luật là một trong những nội dung quan trọng nhất trong giáo lý
của Phật giáo. Giới luật hàm chứa những nội dung tư tưởng giáo dục đạo
đức, nhân cách cao đẹp không chỉ đối với người tu hành mà còn ảnh hưởng
2
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000…. Nhìn chung các công trình kể trên
đề cập đến các nội dung nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, nguồn gốc ra đời,
giáo lý của Phật giáo nguyên thủy, các vấn đề về giới luật trong Phật giáo
dành cho người xuất gia cũng như người tại gia một cách rất cụ thể dưới
góc độ tiếp cận của thần học và tôn giáo.
Nghiên cứu về đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay có một số công
trình tiêu biểu sau: Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp
của tác giả Nguyễn Duy Quý chủ biên; Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và
Nguyễn Văn Phúc đồng chủ biên; Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn
giá trị xã hội của tác giả Huỳnh Khái Vinh chủ biên; Lý tưởng đạo đức và
việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay của
Đoàn Văn Khiêm; Giáo dục nhân cách cho tuổi trẻ của Phan Hà Sơn, Phát
triển lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho thanh niên Việt Nam hiện nay của
Nguyễn Đức Tiến….Các công trình trên đã khái quát được những nội dung
chính về tình hình, thực trạng cũng như xu hướng biến đổi của đạo đức
thanh niên nước ta hiện nay. Những giá trị đạo đức thanh niên trong bối
cảnh đổi mới của đất nước cũng như mặt hạn chế trong đạo đức thanh niên
trước tác động của cơ chế thị trường, thông qua đó đề xuất các giải pháp
khác nhau nhằm xây dựng và hoàn thiện đạo đức thanh niên trong công
cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo có các công trình sau: “Đạo đức
Phật giáo trong thời hiện đại” của Trần Văn Giàu, Nxb. Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 1993; Đặng Thị Lan với “Đạo đức Phật giáo với đạo đức con
người Việt Nam”, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, năm 2006; Tạ Chí Hồng
với “Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội
Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, năm 2004; Hoàng
Thị Lan với “Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội
4
Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1/ 2003; Phật giáo với đạo đức,
tâm lí, lối sống người Việt, Tạp chí Giáo dục Lí luận, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Hà Nội, số 5/2003; Từ bi - giá trị nhân
bản của đạo Phật, Kỉ yếu Hội nghị Khoa học nữ lần thứ 8. Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội,…
Điểm qua tình hình nghiên cứu như vậy đã cho thấy vấn đề “Ảnh
hưởng của Giới luật Phật giáo trong giáo dục đạo đức thanh niên Việt
Nam hiện nay” là một chủ đề chưa được nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi hy
vọng với đề tài này sẽ khai thác, bổ sung và khẳng định những giá trị giáo
dục cao đẹp của Phật giáo, khẳng định vai trò Phật giáo trong lịch sử Việt
Nam nói chung và trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận mác xít luận văn phân
tích làm rõ những ảnh hưởng của Giới luật Phật giáo trong giáo dục đạo
đức thanh niên Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có
nhiệm vụ:
Thứ nhất: Luận văn khái quát một số vấn đề lý luận chung về đạo đức
và phân tích những nội dung cơ bản về tư tưởng giáo dục trong Giới luật
Phật giáo.
Thứ hai: Trình bày thực trạng và những yêu cầu về đạo đức thanh niên
ở nước ta hiện nay; phân tích một số ảnh hưởng của Giới luật Phật giáo
trong giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Giới luật Phật giáo và đạo đức thanh niên
Việt Nam hiện nay.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số ảnh hưởng của
Giới luật Phật giáo (chủ yếu là Giới luật dành cho tín đồ Phật tử) trong giáo
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về đạo đức
Thuật ngữ đạo đức (moral) được hình thành rất sớm trong xã hội
chiếm hữu nô lệ, khoảng thế kỷ thứ IV trước công nguyên, gắn liền với tên
tuổi của nhà tư tưởng vĩ đại Aristot (384-322 trước công nguyên). Thời kỳ
xa xôi người ta quan niệm đạo đức là những chuẩn mực chung nhằm điều
chỉnh hành vi con người, sao cho tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa con
người với nhau, giữa con người với xã hội.
