THỐNG KÊ
LỊCH SỬ TÊN NƯỚC VIỆT
Theo dòng lịch sử, nước Việt Nam đã mang nhiều Quốc hiệu :
* Vào niên đại vua Kinh Dương, năm 2879 TCN., tên nước là
Xích Quỷ
* Đời Hồng Bàng : tên nước là Văn Lang (2879 - 258 TCN) :
* Trong thời kỳ đô hộ bởi Chế độ phong kiến phương Bắc
nước Việt Nam bị chia cắt nhiều và mang tên như là những quận
huyện của nhà nước cai trị đương thời :Năm 221 trước CN, Tần
Thủy Hoàng, vua Trung Hoa, xâm chiếm lãnh thổ Việt. Nhà
Tần lược định phía Nam và gọi là Tượng quận (246 -206 TCN).Âu
Lạc (257 - 207 TCN) :Ðời nhà Thục An Dương Vương Âu Việt đã
đuổi được Trung hoa và lấy tên Âu Lạc (năm 208 trước CN).
* Đời Nhà Hán lật đổ nhà Triệu và chia Tượng quận ra thành 3
quận nhỏ :Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (202 TCN - 220).
* Cuối nhà Đông Hán trị vì ở Trung Quốc, vua Hiến Đế đổi quận
Giao Chỉ thành Giao Châu.
Nhưng sau đó bị Trung Hoa xâm lấn trong suốt 700 năm.
*Mùa Xuân 542, Lý BÍ xua đuổi được quân Tàu và tự xưng vua
nước Vạn Xuân
*Sau đến nhà Đường:Nước Việt Nam lại mang tên mới là An
Nam đô hộ phủ (618 - 907)
*Năm 968, Ðinh Bộ Lĩnh đánh thắng Thập nhị Tướng Quân và
thống nhất lãnh thổ, ông xưng Vương và đặt tên nước là Ðại Cồ
Việt. Tên này giữ nguyên dưới triều đại nhà Ðinh (869-979), Lê
(980-1009) và cho đến đầu triều đại nhà Lý (1010-1053).
* Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đổi tên nước là Ðại Việt. Tên
này được giữ cho đến đời nhà Trần.
* Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần và đổi quốc hiệu
•
•
•
•
•
•
Nếu không tính Hùng Vương là thời kỳ huyền sử còn nhiều
nghi vấn, có thể đưa ra các thống kê về vua Việt Nam và các triều
đại Việt Nam như sau (không tính các thời Bắc thuộc)[1]:
Hoàng đế đầu tiên: Lý Nam Đế (544 - 548) với niên hiệu đầu
tiên là Thiên Đức
Hoàng đế cuối cùng: Bảo Đại (1925 - 1945)
Ở ngôi lâu nhất: Triệu Vũ Vương Triệu Đà: 70 năm (207-137
TCN), Lý Nhân Tông Càn Đức: 56 năm (1072 - 1127), thứ đến Hậu
Lê Hiển tông Duy Diêu: 47 năm (1740 - 1786).
Ở ngôi ngắn nhất: Tiền Lê Trung Tông Long Việt: 3 ngày
(1006), Dục Đức: 3 ngày (1883)
Lên ngôi trẻ nhất: Lê Nhân Tông lúc 1 tuổi (1442); Mạc Mậu
Hợp lúc 2 tuổi (1562); Lý Cao Tông lúc 3 tuổi; Lý Anh Tông cũng 3
tuổi; Lý Chiêu Hoàng lúc 6 tuổi (1224).
Lên ngôi già nhất: Trần Nghệ Tông Phủ, khi 50 tuổi (1370);
Triệu Đà khi 50 tuổi (207 TCN)
Trường thọ nhất: Bảo Đại 85 tuổi (1913-1997), vua Trần
Nghệ Tông 74 tuổi (1321 - 1394). Nếu tính Triệu Đà thì Triệu Đà là
Triều đại xảy ra phế lập, sát hại các vua nhiều nhất: Nhà Lê
sơ 6/11 vua.
