TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa 2011 – 2013
HỆ: Bằng 2
CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Giảng viên hướng dẫn:
THÂN THỊ NGỌC BÍCH
Sinh viên thực hiện:
LÊ ANH TUẤN
Lớp: Luật Hành chính
MSSV: B110091
Cần Thơ, tháng 4/2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
....................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
NHẬN XÉT GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
....................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
1 Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................... 1
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài .................................................................................... 2
3. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................. 2
4. Kết cấu của luận văn .................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. Một số khái niệm có liên quan ................................................................................. 3
1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất ....................................................................... 3
1.1.2. Khái niệm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ...................................... 6
1.2. Đặc điểm của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất........................................... 8
1.2.1. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chỉ có tác dụng chuyển quyền sử
dụng đất .............................................................................................................................. 8
1.2.2. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng thực tế...................... 8
1.2.3. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có đền bù ... 10
1.3. Các nguyên tắc giao kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất..................... 10
1.3.1. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã
hội ............................................................................................................................ 11
1.3.2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng ... 11
1.4. Ý nghĩa của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất........................................ 12
1.5. Lược sử các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất................................................................................................................... 14
1.5.1. Giai đoạn trước năm 2003 .................................................................... 14
1.5.2. Giai đoạn từ năm 2003 đến nay ............................................................ 18
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
2.1. Chủ thể của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ....................................... 20
2.1.1. Đối với bên tặng cho quyền sử dụng đất ............................................... 20
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 58
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một trong những hợp đồng quan trọng
của giao dịch dân sự nói chung, bởi nó là một quan hệ dân sự phổ biến trong cuộc sống
của nhân dân ta và là một trong những phương thức pháp lý hữu hiệu giúp cho cá
nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện việc chuyển quyền sử
dụng đất nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sản xuất kinh doanh và trong đời sống sinh
hoạt hàng ngày.
Trên phương diện lý luận, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một dạng
của hợp đồng tặng cho tài sản. Do tài sản trong hợp đồng này là quyền sử dụng đất một tài sản đặc biệt quan trọng, vì thế việc dịch chuyển nó thông qua hợp đồng tặng
cho được pháp luật quy định chặt chẽ hơn nhiều so với việc tặng cho các tài sản thông
thường khác.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực nêu trên của hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
đã quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ và tương đối hoàn thiện về việc xác lập, thực hiện
cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tạo nên
sự ổn định về quan hệ tặng cho quyền sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay, góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên trên thực tế, việc tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta diễn ra rất đa
dạng, phong phú và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, mỗi thời kỳ có những nét riêng
biệt của nó do sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, dẫn đến những
diễn biến phức tạp trong cả nhận thức cũng như trên thực tiễn. Hiện nay, các tranh
chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diễn ra ngày càng nhiều và rất phức tạp,
có không ít vụ án được xét xử nhiều lần với nhiều cấp xét xử khác nhau nhưng vẫn còn
có những thắc mắc, những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau gây nên
nhiều tranh luận, bàn cãi...
Vì vậy việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hợp đồng tặng
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. Một số khái niệm có liên quan
Trong giao dịch tất cả các giao dịch về đất đai nói chung và giao dịch về tặng
cho quyền sử dụng đất nói riêng, đó là việc thực hiện chuyển quyền sử dụng đất. Tặng
cho quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng tặng cho, tìm hiểu khái
niệm cụ thể về quyền sử dụng đất và khái niệm về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất là tìm hiểu như thế nào là quyền sử dụng đất và như thế nào là hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất. Thông qua đó tạo tiền đề để nghiên cứu những vấn đề khác có liên
quan.
1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên quốc gia, nó có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống
như là tư liệu sản xuất, là điều kiện quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa
bàn phân bổ dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh quốc gia. Mặt khác, dân
số ngày càng tăng, các công trình xây dựng (điện, nước, giao thông...) ngày càng nhiều
nên diện tích đất canh tác ngày càng giảm dẫn đến tình trạng nhiều người không có
việc làm, thiếu ruộng đất để sản xuất, canh tác, làm mất ổn định xã hội. Việt Nam là
một nước đi lên từ nền sản xuất nông nghiệp, là nước xuất khẩu lúa gạo thứ hai trên
thế giới, do đó, đất đai càng có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của nước
ta. Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Ðất đai, rừng núi, sông
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và
vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc
các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc
phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều
thuộc sở hữu toàn dân”, Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai 2003 cũng quy
định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Như vậy, ở
nước ta, đất đai không thuộc sở hữu của bất kỳ một nhân riêng lẻ nào, mà thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là đối với đất đai, người
dân không có quyền định đoạt, chiếm hữu mà chỉ có quyền sử dụng mà thôi. Vậy,
quyền sử dụng đất được hiểu như thế nào?
