LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng tri ân chân thành và sâu sắc
nhất đến với cán bộ hướng dẫn PGS.TS. Phan Thiên Hương, Cô đã tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn, dìu dắt tác giả trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Quý Thầy Cô Khoa Kỹ Thuật Địa Vật
Lý - Trường Đại học Mỏ địa chất Hà nội đã tận tâm, truyền đạt kiến thức – kinh nghiệm quý
báu trong quá trình học tập.
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến Ban Lãnh Đạo Công Ty Điều Hành Chung Lam
Sơn cũng như các cán bộ thuộc phòng Địa Chất và Công Nghệ Mỏ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
Lê Hồng Lam
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2015
Tác giả
Lê Hồng Lam
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 2
•
•
•
chùm tia
RAI : Thuộc tính trở kháng âm học tương đối
RMS : Trung bình bình phương tối thiểu
Cube : Khối địa chấn
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 5
•
•
•
•
•
•
•
•
•
MI : Tầng Miocene
TVD : Chiều sâu thẳng đứng
MD : Chiều sâu thực
TWT : Thời gian truyền sóng xuống mặt ranh giới quay trở lại máy thu
XL : Tuyến ngang
Phương pháp tổ hợp với tài liệu địa vật lý giếng khoan đưa ra các mô
hình xác suất về phân bố thạch học, độ rỗng, độ bão hòa khác nhau
-
(P10, P50, P90). Các bước giải ngược địa thống kê bao gồm:
Hiệu chỉnh tài liệu giếng khoan
Kết tài liệu giếng khoan và địa chấn
Ngược địa chấn đồng thời (SI)
Giải ngược địa thống kê
Đánh giá và xếp hạng
6. Những điểm mới của luận văn:
•
Kết quả của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ sự cần thiết của
việc phân tích ngược địa chấn trong việc xác định thành phần thạch học, xác suất
phân bố vỉa chứa trong toàn bộ mỏ (P10, P50, P90), nhằm phục vụ cho công tác mô
hình, lựa chọn giếng khoan khai thác.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
•
-
Ý nghĩa thực tiễn:
Phục vụ cho công tác đánh giá trữ lượng tại chỗ, tài liệu cho mô hình
địa chất, mô hình thủy động lực hoạch định kế hoạch khoan khai thác
tại khu vực mỏ Đông Đô.
HVTH: Lê Hồng Lam
•
1.1.1
TRŨNG CỬU LONG
Vị trí kiến tạo
Bồn trũng Cửu Long nằm chủ yếu trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam,
có vị trí địa lý nằm trong khoảng 9 - 110 vĩ bắc, 106o30’ - 109o kinh đông. Với diện tích
khoảng 56.000 km2, hình dạng bầu dục, vồng ra phía biển, kéo dài theo hương ĐB-TN
dọc theo bờ biển từ Vũng Tàu đến Bình Thuận [1].
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 10
•
•
Hình 1.1 Vị trí kiến tạo của bể Cửu Long và vùng kế cận trong bình đồ kiến tạo hiện nay của
ĐN châu Á.[1]
•
Trong bình đồ kiến tạo hiện tại (Hình 1.1) bể Cửu Long nằm ở phần
THTKT cung magma rìa lục địa tích cực Đà Lạt tuổi Jura muộn-Creta.
Thuộc THTKT này là các đá xâm nhập-phun trào kiểu I thuộc loạt vôi-kiềm
−
(phức hệ Định Quán - Đèo Cả, hệ tầng Đèo Bảo Lộc - Nha Trang).
THTKT tách dãn Đơn Dương tuổi Creta muộn trên cung núi lửa-Pluton Jura
muộn-Creta. Thuộc THTKT này là các đá xâm nhập và phun trào felsic
(granit sáng màu phức hệ Ankroet, phun trào felsic hệ tầng Đơn Dương)
•
−
Phần trên là lớp phủ của bồn trũng gồm 2 THTKT:
THTKT bồn tách dãn Cửu Long tuổi Eocen muộn (?) - Miocen sớm được tạo
nên bởi trầm tích lục nguyên và phun trào bazan. Thuộc các hệ tầng Cà Cối,
Trà Cú, Trà Tân và hệ tầng Bạch Hổ, tương ứng với các tập địa chấn F, E, D,
−
C và BI.