THỐNG KÊ CÁC VUA
HỒNG BÀNG & VĂN LANG: (Khoảng thế kỷ 7 đến thế kỷ 3 trước
CN)
1. Kinh Dương Vương (~3054-~2839 TCN)
2. Lạc Long Quân
3. Hùng Vương (18 đời)
ÂU LẠC & NAM VIỆT: (Thế kỷ 3 trước CN)
1. An Dương Vương (257-207 TCN)
THUỘC TÂY HÁN : (Thế kỷ 2 trước CN đến năm 25)
1. Triệu Vũ Vương Triệu Đà 207-137 TCN
2. Triệu Văn Vương Triệu Hồ 137-125 TCN
3. Triệu Minh Vương Triệu Anh Tề 125-113 TCN
4. Triệu Ai Vương Triệu Hưng 113-112 TCN
5. Triệu Thuật Dương Vương Triệu Kiến Đức 112-111 TCN
Các vua nhà Triệu là người Hán, không phải người Việt.
THUỘC ĐÔNG HÁN: (25 - 226)
1. Hai Bà Trưng: Trưng Trắc - Trưng Nhị (40 - 43)
THUỘC ĐÔNG NGÔ: (220 - 265)
1. Bà Triệu: Triệu Thị Trinh (246 - 248)
THUỘC LƯỠNG TẤN : (265 - 420)
THUỘC NAM BẮC TRIỀU : (420 - 589)
NHÀ LÝ & NHÀ TRIỆU : (541-602)
1. Lý Nam Đế Lý Bí còn gọi là Lý Bôn 541-548
2. Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục 549-571
3. Hậu Lý Nam Đế Lý Phật Tử 571-602
3. Lý Thánh Tông Lý Nhật Tôn 1054 - 1072
4. Lý Nhân Tông Lý Càn Đức 1072 - 1127
5. Lý Thần Tông Lý Dương Hoán 1128 - 1138
6. Lý Anh Tông Lý Thiên Tộ 1138 - 1175
7. Lý Cao Tông Lý Long Trát 1176 - 1210
8. Lý Huệ Tông Lý Sảm 1211 - 1224
9. Lý Chiêu Hoàng Lý Phật Kim 1224 đến 1225
Lý Chiêu Hoàng là Nữ vương duy nhất trong lịch sử phong kiến
Việt Nam.
NHÀ TRẦN : (1225 - 1400)
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
1.
2.
1.
2.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Lệ Đức Hầu (Lạng Sơn Vương) Lê Nghi Dân 1459-1460
Lê Thánh Tông Lê Tư Thành (Lê Hạo) 1460-1497
Lê Hiến Tông Lê Tranh 1497-1504
Lê Túc Tông Lê Thuần 6/1504-12/1504
Lê Uy Mục Lê Tuấn 1505-1509
Lê Tương Dực Lê Oanh 1510-1516
Lê Chiêu Tông Lê Y 1516-1522
Lê Cung Hoàng Lê Xuân 1522-1527
NAM BẮC TRIỀU
Bắc Triều - Nhà Mạc : (1527 - 1593)
1. Mạc Thái Tổ Mạc Đăng Dung 1527-1529
2. Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh 1530-1540
3. Mạc Hiến Tông Mạc Phúc Hải 1541-1546
4. Mạc Tuyên Tông Mạc Phúc Nguyên 1546-1561
5. Mạc Mậu Hợp Mạc Mậu Hợp 1562-1592
6. Mạc Toàn Mạc Toàn 1592
7. Mạc Kính Chỉ (1592-1593)
8. Mạc Kính Cung (1593-1625)
9. Mạc Kính Khoan (1623-1638)
10. Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn) (1638-1677)
Từ đời Mạc Kính Chỉ, con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, tồn tại
cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
- Chúa Trịnh: (1545 - 1787)
Thế Tổ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm 1545-1570
Bình An Vương Trịnh Tùng 1570-1623
Thanh Đô Vương Trịnh Tráng 1623-1652
Tây Định Vương Trịnh Tạc 1653-1682
Định Nam Vương Trịnh Căn 1682-1709
An Đô Vương Trịnh Cương 1709-1729
Uy Nam Vương Trịnh Giang 1729-1740
Minh Đô Vương Trịnh Doanh 1740-1767
Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm 1767-1782
Điện Đô Vương Trịnh Cán 1782 (2 tháng)
Đoan Nam Vương Trịnh Khải 1782-1786
Án Đô Vương Trịnh Bồng 1786-1787
1.
