BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGÔ CÔNG LỢI
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THẾ
CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT LÀ
NHÀ Ở TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGÔ CÔNG LỢI
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THẾ
CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT LÀ
NHÀ Ở TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
1.2.2. Chủ thể nhận thế chấp..................................................................... 20
1.2.3. Quyền sử dụng đất dùng làm tài sản thế chấp ................................ 20
1.2.4. Về hình thức hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ...................... 22
1.2.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ thế chấp
quyền sử dụng đất ..................................................................................... 24
1.2.6. Về đăng ký thế chấp và hiệu lực của việc thế chấp quyền sử dụng
đất .............................................................................................................. 25
1.2.7. Chấm dứt quan hệ thế chấp quyền sử dụng đất .............................. 25
1.2.8. Về xử lý quyền sử dụng đất thế chấp.............................................. 26
Chƣơng 2 THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 27
1.1. THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN ............................................................... 27
2.1.1. Việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung rất khó do nguồn
gốc xác lập quyền sử dụng đất với thời điểm đƣợc công nhận quyền sử
dụng đất, nhận chuyển nhƣơng quyền sử dụng đất .................................. 27
2.1.2. Khó xác định tƣ cách tham gia giao dịch của hộ gia đình sử dụng
đất do hộ gia đình không còn là chủ thể độc lập theo quy định của Bộ luật
dân sự ........................................................................................................ 29
2.1.3. Bảo đảm sự tham gia đầy đủ các thành viên hộ gia đình sử dụng đất
từ đủ 15 tuổi trở lên là không khả thi và gây khó cho các thủ tục thế chấp
quyền sử dụng đất ..................................................................................... 31
2.2. THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC CHƢA CÓ
QUY ĐỊNH NÊN GÂY KHÓ KHĂN KHI TỔ CHỨC THỰC HIỆN
QUYỀN THẾ CHẤP ................................................................................... 35
2.3. THỰC HIỆN THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT GIỮA CÁ NHÂN VỚI CÁ NHÂN, CÁ NHÂN VỚI TỔ CHỨC
KHÔNG PHẢI LÀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG ............................................... 38
quyền năng nhƣ: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. QSDĐ cũng trở thành tài
sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch tín dụng (giao dịch thế
chấp). Không có tài sản bảo đảm một cách an toàn thì hoặc sẽ không có các
giao dịch cho vay, hoặc có thì rủi ro đối với bên cho vay là rất lớn, nguồn vốn
vì thế mà không thể phân bổ hiệu quả và an toàn thông qua thị trƣờng tiền tệ.
Và nhƣ vậy, thế chấp tài sản, trong đó có thế chấp QSDĐ là điều kiện có tính
tiên quyết đảm bảo cho sự vận hành một cách an toàn cho thị trƣờng tiền tệ.
Tuy nhiên, là một loại quyền tài sản phái sinh từ chế độ sở hữu toàn dân về
đất đai nên việc quy định bản thân QSDĐ và thế chấp QSDĐ là khá phức tạp,
mang tính đặc thù cao. Các điều kiện và thủ tục thế chấp, quy trình xử lý
QSDĐ khi giải chấp khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với các tài sản thông
thƣờng khác. Điều đó cũng lý giải vì sao sự vận hành thế chấp bằng QSDĐ
thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập. Trên thực tế rất khó để đƣa QSDĐ vào vận
hành trong thị trƣờng tín dụng một cách thuận lợi, phù hợp với quyền, lợi ích
của các bên.