THTKT thềm rìa lục địa thụ động nội mảng Biển Đông Việt Nam tuổi
Miocen trung - Đệ Tứ được cấu tạo nên chủ yếu bởi các trầm tích bở rời có
nguồn gốc thềm lục địa và biển nông. Thuộc các hệ tầng Côn Sơn, Đồng Nai,
−
Biển Đông, tương ứng với các tập địa chấn BII, BIII và A.
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 13
•
Vào đầu giai đoạn này vùng nghiên cứu nằm trên cung magma của rìa
lục địa tích cực kiểu Andes, do mảng Thái Bình Dương hút chìm xuống dưới phía Đông
nam của lục địa Âu - Á. Các hoạt động magma xâm nhập và phun trào xảy ra mạnh mẽ.
Các phức hệ Định Quán - Đèo Cả, hệ tầng Đèo Bảo Lộc - Nha Trang là minh chứng
cho thời kỳ này (hình 1.3).
•
Hoạt động hút chìm vẫn tiếp tục diễn ra đến cuối Creta muộn, nhưng vào
thời kỳ này góc hút chìm gần như thẳng đứng đã dẫn tới sự tách dãn trên cung núi lửa
Pluton, và di chỉ để lại của thời kỳ này là phức hệ Ankoet, hệ tầng Đơn Dương (hình
1.4)
•
•
Hình 1.3: Rìa lục địa tích cực thời kỳ J3-K [1]
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 14
Trong giai đoạn này vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của các hoạt động
kiến tạo khu vực mạnh mẽ:
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 15
−
Mảng Ân-Úc và mảng Thái Bình Dương vẫn tiếp tục hút chìm vào Âu -
−
−
Á.
Sự hút chìm tiêu biến Biển Đông cũ và tách giãn tạo vỏ đại dương mới.
Hai đứt gãy Sông hồng và Ba Tháp hoạt động mạnh mẽ, đẩy mảng ShanIndonisia về phía Đông Nam.
•
Bản đồ kiến tạo khu vực vào giai đoạn này được thể hiện trên hình 1.5
•
•
•
Hình 1.5: Kiến tạo khu vực trong Kainozoi sớm (Robert Hall, 1996)
môi trường đầm hồ và vũng vịnh ven biển, thuộc hệ tầng Trà Cú, Trà Tân tương ứng với
các tập địa chấn E, D và C.
•
•
•
Hình 1.6: Các listric hình thành do căng dãn và sụp lún không đều [1]
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất thì quá trình sụp lún và
trầm tích từ Eocen muộn đến cuối Oligocen là không liên tục, tuy hoạt động tách dãn
chiếm ưu thế nhưng đan xen vào đó là các thời kỳ ngưng nghỉ, nâng lên bóc mòn, đó là
sự thay đổi suất từ ĐB-TN sang Á kinh tuyến rồi sau ngưng nghỉ lại đổi phương trường
ứng suất sang ĐB-TN gây ra căng giãn và nén ép, các bề mặt không chỉnh hợp giữa D
và E, giữa C và D là minh chứng cho điều này.
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 17
•
Vào cuối Oligocen: Trường lực căng dãn yếu dần, lực đẩy về phía ĐN
chiếm ưu thế, vùng nghiên cứu chuyển từ chế độ tách dãn, sụp lún trầm tích sang chế độ
nén ép nâng lên bóc mòn tạo nên bất chỉnh hợp sau C. Đồng thời xuất hiện các đứt gãy
nghịch và trượt bằng. Những đứt gãy này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành
sụt lún đồng trầm tích vẫn tiếp tục diễn ra.
•
Được hình thành trong chế độ kiến tạo bình ổn, các trầm tích có thế nằm
ngang là chủ yếu, đôi nơi gặp thế nằm nghiêng, gá đáy lên bề mặt của trầm tích trước
đó.