2.
3.
4.
5.
6.
12/1883-8/1884
8. Hàm Nghi Nguyễn Phúc Ưng Lịch - 8/1884-8/1885
9. Đồng Khánh Nguyễn Cảnh Tông - Nguyễn Phúc Ưng Đường
1885-1888
10. Thành Thái Nguyễn Phúc Bửu Lân 1889-1907
11. Duy Tân Nguyễn Phúc Vĩnh San 1907-1916
12. Khải Định Nguyễn Hoằng Tông Nguyễn Phúc Bửu Đảo 19161925
13. Bảo Đại Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ 1926-1945
PHÁP THUỘC: (1858 - 1945)
NAM BẮC: (1954 - 1975)
- Việt Nam Cộng Hòa Tổng Thống:
1. Ngô Đình Diệm 26/10/1955 - 2/11/1963
2. Nguyễn Văn Thiệu 1/9/1967 - 21/4/1975
3. Trần Văn Hương 21/4/1975 - 28/4/1975
4. Dương Văn Minh 28/4/1975 - 30/4/1975
- Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
VIỆT NAM: (1975 - NAY)
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VIỆT NAM
THỜI KỲ DỰNG NƯỚC
Vào thế kỷ thứ 7đến thế kỷ thứ 6 trước Công Ng, 15 bộ lạc
sinh sống tại vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, miền bắc Việt
Nam ngày nay thống nhất lập nên nước Văn Lang, nhà nước đầu
tiên của người Việt. Kinh đô đóng tại Phong Châu (Vĩnh Phú ngày
nay). Vua nước Văn Lang, tất cả 18 đời, đều xưng là Hùng
Vương.
Thế kỷ thứ 2 trước CN, sau cuộc kháng chiến chống lại quân
Tần Thủy Hoàng (218-208), nhà nước phong kiến Trung Quốc ở
Phục lui quân về đầm Dạ Trạch thực hiện chiến tranh du kích. Cuối
cùng năm 550, Triệu Quang Phục mới giành được thắng lợi, khôi
phục nước Vạn Xuân, tự xưng là Triệu Việt Vương. Đến năm 571,
Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử cướp ngôi.
Năm 602-603, Lý Phật Tử không chống được cuộc xâm lược
của giặc, nước ta lại rơi vào tay nhà Tùy, rồi nhà Đường.
Năm 722, Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa. Thất bại.
Năm 905, Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa giành được chính quyền.
Nhà Đường công nhận chính quyền tự chủ của ông.
Năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Nam Hán
là một nước do Luu Ẩn, tướng của nhà Hậu Lương cát cứ vùng đất
Hoa Nam mà mình được nhà Lương giao cho cai quản thành lập
(nhà Lương cướp ngôi nhà Đường vào năm 907). Người đứng đầu
nước ta lúc đó là Khúc Thừa Mỹ không chống lại được, bị bắt sang
Nam Hán. Các tướng lĩnh của họ Khúc tổ chức nhiều cuộc kháng
chiến.
Năm 931, cuộc kháng chiến do Dương Đình Nghệ lãnh đạo
thành công. Ông được tôn làm Tiết Độ Sứ.
Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ cướp quyền
lãnh đạo. Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ khởi binh trừng
phạt. Kiều Công Tiễn cầu cứu nước Nam Hán và dĩ nhiên vua Nam
Hán vui vẻ nhận lời.
Năm 938, quân Nam Hán do thái tử Hoằng Tháo kéo sang
nước ta theo đường thủy định phối hợp với Kiều Công Tiễn đánh
bại Ngô Quyền. Nhưng Hoằng Tháo chưa đến nơi thì Ngô Quyền
đã diệt được Kiều Công Tiễn và bố trí trận địa chờ sẵn. Khi quân
Nam Hán lọt vào trận địa mai phục của Ngô Quyền ở cửa sông
Bạch Đằng thì bị đánh cho tan tác. Hoằng Tháo chết trận, quân
Năm 1005, Lê Hòan chết, các con của ông tranh nhau giành
ngôi báu. Lê Long Đĩnh thắng lên làm vua (Lê Ngọa Triều). Ông
vua này rất thích bạo lực, sa đọa và trụy lạc nên không đựơc lòng
dân chúng.
Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết. Được sự ủng hộ của nhiều
người, Lý Công Uẩn tự xưng vua (Lý Thái Tổ) lập ra triều đại nhà
Lý kéo dài 216 năm với 9 đời vua (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý
Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao
Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hòang).
Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về thành Đại La. Sau đổi
tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).
Năm 1072, Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 6 tuổi. Nhà Tống
bên Trung Quốc cho là cơ hội tốt chuẩn bị lương thảo có ý xâm
lược nước ta. Vì vua còn nhỏ nên quan phụ quốc Thái úy Lý
Thường Kiệt nắm trọn binh quyền.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt chủ trương "đánh phủ đầu" quân
Tống để tự vệ trước bèn tập trung 10 vạn quân thủy bộ chia làm
hai đường đánh sang đất Tống với mục đích phá hủy các kho dữ
trữ lương thảo hậu cần nằm ở Ung Châu và Khâm Châu, Liêm
Châu mà nhà Tống đang chuẩn bị để phục vụ cho cuộc xâm lược
nước ta. Quân Thủy đánh Khâm Châu, quận bộ đánh Ung Châu.
Bị bất ngờ nên quân Tống thua liên tiếp. Nửa tháng sau chính
quyền Tống ở trung ương mới biết được tin. Vua Tống lập tức
chuẩn bị đại binh dự định đánh thẳng vào nước ta để giải vây.
Năm 1076, tháng 3, sau sáu tháng tiến công, quân ta đã đạt
được mục đích và rút về nước cũng là đề phòng bị đánh úp. Khi
đó, đại binh quân Tống còn chưa kịp lên đường.
Năm 1076, tháng 8, sau khi củng cố lực lượng, nhà Tống đem
năm qua 12 đời vua (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân
Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ
Tông, Dương Nhật Lễ, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Phế
Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế). Triều Trần hưng thịnh nhất
sau khi 3 lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên(Trung Quốc).
Năm 1258, quân Mông Cổ xâm lược nước Đại Việt của nhà
Trần. Khi ấy Mông Cổ là một đại đế quốc lớn nhất thế giới trong
lịch sử có lãnh thổ bao gồm khỏang 40 nước trải dài từ bờ Thái
Bình Dương cho tới Trung Đông, Đông Âu và vẫn tiếp tục bành
trướng. "Vó ngựa Mông Cổ đi tới đâu, nơi ấy cỏ cây không mọc
được". Lần xâm lược Đại Việt này nằm trong kế họach bành
trướng xuống phía Nam của Đại hãn Mông Cổ lúc đó là Mông Kha
(Mong Ke).
Quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy chia làm
nhiều cánh tràn vào Đại Việt tới Bạch Hạc (Vĩnh Phú ngày nay) thì
hợp lại cùng tiến về Thăng Long. Vua Trần Thái Tông và các tướng
lĩnh lần đầu ra quân gặp cường địch, non kinh nghiệm đối phó với
kỵ binh Mông Cổ nên liên tiếp thua trận phải thi hành kế sách bỏ
Thăng Long vườn không nhà trống rút về phía Nam bảo tòan lực
lượng chờ thời cơ, đồng thời để một số quân ở lại kết hợp với dân
chúng quanh vùng đánh du kích. Quân Mông Cổ vào đến Thăng
Long không cuớp bóc được nhiều của cải lương thực để nuôi quân
lại không quen khí hậu nên sinh bệnh, mệt mỏi, rối loạn đội ngũ,
nhụt nhuệ khí chiến đấu. Một đêm, Vua Trần bất ngờ tổ chức tập
kích doanh trại quân giặc. Quân Mông Cổ hốt hoảng không kịp
phản ứng giày xéo nhau mà chạy, bị giết rất nhiều. Đại quân Trần
truy sát lại thêm phục binh quân Trần đổ ra chặn đánh khắp nơi,
quân Mông Cổ chạy về Vân Nam (Trung Quốc) mà không có thời
Duật rồi Trần Quang Khải không ngăn được Toa Đô. Khi Toa Đô
tiến vào đến Ái Châu (Thanh Hóa), Vua Trần công kích Thóat Hoan
ở Thăng Long nhưng không được lại lui về Thiên Trường. Thoát
Hoan đuổi theo. Trần Quốc Tuấn phải đem quân từ Vạn Kiếp về
Thiên Trường rồi cùng Vua Trần rút ra phía Hải Dương. Thoát
Hoan đuổi theo sát gót. Đồng thời Toa Đô cũng kéo quân thủy theo
đường biển từ Ái Châu ra đuổi theo. Trần Quốc Tuấn sử dụng kế
nghi binh dụ quân Nguyên đuổi theo Vua Trần ra đường biển còn
mình đưa vua Trần thoát vào Ái Châu theo đường bộ, thóat hiểm
trong tíc tắc...