Về khái niệm quyền sử dụng đất, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo
dụng đất trong khuôn khổ các quy định này. Điều đó có nghĩa là thông qua quá trình
sử dụng đất của người sử dụng đất mà các ý định sử dụng đất của Nhà nước sẽ trở
thành hiện thực, đồng thời người sử dụng đất trong quá trình sử dụng phải đóng góp
một phần lợi ích mà họ thu được từ việc sử dụng đất dưới những nghĩa vụ vật chất cho
Nhà nước như nộp thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, nộp lệ phí địa
chính, lệ phí trước bạ...
1
Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học năm 2006, trang 655
Tiến sĩ Lê Xuân Bá chủ biên, Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản trong công cuộc đổi mới ở
Việt Nam năm 2003, trang 83
3
Điều 192 BLDS 2005
2
Quyền sử dụng đất của người sử dụng đất có từ Luật Đất đai 1993 nhưng rất
hạn chế. Đến khi Luật Đất đai 2003 được ban hành thì quyền sử dụng đất mới hoàn
chỉnh và đầy đủ, bao gồm tám quyền năng như: quyền chuyển đổi, tặng cho, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, thừa kế, bảo lãnh và góp vốn bằng quyền sử
dụng đất. Mặc dù quyền sử dụng đất được tham gia vào các giao dịch chuyển nhượng
trên thị trường song giữa quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử dụng đất vẫn
có sự khác nhau và chúng ta không đồng nhất giữa hai loại quyền này vì giữa chúng có
sự khác nhau cả về nội dung lẫn hình thức và ý nghĩa, cụ thể:
- Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước) còn quyền sử dụng đất là
quyền phái sinh (có sau), xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho
phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Quyền sở hữu đất đai là một quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất là
một loại quyền không trọn vẹn, đầy đủ. Tính không đầy đủ của quyền sử dụng đất
được thể hiện ở các điểm sau:
Việc thực hiện các quyền này có một số đặc điểm như: đó là các quyền tài sản gắn liền
với một tài sản đăc biệt đó là đất đai; phạm vi chủ thể tham gia bị hạn chế; hình thức,
trình tự thủ tục thực hiện các quyền năng của người sử dụng đất được pháp luật quy
định chặt chẽ, ...
Như vậy, quyền sử dụng đất của Nhà nước mang tính gián tiếp và trừu tượng.
Ngược lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng mang tính trực tiếp và cụ thể.
1.1.2. Khái niệm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường phải tham gia vào nhiều mối
quan hệ xã hội khác nhau, một trong những mối quan hệ xã hội đó chính là hợp đồng
dân sự. Thông qua hợp đồng dân sự, con người chuyển giao cho nhau các lợi ích vật
chất nhằm đáp ứng các yêu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng hàng ngày. Như vậy hợp
đồng dân sự là một loại giao dịch phổ biến, thông dụng và diễn ra thường xuyên trong
đời sống của con người, nó chiếm giữ một vị trí quan trọng trong việc thiết lập các
quan hệ tài sản giữa người với người và đóng một vai trò lớn trong đời sống xã hội.
Bên cạnh các giao dịch thông thường trong cuộc sống như mua bán, vay mượn,
cầm cố, thế chấp tài sản thì để thỏa mãn các nhu cầu trong sản xuất, tiêu dùng, con
người còn tặng cho nhau những tài sản nhất định. Theo quy định tại Điều 465 Bộ luật
Dân sự 2005 (BLDS 2005) thì: "Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được
tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận".