Về lý luận, có các quy định về thế chấp QSDĐ tạo điều kiện thuận lợi để
mở rộng các giao dịch dân sự, thƣơng mại, kinh doanh v.v… kích thích phát
triển kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng; xây dựng, hoàn
thiện, bảo đảm thực hiện pháp luật thế chấp QSDĐ là yêu cầu khách quan,
cấp bách ở nƣớc ta hiện nay. Về thực tiễn, quy định về thế chấp QSDĐ, trong
30 năm qua đã đạt đƣợc những kết quả quan trọng. Thế chấp tài sản nói chung
2
và thế chấp QSDĐ nói riêng là một trong những biện pháp hữu hiệu để hạn
chế những rủi ro, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự, kinh
tế, thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng. Khi xác lập quan hệ thế chấp nói
chung và thế chấp QSDĐ nói riêng, mục đích mà các bên hƣớng tới là bảo
đảm an toàn các giao dịch. Đối với bên nhận thế chấp là QSDĐ (thƣờng là
đảm quyền của ngƣời sử dụng đất” của Trần Quang Huy đã phân tích pháp
luật đất đai trong việc bảo hộ các quyền kinh tế của ngƣời sử dụng đất; pháp
luật đất đai đối với việc giải quyết các vấn đề đất đai do lịch sử để lại; pháp
luật đất đai đối với việc cấp các giấy tờ về QSDĐ; pháp luật đất đai trong bối
cảnh của sự phát triển, các vấn đề kinh tế - xã hội mà Nhà nƣớc phải chăm lo
cho ngƣời sử dụng đất và pháp luật đất đai về sở hữu nhà ở tại Việt Nam đối
với ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài.2
- Cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất tại
các tổ chức tín dụng ở Việt Nam - Thực trạng và hƣớng hoàn thiện” của
Nguyễn Thị Nga đã phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp để góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thế chấp QSDĐ
nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho sự phát triển thị trƣờng vốn, thị trƣờng bất
động sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.3
- Bài viết “Một số suy nghĩ xung quanh các quy định về hợp đồng thế
chấp sử dụng đất trong Bộ luật dân sự các văn bản pháp luật hiện hành” của
Nguyễn Quang Tuyến, đã phân tích, bình luận một số vấn đề liên quan đến
các quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng thế chấp QSDĐ, nhƣ là: Đối
tƣợng nhận thế chấp, mục đích, phạm vi thế chấp, quyền và nghĩa vụ của các
bên trong thế chấp QSDĐ, việc xử lý QSDĐ đã thế chấp. Qua đó cũng đánh
1
Nguyễn Quang Tuyến, Quyền sử dụng đất trong các giao dịch dân sự và thƣơng mại, Luận án Tiến sĩ Luật
học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2003.
2
Trần Quang Huy, Các vấn đề pháp lý về đất đai và bất động sản ở Cộng hòa Liên bang Đức, Tạp chí Luật
học, (9)/2011, tr.11-12.
3
Nguyễn Thị Nga, Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam, Nxb Tƣ
pháp, Hà Nội, 2015.
Bộ luật Dân sự các văn bản pháp luật hiện hành, Tạp chí Luật học, (5)/2001, tr.13-14.
5
Nguyễn Văn Phƣơng, Cần bảo đảm quyền thế chấp quyền sử dụng đất thuê lại trong khu công nghiệp, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật, (7)/2006, tr.11-12.
5
- Nhận xét, đánh giá khuôn khổ pháp luật về thế chấp QSDĐ hiện hành
có đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời sử dụng đất trong khai thác QSDĐ làm tài
sản bảo đảm.
- Khả năng hỗ trợ, các thủ tục pháp lý có liên quan đến giao dịch thế
chấp QSDĐ và các giải pháp góp phần bảo đảm nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về thế chấp QSDĐ trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam hiện
nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là khuôn khổ pháp luật về thế chấp
QSDĐ trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam trong mối quan hệ (ở khía
cạnh lý luận) với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Đồng thời, luận văn cũng
nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về thế chấp QSDĐ trong nền kinh tế
thị trƣờng ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Trên cơ sở lý luận chung về chế độ sở hữu toàn dân về đất
đai, Luận văn tập trung đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật
thế chấp QSDĐ và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực thi pháp
luật thế chấp QSDĐ ở Việt Nam hiện nay.
Về không gian: Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp
luật về thế chấp QSDĐ ở Việt Nam.