Thời tiết bắt đầu sang hè, nắng nóng và lụt lội làm cho quân
Nguyên vốn chỉ quen khí hậu lạnh ở phương bắc bị bệnh dịch rất
nhiều, lương thực lại cạn kiệt nên giảm sức chiến đấu. Trần Quốc
Tuấn chỉ chờ cơ hội như vậy để phản công. Ông cử Trần Quang
Khải, Trần Nhật Duật , Trần Quốc Tỏan, Nguyễn Khoái,... chặn
đánh quân thủy của Toa Đô ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương
Dương... Đích thân Trần Quốc Tuấn thì đánh lên Vạn Kiếp. Quả
nhiên quân Nguyên thất thế. Toa Đô rút về Thiên Trường. Quân ở
Vạn Kiếp chạy cả về Thăng Long. Liên lạc giữa hai cánh thủy bộ
của quân Nguyên bị quân Trần cắt đứt. Quân Trần tập trung đánh
Thăng Long. Thoát Hoan thua to, bỏ thành rút chạy về Bắc Ninh.
Khi Toa Đô kéo lên Thăng Long định hội quân với Thoát Hoan thì
Thóat Hoan đã chạy rồi . Toa Đô lui về đóng ở Tây Kết. Đến đây,
Toa Đô bị đại quân của vua Trần bắn chết, Nguyên quân bị đánh
tan tác chết vô số kể. Các tướng Ô Mã Nhi, Lưu Khuê dắt tàn quân
chạy vào Ái Châu. Quân Trần truy đánh rất rát cuối cùng Ô Mã Nhi,
Lưu Khuê phải bỏ thuyền tướng lấy thuyền nhỏ tháo chạy ra biển
về nước, quân Trần bắt sống được vài vạn tàn quân. Phía Thóat
tức bằng cách cho quân cuớp bóc dân chúng, đốt phá nhà cửa,
chùa chiền, đào bới lăng mộ vua Trần Cảnh,..
Không ở được Thăng Long, Thoát Hoan cho quân lui về Bắc
Giang, Vạn Kíếp sai Ô Mã Nhi ra biển tìm đoàn thuyền lương của
Trương Văn Hổ. Ô Mã Nhi ra đến cửa biển Đại Bàng (Hải Phòng)
thì bị đánh tơi bời. Quân Trần bắt được 300 chiến thuyền. Ô Mã
Nhi quay về Vạn Kiếp. Vua Trần cho người mang theo tù binh bắt
được của đoàn thuyền lương sang trại Thoát Hoan thông báo đoàn
thuyền lương Trương Văn Hổ đã bị diệt rồi. Tin đó làm quân
Nguyên lo sợ vì lương thực đã hết. Cùng lúc quân Trần phản công
ở khắp nơi. Sợ nguy, Thoát Hoan vội bàn với các tướng rút quân
về nước. Tất cả tướng Nguyên đều đồng ý. Thoát Hoan rút theo
đường bộ theo ngả Lạng Sơn, Ô Mã Nhi rút theo sông Bạch Đằng.
Nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho quân mai phục tất cả mọi nẻo
đường rút chạy. Ô Mã Nhi, cùng bộ tướng là Phàn Tiếp lọt vào trận
địa bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng, bị bắt sống, máu quân Nguyên
nhuộm đỏ nước sông. Trên bộ, Thoát Hoan cũng bị chặn đánh
nhiều trận. Xác quân Nguyên trải dài từ Vạn Kiếp tới biên giới Lạng
Sơn. Cuối tháng 4/1288, Thoát Hoan mới về được châu Tư Minh
(Quảng Tây, Trung Quốc). Đại Việt lại sạch bóng giặc ngoại xâm.