Từ quy định trên của BLDS 2005 ta thấy, cũng như các hợp đồng thông dụng
khác, tặng cho tài sản chỉ làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi bên được tặng cho nhận
tài sản. Như vậy, hợp đồng tặng cho là một hợp đồng thực tế, đặc điểm thực tế của hợp
đồng được thể hiện ở chỗ: khi bên được tặng cho nhận tài sản thì khi đó quyền của các
bên mới phát sinh hay nói cách khác là hợp đồng được coi là ký kết và có hiệu lực khi
các bên chuyển giao tài sản. Hợp đồng tặng cho còn là hợp đồng không có đền bù,
điều này được thể hiện ở chỗ: bên tặng cho chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản
cho bên được tặng cho, còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng
chỉ là sự thỏa thuận để dịch chuyển quyền sử dụng đất từ bên tặng cho sang bên được
tặng cho mà nó còn là sự thỏa thuận để làm phát sinh hay chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một dạng của hợp đồng tặng cho tài
sản nên nó cũng có đặc điểm là một hợp đồng thực tế, nghĩa là chỉ khi nào bên tặng
cho chuyển giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho và bên được tặng cho nhận
được quyền sử dụng đất đó thì hợp đồng coi như mới có hiệu lực. Đồng thời hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất còn là hợp đồng không có đền bù, đặc điểm này được thể
hiện ở việc bên tặng cho chuyển giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho, còn
bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng cho bất kỳ lợi ích nào.
1.2. Đặc điểm của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng tặng cho tài sản, do vậy nó
cũng có đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng tặng cho. Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất có các đặc điểm sau đây:
1.2.1. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chỉ có tác dụng chuyển quyền sử
dụng đất
Đây là điểm khác biệt của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với hợp đồng
tặng cho thong thường. Điểm khác biệt đó xuất phát từ đối tượng của hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất bởi đối tượng tài sản tặng cho của hợp đồng chỉ là quyền tài sản
còn bản than mảnh đất là tài sản của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý nên hợp
đồng này không chuyển quyền sở hữu tài sản như hợp đồng tặng cho tài sản thông
thường mặc dù, về mặt lý luận, hợp đồng tặng cho được xếp vào nhóm các hợp đồng
chuyển quyền sở hữu tài sản. Chính vì lẽ đó, Luật đất đai năm 2013 quy định:
“Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang
người khác thong qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất”.
1.2.2. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng thực tế
Cũng như các hợp đồng tặng cho tài sản khác, hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất và đã giao đất đó cho bên được tặng cho khai thác, sử dụng nhưng chưa đăng
ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này
vẫn chưa có hiệu lực. Bên được tặng cho mặc dù đã nhận đất, đã khai thác sử dụng đất
nhưng theo quy định của pháp luật thì việc tặng cho này chưa hoàn thành về mặt thủ
tục nên chưa làm phát sinh quyền của bên được tặng cho và chưa được Nhà nước công
nhận về quyền sử dụng đất này. Do vậy, bên tặng cho vẫn có quyền đòi lại quyền sử
dụng đất đã giao.
1.2.3. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có đền bù
Trong cuộc sống, con người ta thường sử dụng hợp đồng như một phương tiện để
trao đổi các lợi ích vật chất cho nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu
dùng, nhưng ngoài ra con người cũng còn sử dụng hợp đồng như là một phương tiện
để giúp đỡ lẫn nhau. Một trong những phương tiện thường được con người sử dụng để
giúp nhau đó là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Đối với hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất thì tiền đề để hình thành nên nó là các mối quan hệ tình cảm sẵn có
giữa các chủ thể, trên cơ sở của mối quan hệ tình cảm ấy, các chủ thể thiết lập với
nhau hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để giúp đỡ lẫn nhau nhằm thỏa mãn nhu
cầu về sử dụng đất. Vì vậy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không
có đền bù và thường được giao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tương thân tương
ái giữa những người có quan hệ họ hàng thân thuộc hoặc quen biết nhau.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có đền bù, đặc điểm
này được thể hiện ở chỗ: bên tặng cho chuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho
bên được tặng cho, còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng cho
bất kỳ một lợi ích nào. Đây chính là điểm cho phép chúng ta phân biệt giữa hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất với các hợp đồng dân sự khác như: hợp đồng vay tài sản,
hợp đồng mua bán tài sản...
1.3. Các nguyên tắc giao kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Như đã phân tích, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có
đền bù, có nghĩa là trong hợp đồng này, một bên thực hiện cho bên kia một lợi ích mà
ta – xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo
đức xã hội không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào được lợi dụng ý chí tự do để
biến những hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đát nói
riêng thành phương tiện để vi phạm pháp luật. Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của
mình, các chủ thể phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác, của toàn xã hội; tự do
của mỗi chủ thể không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Lợi ích của cộng đồng, của
toàn xã hội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự
do ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành
vi của chủ thể nói chung.