Theo tiếng Hy Lạp cổ Ethos là luân lý; là thói quen; là phong tục tập
quán, thông qua đó mà điều chỉnh hành vi con người. Ngoài ra Ethos còn
có nghĩa là nơi cư ngụ, là quê hương, nguồn gốc, lai lịch, họ hàng.
Trong Nho giáo, đạo đức được lý giải ở cương thường, hay mở rộng
ra là luân thường.
Đạo là chỉ những mối quan hệ nhằm duy trì một trật tự từ gia đình
tới xã hội. Đó là mối quan hệ vua, tôi; cha mẹ, con cái; chồng, vợ; anh em;
bạn bè. Trong 5 mối quan hệ trên, 3 mối quan hệ đầu là phục tùng, tạo
thành tam cương: bầy tôi phải trung thành với vua, con cái phải phục tùng
cha mẹ, vợ phải phục tùng chồng. Ta có thể hiểu “Đạo chính là đường đi
lối lại của nề nếp, có phép tắc rõ ràng. Theo nghĩa đen và nghĩa bóng của
từ, đạo là con đường đúng đắn từ nơi đi cho đến nơi tới. Đạo là hệ thống
những nguyên lý, những phép tắc, những quy luật cơ bản của sự vận
động”[15;109].
Đức là những quy định, những yêu cầu phải thực hiện cho đúng trách
nhiệm của mỗi giới, mỗi người. Ví dụ như đối với nữ giới yêu cầu thực
hiện tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh. Đối với nam giới: Nhân, Lễ, Nghĩa,
8
Trí, Tín, Dũng, Liêm. Tất nhiên ở những nước khác nhau, sự ảnh hưởng
của Nho giáo có khác nhau.
hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đạo đức có
tính chất kế thừa. Một chế độ xã hội mất đi, thay thế bằng một chế độ khác,
đạo đức xã hội cũ không mất đi ngay mà trong chế độ xã hội mới, đạo đức
của nó kế thừa những giá trị đạo đức của xã hội cũ. Đạo đức xã hội có đạo
đức thế tục, đạo đức tôn giáo.
Đạo đức được cấu thành từ một số phương diện sau:
Thứ nhất: Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.
Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức đạo đức và thực tiễn
đạo đức (trong đó có hành vi đạo đức).
Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống các quy tắc, các chuẩn mực hành
vi đạo đức phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại trong xã
hội, bao gồm cảm xúc và tình cảm đạo đức của con người. Từ tình cảm,
xúc cảm đạo đức hình thành niềm tin của con người vào những điều tốt
đẹp, thông qua đó mà hướng dẫn hành động của mỗi người sao cho phù
hợp với những yêu cầu chung của xã hội.
Nói về ý thức đạo đức trong "Giáo trình triết học Mác - Lênin"
khẳng định: Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, tốt
xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc và những quy tắc đánh giá, điều
chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với cá nhân
trong xã hội.
Ý thức đạo đức bao gồm:
Bộ phận đầu tiên là: những vấn đề nhận thức luận. Cơ sở triết học của
đạo đức, chức năng, các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức. Bộ phận này bao
gồm những vấn đề mang tính chất lý luận.
10
Bộ phận thứ hai: Tập hợp những chuẩn mực như thói quen, phong tục,
tập quán, nếp sống v.v. Những chuẩn mực này tồn tại trong xã hội, truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Để có ý thức đạo đức con người phải có tri thức đạo đức. Tri thức đạo
như: bất công, trộm cắp, bạo lực tàn bạo…v.v. Những điều đó, người lương
thiện không ai muốn có ở trong xã hội.
Muốn cho hành vi đạo đức đúng đắn chúng ta phải có lý tưởng đạo
đức đúng đắn. Muốn cho lý tưởng đạo đức đi vào trong cuộc sống biến
thành hành vi đạo đức trong xã hội đòi hỏi chúng ta phải bồi dưỡng, xây
dựng tình cảm đạo đức tốt đẹp ở trong mỗi con người.
Tình cảm đạo đức là tình cảm bậc cao của con người, là thái độ, cảm
xúc của con người trước những vấn đề đạo đức trong xã hội. Con người có
sự đồng cảm với những khó khăn bất hạnh trong cuộc sống của những
người khác, lúc đó họ sẽ suy nghĩ những biện pháp, cách thức giúp đỡ
người đó.