Sau chiến thắng quân Mông Nguyên lần thứ 3, Đại Việt có
được một thời gian dài ổn định và phát triển hưng thịnh. Nhưng từ
đời vua Trần Dụ Tông trở đi thì nước Đại Việt đã có nhiều biểu hiện
suy thoái. Vua quan bất tài, ăn chơi, sa đọa. Ngôi báu nhà Trần đã
có lúc rơi vào tay ngọai tộc, giặc giã nỗi lên như nấm, các nước lân
cận đều mang quân tràn sang cướp phá…Từ đời vua Trần Nghệ
Tông trở đi, Hồ Quý Ly nổi lên là một nhà chính trị có tài và được
trọng dụng. Nhờ đó nhân buổi rối ren, suy thoái của nhà Trần, Hồ
Quý Ly đọat được ngôi báu.
Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thánh
được bảo tòan xuống núi. Nghĩa quân Lê Lợi chiến đấu như vậy
ròng rã mấy năm trời cho đến năm 1424 thì mới tạo nên chuyển
biến có lợi cho mình.
Đầu năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã giành lại phần lớn
đất nước, dồn quân Minh vào cố thủ trong 4 thành Đông Quan
(Thăng Long), Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô. Tướng quân Minh lúc đó
là Vương Thông phải cho người về nước xin viện Binh. Tuy nhiên,
cả hai cánh quân cứu viện, với số quân 15 vạn, do Liễu Thăng và
Mộc Thạnh chỉ huy đều bị quân Lê Lợi tiêu diệt ngay tại cửa ải.
Liễu Thăng bị chém đầu tại trận ở ải Chi Lăng. Mộc Thạnh hay tin
thì đang đêm mang quân chạy về nước nhưng cũng bị phục đánh
tơi bời. Quân Lê Lợi giết được hàng nghìn lính, thu nhiều ngựa và
vàng bạc, khí giới. Ngày 10/12/1427, túng quẫn vì bị vây mà không
có viện binh, quân Minh đang cổ thủ trong các thành đều ra hàng.
Lê Lợi tha cho 10 vạn giặc Minh và còn cấp đủ lương thực cho
chúng, sửa cầu đường cho chúng rút về nước. Cả bọn đều bái lạy.
Đầu năm 1428, Lê Lợi làm lễ lên ngôi Hoàng Đế ở thành
Đông Kinh (Thăng Long) khôi phục tên nước Đại Việt mở đầu triều
đại nhà Lê. (Gọi là nhà hậu Lê để phân biệt với nhà tiền Lê của Lê
Đại Hành trước kia).
Nhà hậu Lê phát triển ổn định và đại nhiều thành tựu lớn trong
xây dựng đất nước qua năm đời vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), Lê Thái
Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Đến đời vua
Lê Uy Mục thì bắt đầu xuống dốc.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi
vua cho mình. Trước đó, ông ta cậy có nhiều công nên lạm quyền,
kết bè cánh và đã phế truất ngôi của Lê Chiêu Tông giao cho Lê
Cung Hoàng. Nhà Mạc thành hình. Ở trong nước là thế nhưng khi
đó. Đại Việt bị chia cắt thành hai “đàng” lấy sông Gianh làm ranh
giới. Đàng Ngoài tính từ bờ bắc sông Gianh trở ra bắc, Đàng
Trong từ bờ nam sông Gianh trở vào nam. Ranh giới này tồn tại
suốt gần 300 năm cho đến khi Nguyễn Huệ thống nhất vào năm
1786.
Năm 1771, ở Đàng Trong, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn
Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nông dân khởi nghĩa ở Tây Sơn. Lúc
này ở cả hai Đàng chính quyền phong kiến đều đã rất bê tha, suy
tàn. Trải qua mấy trăm năm chia cắt, chiến tranh triền miên giữa
hai Đàng đã làm cho đất nước điêu tàn, kiệt quệ, nông dân vô cùng
đói khổ. Vì thế vô vàn nông dân đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa
Tây Sơn. Với khẩu hiệu “ Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo”,
quân Tây Sơn tiến đến đâu thì dân nghèo ở đấy đều tham gia.