Về thời gian: Việc đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật thế
7
Chƣơng 1
KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THẾ CHẤP
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT
1.1.1. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai: Cơ sở ghi nhận quyền sử
dụng đất trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Đất đai có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là nơi diễn
ra hoạt động sống, sản xuất, kinh doanh, là tƣ liệu sản xuất không thể thay
thế, là tài sản có giá trị lớn. Điều này đã làm cho việc phân bổ đất đai luôn là
vấn đề hết sức quan trọng của mọi xã hội, bởi qua đó, nó quyết định lợi ích,
sự công bằng đối với từng ngƣời dân và sự thành công hay thất bại của một
chế độ chính trị. Do đó, vấn đề đất đai thuộc về ai, bao nhiêu luôn là vấn đề
hết sức quan trọng. Vì thế, sở hữu đất đai luôn là vấn đề hết sức phức tạp. Đặc
tính này xuất phát từ những đặc điểm khác biệt của đất đai so với tài sản khác,
tài nguyên thiên nhiên khác.6 Ở các nƣớc phƣơng Tây, quyền sở hữu đối với
đất đai đƣợc coi nhƣ một quyền cơ bản của con ngƣời bởi nó bảo đảm cho sự
tồn tại của một nơi chốn cần thiết làm cơ sở cho khả năng trở thành một công
dân năng động và đầy đủ. Đối với các nƣớc phƣơng Đông, đất đai ngoài ý
nghĩa là tƣ liệu sản xuất, tƣ liệu tiêu dùng còn là di sản lƣu truyền giữa các thế
hệ, là sự tiếp nối truyền thống, là hƣơng hỏa, là tài sản chứa đựng các giá trị
nhân văn. Do vậy, vấn đề sở hữu đất đai là vấn đề cơ bản có ảnh hƣởng lớn
đến sự phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống của đại đa số dân cƣ.7 Trong
6
Mai Hồng Quỳ, Đổi mới chế độ sở hữu toàn dân về đất đai với việc bảo đảm quyền con ngƣời, Tạp chí
Khoa học Pháp lý số chuyên đề 1/2011, tr.3-4.
9
Phạm Duy Nghĩa, Quyền tài sản đa tầng đối với đất đai ẩn sau Hiến pháp 1992, Tạp chí Khoa học Pháp lý
số chuyên đề 1/2011, tr.8-9.
10
Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng
đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, thƣơng
nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống đƣờng
sắt, đƣờng bộ, đƣờng sông, đƣờng biển, đƣờng không; đê điều và công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục
vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ
thuật, cơ sở văn hoá và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nƣớc - đều thuộc sở
hữu toàn dân.
11
Điều 17 Hiến pháp 1992 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng đất,
nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nƣớc đầu tƣ vào các xí nghiệp,
công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng,
an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nƣớc, đều thuộc sở hữu toàn dân.
9
Theo Điều 53 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 thì đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý. Tuy nhiên,
Nhà nƣớc không trực tiếp sử dụng đất mà chuyển giao cho các chủ thể khác
thông qua giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Khi sử dụng đất, ngoài
quyền khai thác sử dụng đất, NSDĐ còn đƣợc chuyển QSDĐ. Có thể thấy,
QSDĐ là chế định đặc thù của pháp luật Việt Nam, là phƣơng thức để duy trì
chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai trong nền kinh tế thị trƣờng.