Con người có thái độ lên án, căm ghét những việc làm ác, những sự
bất công trong xã hội, lúc đó mới dẫn dắt họ tới thái độ và hành động phản
kháng tình trạng đó ở trong xã hội.
Tình cảm đạo đức có một sức mạnh to lớn trong việc huy động mọi
khả năng, mọi tiềm lực để vượt qua những khó khăn thách thức để làm việc
thiện, tránh những việc làm ác ở trong xã hội. Tình cảm đạo đức vừa mang
tính khách quan vừa mang tính chủ quan.
Những hiện tượng đạo đức trong xã hội mang tính chất khách quan. Ví
dụ như ăn trộm, ăn cắp, giết người vô tội đều bị coi là việc ác; giúp đỡ
người khác, thương những người nghèo khổ đều được coi là việc thiện.
Song tính chủ quan là quan niệm về những hiện tượng đó ở trong xã
hội, tác động của nó gây ra lại mang tính chất chủ quan, phụ thuộc vào tri
thức và lợi ích của mỗi người.
12
Muốn có tình cảm đạo đức đúng đắn ở mỗi người, đòi hỏi chúng ta
phải giáo dục, phải có sự trải nghiệm trong cuộc sống. Làm thế nào cho
mỗi người chúng ta đều có một tấm lòng cảm động trước những việc làm
tốt, việc làm đúng, những tấm gương hy sinh dũng cảm của đồng bào chiến
sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.
Trong một xã hội có nhiều công việc khác nhau, nhiều ngành nghề
khác nhau, ở mỗi một ngành nghề, một công việc đó lại có những biểu hiện
về chuẩn mực đạo đức khác nhau. Xã hội cần xây dựng những chuẩn mực
đạo đức để làm cơ sở cho mọi người lấy đó làm tiêu chuẩn rèn luyện phấn
đấu, lấy đó làm cơ sở để đánh giá mỗi con người. Ví dụ cùng là tinh thần
yêu nước nhưng người công nhân phải thể hiện trong sản phẩm lao động
của mình, phải lao động có trách nhiệm với năng suất cao, chất lượng tốt,
phải thích ứng được cơ chế thị trường. Người cán bộ công chức nhà nước
phải thể hiện trong trách nhiệm trước công việc của mình, phải hoàn thành
những trách nhiệm công việc mà xã hội giao cho, phải xem xét giải quyết
những công việc cho nhân dân như giải quyết công việc của chính mình.
Tinh thần yêu nước của người bác sỹ phải thể hiện trong công việc hàng
ngày, phải hết lòng chăm sóc bệnh nhân, phải thực hiện "lương y như từ
mẫu", không được gây phiền hà, khó dễ cho bệnh nhân. Tinh thần yêu nước
của lực lượng vũ trang, công an, quân đội phải thể hiện trong công việc bảo
vệ an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Tinh thần yêu nước
của học sinh, sinh viên phải thể hiện trong ý thức học tập, tinh thần vượt
khó để nắm vững kiến thức khoa học, không ngừng sáng tạo để có một
kiến thức vững vàng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
sau này.
Trên cơ sở ý thức đạo đức, con người ta hành động thể hiện ra bên
ngoài, tạo thành hành vi đạo đức. Thực tiễn đạo đức (hành vi đạo đức) là
hành động của con người do ảnh hưởng niềm tin, của ý thức đạo đức, là
14
quá trình hiện thực hóa niềm tin, lý tưởng đạo đức thành hiện thực trong
đời sống xã hội. Ý thức đạo đức và hành vi đạo đức có quan hệ gắn bó với
nhau. Có ý thức đạo đức đúng đắn, mới có hành vi đạo đức đúng. Ngược
lại, hành vi đạo đức lại tác động trở lại ý thức đạo đức.
Quan hệ giữa con người với con người như quan hệ giữa cha mẹ với
con cái; vợ chồng, anh em, bạn bè…
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội như quan hệ giữa cá nhân mỗi người
với tập thể, quan hệ giữa mỗi người với làng, xã, quan hệ giữa mỗi công
dân với đất nước. Những quan hệ này đều là quan hệ hai chiều. Một mặt cá
nhân phải có trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội như trách nhiệm tôn
trọng những quy định chung của tập thể, của làng xã, trách nhiệm của mỗi
công dân với đất nước. Mặt khác, tập thể, cộng đồng, xã hội phải bảo vệ lợi
ích chính đáng cho mỗi người.