Thanh thế của nghĩa quân Tây Sơn lớn lên nhanh chóng. Hầu như
đánh đâu thắng đấy. Chẳng mấy chốc chiếm toàn bộ Quy Nhơn,
Quảng Ngãi.
Năm 1777, Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn vương, đóng ở
thành Đồ Bàn (Bình Định), sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh
thành Gia Định. Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ sau khi đánh lấy được
thành, giết chết chúa Nguyễn Phúc Thuần, cắt người trấn thủ xong
thì rút về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh là cháu của Nguyễn Phúc Khoát
(chúa Đàng Trong ngày xưa, trước Nguyễn Phúc Thuần) đem quân
chiếm lại thành Gia Định.
Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là
Thái Đức.
Năm 1783, quân Tây Sơn đánh chiếm lại thành Gia Định,
Nguyễn Ánh thua chạy trốn sang Xiêm (Thái
Lan) cầu cứu.
Sau khi Nguyễn Huệ rút đi, miền bắc trở nên rối loạn. Các thế
lực của họ Trịnh ra sức khôi phục lại cơ đồ. Lê Chiêu Thống phải
dựa vào sức cửa Nguyễn Hữu Chỉnh để chống đỡ. Chỉnh dẹp yên
được họ Trịnh, cậy mình có công lớn nên sinh ra lộng quyền,
chống lại Tây Sơn, đòi lại đất Nghệ An.
Năm 1787, Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm ra
bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cùng vua Lê bỏ chạy lên phía
bắc. Dọc đường Chỉnh bị bắt giết, Lê Chiêu Thống thoát sang đất
nhà Thanh cầu cứu. Diệt được Chỉnh, Vũ Văn Nhậm lại lộng
quyền. Nguyễn Huệ đích thân ra bắc giết chết Nhậm, đưa Ngô Văn
Sở lên thay, tuyển dụng người giỏi, hiền tài để trao quyền hành.
Nhà Lê mất từ đây.
Năm 1788, vua Thanh là Càn Long cử Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi
Đống… đem 20 vạn quân cùng Lê Chiêu Thống tiến vào nước ta
để “tiêu diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê”. Ngô Văn Sở bỏ trống
Thăng Long rút về xây phòng tuyến ở Tam Điệp một mặt báo tin
cho Nguyễn Huệ. Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long quá dễ cho là Tây
Sơn sợ mất mật nên trốn cả nên hống hách, coi thường Tây Sơn,
cho quân cướp phá hết sức tàn bạo. Lê Chiêu Thống cũng thực
hiện việc trả thù, báo oán cũng không kém phần tàn ác, ti tiện.
Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo, ngày 22/12/1788, lập đàn
tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung rồi
hành quân thần tốc ra bắc. Qua vùng Nghệ An, Thanh Hóa đều
tuyển thêm quân lính. Khi đến phòng tuyến Tam Điệp ngày
15/01/1779 đã có được đại quân hơn 10 vạn người.
Rạng sáng mùng 5 tết Kỷ Dậu, 30/01/1789, sau khi chuẩn bị
kỹ càng, vua Quang Trung cho quân tấn cống thành Ngọc Hồi,
cùng lúc đó cánh quân khác đánh vào đồn Khương Thượng ở
Đống Đa, sát thành Thăng Long. Ở Ngọc Hồi, trước sức tấn công
mãnh liệt, mưu trí của quân Tây Sơn, mặc dù chống trả kịch liệt
Nguyễn Ánh rút nhưng từ đó thường đem
quân đánh phá. Hai bên giành nhau thành Quy Nhơn mấy lần.
Sau khi Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc chết, nhà Tây Sơn do
Quang Toản lãnh đạo. Nhưng vua còn non nớt nên bị Thái sư Bùi
Đắc Tuyên lộng quyền gây nên nhiều mẫu thuẫn nội bộ. Các tướng
tự đánh giết lẫn nhau. Triều đình suy yếu. Trong khi đó Nguyễn
Ánh đựơc sự giúp sức của người Pháp ngày một mạnh lên.