quyền sử dụng đất.12 Các tác giả Nguyễn Văn Cƣờng và Nguyễn Minh Hằng
cho rằng, không thể đồng nhất quyền sở hữu đất và QSDĐ theo ý kiến của
một số chuyên gia và quan niệm: “Quyền sử dụng đất là quyền của người sử
dụng đất khai thác các thuộc tính của đất đai, khai thác công dụng, hưởng
hoa lợi, lợi tức từ tài sản một cách hợp pháp phục vụ cho mục đích của mình
và quyền chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.13 Khi nói
về QSDĐ, ông Akiyama Yasuhiro chuyên gia pháp luật đến từ Nhật Bản cho
rằng: Trên nguyên tắc đất đai đƣợc xem là sở hữu nhà nƣớc, nhƣng một phạm
vi nhất định, ngƣời có QSDĐ lại có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
đất ấy, riêng về QSDĐ, nếu xem xét nội dung của nó, chúng ta thấy rằng
quyền này bản chất rất gần với quyền sở hữu.14 Bàn về QSDĐ PGS.TS. Phạm
Duy Nghĩa bình luận: Tuy không có chủ quyền tuyệt đối về ô thửa đất đang
sử dụng, tức là không có quyền sở hữu tƣ nhân tuyệt đối, không thể ngăn cản
Nhà nƣớc thu hồi đất vì những lý do đƣợc cho là hợp pháp nêu trên, song chủ
nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất ở Việt Nam ngày càng đƣợc hƣởng nhiều
12
Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tƣ pháp, Từ điển Luật học, Nxb. Tƣ pháp, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội,
2006, tr.655
13
Nguyễn Văn Cƣờng, Nguyễn Minh Hằng, Giao dịch về quyền sử dụng đất vô hiệu - Pháp luật dân sự và
thực tiễn xét xử, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2011, tr.19, 20.
14
Viện khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp (1998), Báo cáo tổng hợp đề tài nguyên cứu, khảo sát thực tế về hệ
thống đăng ký giao dịch bảo đảm tại Việt Nam, nghiên cứu thực tế các bên pháp bảo đảm bằng tài sản tại
Việt Nam, Hà Nội, 1998, tr.268.
11
12
hữu hình. Đây chính là yếu tố làm cho QSDĐ có điểm gần giống với quyền
sở hữu đất đai. Việc thực hiện hành vi giao dịch QSDĐ của NSDĐ đƣợc pháp
luật quy định hầu nhƣ tƣơng đƣơng hay gần gũi với quyền định đoạt của chủ
sở hữu.16 QSDĐ là một bộ phận của quyền sở hữu đất đai, phái sinh từ quyền
sở hữu đất đai. Vì thế, dù NSDĐ có đƣợc thực hiện các giao dịch QSDĐ nhƣ
đối tƣợng là tài sản thì các quyền này cũng bị hạn chế và chi phối bởi ý chí
của Nhà nƣớc với tƣ cách là đại diện chủ sở hữu đất đai.
Mặc dù còn nhiều tranh luận khác nhau liên quan đến QSDĐ song các
nhà nghiên cứu đều thống nhất khi nhận diện quyền sử dụng đất trên các khía
cạnh: i) Đây là một tài sản của ngƣời sử dụng đất và theo Bộ luật Dân sự, đó
là quyền tài sản; ii) Đó là quyền khai thác các thuộc tính có ích của QSDĐ –
đây là cách tiếp cận quyền sử dụng đất về phƣơng diện nội dung của quyền sử
dụng tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự; iii) Dù QSDĐ là quyền đƣợc
Nhà nƣớc trao cho ngƣời sử dụng đất, nhƣng việc sử dụng QSDĐ là một tài
sản hay quyền khai thác các thuộc tính có ích của QSDĐ luôn bị chi phối bởi
chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.17 Đây là nét đặc thù cần lƣu ý khi xác lập
các giao dịch liên quan đến thế chấp QSDĐ của các chủ thể, nhất là các giới
hạn quyền của ngƣời sử dụng đất và các loại đất theo quy định của Luật ĐĐ.
1.1.2. Thế chấp quyền sử dụng đất - phương thức khai thác các thuộc
tính có ích của quyền dụng đất
Lịch sử ngành luật dân sự, có thể thấy khái niệm thế chấp - một biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự - một biện pháp truyền thống đã xuất
hiện từ thời La Mã cổ đại. Hình thức đầu tiên của cách thức bảo đảm có tên
gọi là Fiducia Cum Creditore (còn đƣợc gọi là bán đợ). Ngƣời có nghĩa vụ
16
thức thực hiện pháp luật này, tính chất “bảo đảm” của thế chấp sẽ có nguy cơ
trở thành “không có bảo đảm” vì phải phụ thuộc vào ý chí của bên thế chấp
hoặc phải thông qua các thủ tục tố tụng tại Tòa án.19 Cùng với quá trình phát
triển của lịch sử xã hội loài ngƣời, biện pháp thế chấp tài sản đƣợc quy định
trong luật La Mã vẫn có ảnh hƣởng và chi phối nhất định đến các quy định
pháp luật về thế chấp cho đến ngày nay. Ở các nƣớc theo hệ thống luật lục địa
18
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb Tƣ pháp, Hà Nộ,i 2005, tr.140-141
Vũ Thị Hồng Yến, Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam
hiện hành, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2013, tr.12.