•
Phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Bạch Hổ là hệ tầng Côn Sơn (Miocen
trung), tương ứng với tập địa chấn BII, thành phần thạch học chủ yếu là cát, sét,
cacbonat và một ít lớp than xen kẽ. Bề dày hệ tầng thay đổi từ 250 ÷ 900 mét. Trầm tích
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 18
hệ tầng này hầu như nằm ngang, hoặc có gợn sóng theo cấu trúc bề mặt nóc của hệ tầng
Bạch Hổ.
•
Cùng một chế độ kiến tạo bình ổn, Hệ tầng Đồng Nai (Miocen thượng)
phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Côn Sơn, chủ yếu là cát hạt trung xen kẽ với bột và các
lớp sét mỏng màu xám hay nhiều màu đôi khi gặp cacbonat. Môi trường trầm tích là
đồng bằng ven bờ ở phía tây bể và trầm tích biển nông ở phía Đông và Bắc của bể.
Tương ứng với tập địa chấn BIII.
•
Hệ thống dầu khí
Theo các tài liệu về nghiên cứu địa chất, địa vật lý cũng như kết quả của
quá trình tìm kiếm, thăm dò và khai thác cho tới nay thì bể Cửu Long là bể trầm tích có
tiềm năng dầu khí lớn nhất tại Việt Nam [1].
•
Tất cả các phát hiện dầu khí tại bể Cửu Long đều gắn với các cấu tạo
dương nằm trong phần lún chìm sâu của bể. Các cấu tạo này đều có liên quan đến sự
nhô cao của móng có tuổi trước Kainozoi, kề trên và xung quanh của các khối nhô cao
này thường nằm gá đáy là các trầm tích Eocen và trầm tích Oligocen.
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 19
•
Với những đặc trưng riêng về chế độ kiến tạo gắn liền với quá trình hình
thành và phát triển, bể Cửu Long có các đặc điểm về tầng sinh, tầng chứa và tầng chắn
như sau:
•
1.4.1
•
1.4.2
Đặc điểm tầng chứa
Đá móng Granitoid hang hốc, nứt nẻ là một trong những đối tượng có
khả năng chứa dầu rất tốt tại các mỏ dầu ở bồn trũng Cửu Long. Đá móng nứt nẻ gồm
granit, granit-gnies, granodiorit, diorit, mozodiorit, gabro v.v…đôi chỗ bị các mạch
diabas cắt qua và bị biến đổi ở nhiều mức độ khác nhau.
•
Nứt nẻ và hang hốc được hình thành do hai yếu tố: nguyên sinh – sự co
rút của đá magma khi nguội lạnh và quá trình kết tinh; thứ sinh- hoạt động kiến tạo và
quá trình phong hoá và biến đổi thuỷ nhiệt. Đối với đá móng thì độ rỗng thứ sinh đóng
vai trò chủ đạo, bao gồm độ rỗng nứt nẻ và độ rỗng hang hốc. Trong đó hoạt động thuỷ
nhiệt có thể làm tăng kích thước các hang hốc, nứt nẻ được hình thành từ trước, nhưng
cũng có khi lấp đầy hoàn toàn hoặc một phần các nứt nẻ bởi các khoáng vật thứ sinh.
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 20
•
Cát kết trong các tầng Oligocen dạ, Oligocen thượng và trong Miocen
cũng là những tầng chứa tốt, có nguồn gốc từ lục địa tới biển nông ven bờ. Cát kết tầng
tầng cát nằm dưới nó. Các tầng sét thuộc hệ tầng Trà Tân (Oligocen thượng), với lớp sét
dày có nguồn gốc từ đầm hồ, tiền delta có khả năng chắn tốt là tầng chắn quan trọng cho
sự tích tụ dầu khí.
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 21
o 1.2
VỊ TRÍ VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHÂT MỎ ĐÔNG ĐÔ
•
1.2.1
Vị trí mỏ Đông Đô
Mỏ Đông Đô nằm ở phía Tây Bắc lô 02/97 thuộc bồn trũng Cửu Long,
thềm lục địa phía Nam Việt Nam, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 160 km về phía
Đông, cách mỏ Ruby (Lô 01 và 02) 26 km về phía Nam, cách mỏ Sư Tử Trắng (Lô
15.1) 20 km về phía Đông, và cách mỏ Rạng Đông (Lô 15.2) 35 km về phía Đông Bắc
[1].