Những quan hệ đạo đức do điều kiện kinh tế - xã hội quy định. Do
vậy, một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì trước sau những quan hệ
đạo đức trong xã hội sẽ thay đổi theo. Ví dụ trước đây trong quan hệ vợ
chồng, người vợ phải tuyệt đối phục tùng chồng “phu xướng, phụ tùy” thì
nay là bình đẳng, tôn trọng nhau.
Hiện nay, Việt Nam đang phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường,
định hướng xã hội chủ nghĩa và quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, do
vậy quan hệ đạo đức trong xã hội và trong gia đình có những thay đổi trên
nhiều phương diện. Trong quan hệ gia đình, cha mẹ và con cái, vợ và
chồng ngày càng bình đẳng hơn. Cha mẹ tôn trọng những nguyện vọng
chính đáng của con cái. Vợ chồng tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của nhau,
cùng nhau giải quyết mọi việc trong gia đình. Tuy nhiên, do tác động của
cơ chế thị trường, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình có xu hướng
lỏng lẻo hơn, “Thiếu trách nhiệm, thiếu gương mẫu trong quan hệ vợ
16
chồng, quan hệ giữa cha mẹ với con cái và ngược lại”[95;204]. “Hôn nhân
dựa trên tính toán vị kỷ, trên cơ sở đồng tiền, địa vị xã hội có xu hướng gia
tăng”[95;202-203].
Trong xã hội, tính tích cực xã hội, tính năng động sáng tạo, ý thức,
trách nhiệm trong công việc ngày càng được nâng cao, tư tưởng ỷ nại trong
quán, trong tôn giáo và mang tính phổ quát của cộng đồng đó.
Dựa trên cơ sở những lợi ích chung mà người ta xây dựng những
chuẩn mực đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi đạo đức của các thành viên
trong xã hội sao cho phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội, đảm bảo
cho xã hội ổn định và phát triển.
Đạo đức cá nhân là đạo đức của từng cá nhân riêng lẻ, trong cộng
đồng, khẳng định sự tồn tại của các cá nhân với những nét riêng biệt, thể
hiện cá nhân ấy là một cá thể độc lập trong cộng đồng.
Đạo đức cá nhân trong cộng đồng là đa dạng, phong phú bao gồm
những nét chung của thời đại, của dân tộc, những nét đặc thù của từng vùng
cá nhân sinh sống, giai cấp, tầng lớp xã hội cá nhân đó tồn tại và mang cả
những nét của dòng họ, gia đình mà đặc biệt là nét riêng của cá nhân đó.
Mỗi thời kỳ lịch sử đạo đức xã hội có những thay đổi, đòi hỏi mỗi cá
nhân phải thường xuyên học tập, nghiên cứu và không ngừng bổ sung,
hoàn thiện những phẩm chất đạo đức của cá nhân mình sao cho phù hợp
với yêu cầu của xã hội.
Đạo đức cá nhân là đa dạng, phong phú. Cùng một phẩm chất đạo đức
nhưng mỗi người lại có cách biểu hiện mang những nét riêng, song dù có
đa dạng phong phú tới đâu, sự biểu hiện đó phải tuân thủ theo những chuẩn
mực chung của xã hội.
18
Quan hệ giữa đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là mối quan hệ giữa
cái chung và cái riêng. Đạo đức xã hội là cái chung mang tính khái quát.
Đạo đức cá nhân là cái riêng, do vậy vô cùng đa dạng và phong phú.
Đạo đức cá nhân là đa dạng, phong phú, nhưng không bao giờ bao
hàm hết những chuẩn mực chung của đạo đức xã hội. Trên cơ sở những
chuẩn mực chung đạo đức xã hội, mỗi cá nhân từ cách nhìn nhận, đánh giá
riêng của mình, từ đó mà tiếp nhận những phẩm chất chung đó.