19
14
(thƣờng gọi là hệ thống Civil Law) mà điển hình là các nƣớc: Cộng hòa Pháp,
Liên bang Đức, Nhật Bản, bang Quebec của Canada đều vận dụng nguyên lý
này. Có thể thấy rằng, trong suốt thế kỷ XIX và gần nhƣ cả thế kỷ XX ở Cộng
hòa Pháp, thuật ngữ “thế chấp” đƣợc dùng để chỉ biện pháp bảo đảm không
có yếu tố chuyển giao tài sản và đối tƣợng bảo đảm là bất động sản.20
Thế chấp QSDĐ là một biện pháp rất quan trọng trong hệ thống các biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự. Do đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nƣớc là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nên
hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất với những
quyền rất rộng rãi. Cũng nhƣ những đối tƣợng sở hữu các bất động sản khác,
QSDĐ chứa đựng trong mình những quyền năng nhƣ: chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt. QSDĐ cũng trở thành tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong các
giao dịch tín dụng (giao dịch thế chấp). Không có tài sản bảo đảm một cách
an toàn thì hoặc sẽ không có các giao dịch cho vay, hoặc có thì rủi ro đối với
Hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng nhằm đáp ứng
chính yêu cầu của bên vay, bởi nếu không sử dụng nguồn vốn vay có hiệu
quả, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh và đó là nguyên nhân
dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán; trong trƣờng hợp này, QSDĐ của
doanh nghiệp đặt trƣớc nguy cơ của việc xử lý để bên cho vay thu hồi nợ. Ở
tình thế này, chẳng những nguồn vốn vay đã không phát huy đƣợc tác dụng
mà trái lại chúng còn tác động ngƣợc chiều, có khả năng làm cho các doanh
nghiệp lâm vào tình trạng “trắng tay”, “mất cả chì lẫn chài” do mất đi nguồn
vốn đi vay và cả nguồn vốn đầu tƣ ban đầu - QSDĐ, sự nghiệp của doanh
nghiệp cũng có thể bị chấm dứt từ đó. Đối với kinh tế hộ gia đình, đặc biệt là
các hộ ở nông thôn thì thế chấp QSDĐ còn mang ý nghĩa thiết thực hơn. Với
mức thu nhập bình quân trên đầu ngƣời đƣợc xếp vào hàng của các nƣớc đói,
nghèo so với chuẩn quốc tế, cuộc sống của các hộ gia đình, cá nhân ở các
vùng nông thôn là hết sức khó khăn. Để đối phó với cuộc sống thƣờng nhật,
ngƣời dân phải xoay xở với nhiều công việc, nhiều ngành nghề khác nhau để
mƣu sinh, song trở ngại lớn nhất mà họ phải đối mặt là nguồn vốn huy động
từ đâu để thực hiện đƣợc điều đó, khi mà khả năng cung ứng nguồn vốn của
Nhà nƣớc không đáp ứng đủ với nhu cầu.
- Thông qua thế chấp QSDĐ, các tổ chức tín dụng vừa thực hiện phòng
ngừa có hiệu quả rủi ro, vừa thực hiện chức năng chuyển vốn cho nền kinh tế.