1.3.2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng6
Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồng
dân sự nói chung, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói riêng không ai bị cưỡng
ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình, đồng thời thể hiện bản chất của quan
hệ pháp luật dân sự. Quy luật giá trị đòi hỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ
trao đổi phải bình đẳng với nhau; không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh
kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng
trong quan hệ dân sự. Hơn nữa, ý chí tự nguyện của cac bên chủ thể tham gia hợp
đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện. Chính
vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình đẳng
và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể. Tuy nhiên, trên thực tế thì việc đánh
giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên hay chưa,
trong một số trường hợp lại là một công việc hoàn toàn không đơn giản và khá phức
tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan và khách quan khác nhau.
Như chúng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên
trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự thống nhất ý chí của
chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong nội dung hợp đồng mà chủ thể
5
6
V.I. Lênin toàn tập, tập 36, Nxb.Sự thật, 1959, tr.577
định về tặng cho quyền sử dụng đất là một trong những bước tiến mới có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở nước ta nói chung,
cũng như pháp luật về đất đai nói riêng, đồng thời nó có ý nghĩa thiết thực trong thực
tế cuộc sống. Trước hết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Nhà nước quy
7
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch
về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
8
Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện
giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của
cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.
định và thừa nhận nên mọi người đã coi hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một
phương tiện pháp lý quan trọng, đảm bảo cho việc dịch chuyển quyền sử dụng đất từ
người này sang người khác nhằm đáp ứng các nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh.
Chính yếu tố này đã thúc đẩy con người tặng cho nhau quyền sử dụng đất để khai thác,
sử dụng đất một cách hợp lý và có hiệu quả. Mặt khác khi Nhà nước công nhận hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất có hiệu lực, tức là Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất hợp pháp của bên được tặng cho, điều đó sẽ thúc đẩy bên được tặng cho gắn
bó hơn với đất đai mà họ được sử dụng, họ sẽ tích cực đầu tư công sức để cải tạo đất
đai đồng thời ra sức tăng gia sản xuất hoặc đẩy mạnh kinh doanh trên phần đất của
mình. Như vậy với việc quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất đã đáp ứng được nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh của nhân dân, nó điều phối và
thúc đẩy việc sử dụng đất một cách hợp lý và có hiệu quả, góp phần làm cho sản xuất,
kinh doanh ngày càng phát triển.
- Là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tặng cho quyền sử dụng đất:
Mặc dù Nhà nước thừa nhận người sử dụng đất hợp pháp có quyền tặng cho người
khác quyền sử dụng đất của mình nhưng phải theo đúng các quy định của pháp luật về
Ở nước ta, quyền tặng cho quyền sử dụng đất mặc dù đến Luật đất đai năm
2003 mới được quy định, nhưng trên thực tế việc tặng cho đất đai đã hình thành từ lâu,
có thể nói quyền tặng cho này đã manh nha xuất hiện từ thời Nhà nước phong kiến.
Các triều đại phong kiến bên cạnh việc cho phép mua bán, cầm đợ đất đai thì tặng cho
đất đai tuy chưa được quy định cụ thể nhưng cũng được Nhà nước thừa nhận, điều này
được lý giải bởi việc quy định và bảo vệ các hình thức sở hữu về đất đai của Nhà
nước.
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, thường tồn tại hai hình thức sở hữu:
Sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân về ruộng đất, sở hữu tư nhân về ruộng đất chính
thức được Nhà nước phong kiến Lý - Trần thừa nhận bằng các đạo chiếu 1135, 1142.