Sự tiếp nhận những phẩm chất đạo đức chung của xã hội ở mỗi cá
Muốn xã hội tốt, quan hệ đạo đức xã hội lành mạnh đòi hỏi từng con
người phải có những phẩm chất đạo đức tốt. Không thể có một xã hội tốt,
khi từng thành viên trong xã hội thiếu đạo đức, thiếu văn minh.
Mỗi gia đình cần phải quan tâm tới giáo dục đạo đức, từng con người
phải quan tâm tới giáo dục đạo đức, từng người hàng ngày, hàng giờ phải
quan tâm rèn luyện, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, hiểu
được những nghĩa vụ đạo đức, thực hiện theo những yêu cầu, chuẩn mực
đạo đức trong xã hội chúng ta mới có được một xã hội lành mạnh.
Để có được điều đó, một mặt xã hội phải quan tâm xây dựng những
chuẩn mực đạo đức phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử, với yêu cầu mỗi
công việc, phải tuyên truyền phổ biến để mọi người hiểu và làm theo, mặt
khác phải tạo ra dư luận xã hội cổ vũ, động viên những việc làm đúng,
những tấm gương sáng. Mặt khác phải phê phán những kẻ làm sai, những
hành vi tội ác.
1.2. Tư tưởng giáo dục đạo đức trong Giới luật Phật giáo.
1.2.1. Khái quát một số nét chung về Giới luật Phật giáo
Giới luật là một trong những nội dung quan trọng trong giáo lý của
Phật giáo. Giới luật có vai trò không chỉ làm cơ sở để ổn định tổ chức của
giáo hội, tăng, ni, chức sắc tôn giáo mà còn là những điều răn dạy đối với
các tín đồ Phật tử và là nền tảng của đạo đức Phật giáo.
20
Giới luật được hiểu theo tiếng Phạn như sau:
Hiểu theo nghĩa chung, Giới luật được phiên âm từ chữ Pàtimokkha
Từ Pàtimokkha được ghép từ Pàti có nghĩa là hướng về, theo chiều hướng;
và Mokkha có nghĩa là giải thoát. Theo đó Pàtimokkha có nghĩa là hướng
đến sự giải thoát. Theo tiếng Hán cổ dịch Pàtimokkha là những hành vi giới
hạnh, học tập và tu dưỡng đưa đến sự giải thoát.
Nếu hiểu theo nghĩa riêng, tách biệt giữa giới và luật thì Giới luật
được hiểu như sau:
phối theo luật nhân duyên. Để được giải thoát khỏi kiếp sống trần luân khổ
đau, và tạo được “nghiệp tốt”, chúng sinh phải tuân theo Giới luật, những
điều mà đức Phật răn dạy. Đây chính là cơ sở để Phật giáo đưa ra Giới luật
của mình buộc mọi người phải tuân theo.
Tại sao phải đưa ra Giới luật? Theo quan niệm của Phật giáo căn
nguyên những đau khổ của con người đó là “Tứ diệu đế” (Catvari-arya-
satya). “Tứ diệu đế” bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
“Khổ đế” (Dukkha-satya) là định đề đầu tiên nói về những nỗi khổ của
con người. Theo Phật giáo có tám cái khổ (bát khổ) reo rắc trong đời sống
con người. Ngoài bốn nỗi khổ do sinh, lão, bệnh, tử gây ra con người ta còn
khổ vì yêu thương nhau mà phải xa nhau (thụ biệt ly). Khổ vì oán ghét
nhau mà phải sống, hội tụ với nhau (oán tăng hội). Khổ vì muốn mà không
được (sở cầu bất đắc) và khổ vì sự cảm thụ, sự tụ hội của ngũ uẩn (thụ ngũ
uẩn). Con người ở đâu, làm gì cũng khổ. Đời là bể khổ.
“Tập đế” (Samarudays-satya) đề cập đến nguyên nhân tạo ra những
nỗi khổ của con người. Phật giáo cho rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
nỗi khổ đau của con người là do lòng tham, sân, si vô độ. Con người muốn
trường tồn mãi mãi, nhưng thực tại luôn thay đổi, biến hóa trong vòng sinh,
lão, bệnh, tử. Không có cái gì thực là ta, của ta nhưng vì lòng tham, sân, si
vô độ mà lầm tuởng là có ta, của ta và do ta, nên con người cứ khát ái, tham