Xuất phát từ đặc thù nguồn vốn cho vay - vốn huy động là chủ yếu nên hầu
17
hết các TCTD đều dự tính trƣớc rủi ro xảy ra, tuy nhiên trên thực tế thì không
phải lúc nào bên cho vay cũng kiểm soát đƣợc rủi ro đó. Vì vậy, sự an toàn
đối với mọi khoản vay là vấn đề cần đƣợc xem xét trƣớc tiên. Việc cho vay có
thể là thế chấp QSDĐ không ngoài mục đích ngăn ngừa và giảm thiểu những
tổn thất và rủi ro có thể xảy ra đối với bên cho vay. Có thể khẳng định rằng,
đất đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử
dụng đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất
hoặc thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (khoản 1 và
khoản 3 Điều 179 LĐĐ năm 2013, khoản 2 Điều 180 LĐĐ năm 2013).
- Tổ chức kinh tế đƣợc Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho
thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; Tổ chức kinh tế nhận
chuyển nhƣợng QSDĐ có nguồn gốc do đƣợc Nhà nƣớc giao có thu tiền sử
dụng đất hoặc Nhà nƣớc cho thuê đất trả trƣớc tiền một lần cho cả thời gian
thuê mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nƣớc; Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhƣợng QSDĐ nông nghiệp và
không chuyển mục đích sử dụng đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất mà
thuộc trƣờng hợp đƣợc Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho
thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tổ chức kinh tế sử
dụng đất đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích
sử dụng đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất
hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; Tổ chức
kinh tế đƣợc Nhà nƣớc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê để đầu tƣ xây dựng công trình ngầm; Tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ
tài chính đƣợc Nhà nƣớc cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời
gian thuê mà tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc
(khoản 2, 3 Điều 174; khoản 2, 3, 4 Điều 176; khoản 1 Điều 178 LĐĐ năm
2013).
19
- Ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài về đầu tƣ tại Việt Nam đƣợc
Nhà nƣớc Việt Nam giao đất có thu tiền sử dụng đất; Ngƣời Việt Nam định
cƣ ở nƣớc ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc Nhà nƣớc Việt
Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; doanh
tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có quyền thế chấp QSDĐ (khoản 1
Điều 187 LĐĐ năm 2013).
Với quy định của pháp luật hiện hành bên nhận thế chấp cần kiểm tra kỹ
lƣỡng ngƣời SDĐ và QSDĐ đƣợc sử dụng làm tài sản bảo đảm. Bởi lẽ, nếu
không tuân thủ quy định này thì hợp đồng thế chấp sẽ bị tuyên vô hiệu do đối
tƣợng thế chấp – QSDĐ không đƣợc sử dụng làm tài sản thế chấp.
1.2.2. Chủ thể nhận thế chấp
LĐĐ năm 2013 dành từ Điều 166 đến Điều 194 quy định về quyền và
nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất nói chung và quyền thế chấp QSDĐ nói riêng
cho thấy, bên nhận thế chấp rất đa dạng, đó có thể là các tổ chức tín dụng
đƣợc phép hoạt động tại Việt Nam, tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo
quy định của pháp luật (bên nhận thế chấp là tổ chức kinh tế hoặc cá nhân chỉ
áp dụng trong trƣờng hợp bên thế chấp hộ gia đình hoặc cá nhân). Để tham
gia vào quan hệ pháp luật về thế chấp QSDĐ, bên nhận thế chấp phải đáp ứng
đủ các điều kiện về năng lực chủ thể, đồng thời tuân thủ các quy định của
pháp luật liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thế chấp QSDĐ. Về cơ bản
có thể thấy, pháp luật Việt Nam hiện hành đã quy định chi tiết điều kiện để
tham gia quan hệ pháp luật, trong đó có quan hệ pháp luật về thế chấp QSDĐ.
Vấn đề chính yếu khi tham gia quan hệ pháp luật thế chấp QSDĐ các bên cần
lƣu ý kiểm tra các điều kiện để đƣợc tham gia vào giao dịch thế chấp QSDĐ –
một giao dịch bảo đảm đặc thù đòi hỏi phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện do
pháp luật quy định xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
1.2.3. Quyền sử dụng đất dùng làm tài sản thế chấp