•
•
phù hợp với địa tầng của bể Cửu Long và lô 01/97 và 02/97 [1].
•
Địa tầng của mỏ Đông Đô bao gồm móng trước Kainozoi, Oligocen hạ
(Thành hệ Trà Tân dưới, Tập E), Oligocen thượng (Thành hệ Trà Tân trên-giữa, Tập C
và D), Miocen hạ (Thành hệ Bạch Hổ thượng- hạ, Tập BI.2 và BI.1), Miocen trung
(Thành hệ Côn Sơn thượng-hạ, Tập BII.2 và BII.1), Miocen thượng (Thành hệ Đồng
Nai, Tập BIII) và Pliocen đến hiện tại (Thành hệ Biển Đông, Tập A) (hình 1.8)
•
•
•
Hình 1.8: Các thành tạo địa chất mỏ Đông Đô[1]
Móng trước Đệ Tam
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 23
•
Granit, Granodiorit với monzonit điôrít thạch anh, đôi chỗ là đá biến
chất, đá núi lửa (mạch bazal và anđêzít) và được chia làm 2 đới: trên và dưới.
•
Sét kết/sét phiến chứa vật chất than dày mầu xám ôliu, xám đen, xám
nâu, xám tối phân lớp xen với cát kết và bột kết mỏng. Tập D là tập đá sinh dầu chính
và là tập đá chắn tốt của bể Cửu Long. Môi trường lắng đọng trầm tích là vịnh có ảnh
hưởng của nước biển và hồ nước ngọt.
•
Oligocen thượng - Thành hệ Trà Tân thượng (Tập C)
•
Tập C không gặp tại các giếng khoan trong mỏ Thăng Long - Đông Đô
do bị bào mòn. Tài liệu trong vùng chỉ ra rằng tập C bao gồm cát kết phân lớp xen với
sét kết và bột kết. Môi trường lắng đọng trầm tích là hồ có ảnh hưởng của nước biển và
hồ ven bờ.
•
•
Miocen hạ - Thành hệ Bạch Hổ hạ (Tập BI.1)
Cát kết phân lớp xen với sét kết mầu xám xanh sáng-trung, xám ôliu,
xám trung, xám xanh tối, xám nâu, nâu tối, nâu vàng và bột kết. Môi trường lắng đọng
trầm tích là sông ngòi.
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 24
Cát kết phân lớp xen với sét kết mầu xám sáng, xám trung, xám tối, đôi
chỗ xám xanh lá cây, xám xanh sáng, bột kết mỏng, và những lớp mỏng đôlômít/đá vôi
và mạch than. Môi trường lắng đọng trầm tích là đồng bằng ven đến biển nông.
•
•
Pliocen-hiện tại - Thành hệ Biển Đông (Tập A)
Cát/cát kết phân lớp xen với sét/sét kết mỏng, mầu xám sáng, xám ôliu,
bột kết mỏng, những lớp mỏng đôlômít/đá vôi và mạch than được lắng đọng trong môi
trường biển nông và thềm lục địa ven biển.
•
1.2.3
Đặc điểm cấu trúc và bẫy chứa [1]
Mỏ Đông Đô nằm ở phía Tây Bắc lô 02/97 thuộc phần Đông Bắc bồn
trũng Cửu Long. Bồn trũng Cửu Long nằm dọc theo bờ biển phía Đông Nam của Việt
Nam và thuộc loại bể tách giãn vào thời gian sớm của Đệ Tam với diện tích khoảng
150.000 km2 bao gồm trầm tích trong giai đoạn tách giãn lún chìm tuổi Oligocen Miocen sớm và trầm tích thềm lục địa tuổi Miocen sớm - Pleixtoxen của vùng mép bờ
thụ động tựa kề lên móng tuổi Mezozoi muộn.
HVTH: Lê Hồng Lam
Trang 25