- Chiếu 1135 quy định: "Cấm những người đã bán ruộng ao không được trả
tăng tiền lên để chuộc lại".9
- Chiếu 1142 quy định: "Những người bán đứt ruộng đất đã có văn khế rồi thì
không được chuộc lại nữa, làm trái bị phạt 80 trượng".10
Nhà nước Lý - Trần ngoài việc thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về đất đai thì
còn bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các sở hữu chủ,
cụ thể như sau:
- Chiếu 1028 quy định về lệnh xử phạt binh lính cướp của dân: "Ai cướp bóc
của dân thì chém".11
- Chiếu 1043 quy định: "Kẻ nào ăn cắp lúa má và tài vật của dân đã thành xử
100 trượng, chưa thành mà cố ý gây thương tích xử tội lưu". 12
9
Việt sử thông giám cương mục, Quyển 5, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội năm 1975, tr. 36
Việt sử thông giám cương mục, Quyển 5, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội năm 1975, tr.39
11
Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, bản dịch Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1983, tr. 257
12
Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1983, tr 243
10
Đến Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm 1993, Nhà nước đã cho phép
người sử dụng đất hợp pháp được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật, nhưng các văn bản pháp luật trong thời gian này chưa có văn bản nào đề cập hoặc
quy định về quyền tặng cho quyền sử dụng đất.
BLDS 1995 ra đời, đã quy định quyền sử dụng đất là tài sản và người sử dụng
đất có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử
dụng đất. Riêng đối với tặng cho quyền sử dụng đất thì Bộ luật không quy định, như
vậy có thể thấy: Trong suốt giai đoạn từ năm 1980 đến trước ngày Luật đất đai năm
2003 có hiệu lực thì pháp luật nước ta chưa có văn bản pháp luật nào quy định về hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
1.5.2. Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Để đáp ứng các yêu cầu thực tế của người sử dụng đất, Luật đất đai năm 2003
ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đã quy định cụ thể về quyền tặng cho quyền sử
dụng đất, các điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất v.v... trên cơ sở đó BLDS 2005
được ban hành, đã quy định chi tiết, cụ thể về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; vì
đối tượng của loại hợp đồng tặng cho này là quyền sử dụng đất - một loại tài sản đặc
biệt quan trọng nên việc tặng cho nó được pháp luật quy định chặt chẽ hơn nhiều so
với việc tặng cho các loại tài sản thông thường khác. Theo quy định của pháp luật thì
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được quy định cụ thể như sau:
- Về chủ thể của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất: là những người (cá
nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế...) đủ điều kiện theo quy định của pháp
luật mới được tặng cho hoặc nhận tặng cho quyền sử dụng đất.
- Hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất: phải được lập thành văn
bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật và phải đăng ký tại cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Nội dung của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất: phải được thực hiện theo
đúng quy định tại Điều 723 BLDS 2005, bao gồm các vấn đề sau:
+ Tên, địa chỉ các bên;
dài thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất. Để mở rộng quyền năng cho
người sử dụng đất, Nhà nước cho phép họ có quyền tặng cho quyền sử dụng đất, tuy
nhiên với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước quy định các điều kiện về tặng cho
quyền sử dụng đất nhằm quản lý đất đai được tốt hơn.
Trong quan hệ tặng cho quyền sử dụng đất, các chủ thể của hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất bao gồm: Bên tặng cho quyền sử dụng đất (cá nhân, pháp nhân, hộ
gia đình...) và bên được tặng cho quyền sử dụng đất (cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng
dân cư...). Vì quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt nên người sử dụng đất phải
đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậy chủ thể của
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không những phải có đầy đủ các điều kiện mà
pháp luật quy định đối với chủ thể của một giao dịch dân sự thông thường mà còn phải
có các điều kiện chặt chẽ khác.
2.1.1. Đối với bên tặng cho quyền sử dụng đất
2.1.1.1. Điều kiện chung
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 122, BLDS năm 2005 thì người tham
gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự, đây là một trong những điều kiện bắt
buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực. Do đó đối với chủ thể tham gia giao dịch tặng
cho quyền sử dụng đất phải là người có năng lực hành vi dân sự.
- Đối với cá nhân khi tham gia vào giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất thì tư
cách chủ thể của nó phải được xác định thông qua năng lực hành vi dân sự. Tại Điều
17 BLDS năm 2005 quy định: "Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của
cá nhân đó bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự". Như
vậy có thể thấy cá nhân chỉ được coi là có đầy đủ năng lực hành vi dân sự khi người
đó bằng khả năng của mình, nhận thức được đầy đủ về hành vi, công việc và hậu quả
pháp lý của việc mình làm, đồng thời có đủ khả năng điều khiển các hành vi của mình.
Theo quy định từ Điều 20 đến Điều 23 của BLDS năm 2005 thì người thành
niên từ đủ 18 tuổi trở lên, không mắc bệnh tâm thần hay bệnh khác làm mất khả năng