CHUYÊN đề rèn kĩ NĂNG làm văn NGHỊ LUẬN xã hội - Pdf 31

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ X
TRƯỜNG THPT CHUYÊN TUYÊN
QUANG
*
MÔN: NGỮ VĂN
CHUYÊN ĐỀ: RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Người viết: Nguyễn Thị Thu Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên
Tuyên Quang
Trong những năm gần đây, dạng bài nghị luận xã hội xuất hiện ở nhiều đề
thi. Dạng bài này cho phép người viết phát huy các năng lực bản thân: năng lực tư
duy, suy nghĩ, huy động vốn hiểu biết và năng lực trình bày một vấn đề xã hội nào
đó sao cho giàu sức thuyết phục. Nó đòi hỏi ở người viết vốn sống phong phú, sâu
sắc, sự độc lập tự chủ trong suy nghĩ và khả năng sáng tạo cao. Do đó dạng bài
này thường làm các em học sinh thích thú nhưng cũng gặp không ít khó khăn khi
giải quyết các đề bài cụ thể. Chuyên đề này nhằm giúp các em nắm vững phương
pháp làm văn nghị luận xã hội và cách tích lũy kiến thức cho dạng bài này.
I. Nghị luận xã hội và cách làm bài nghị luận xã hội
1. Nghị luận xã hội là gì?
Nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên
quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích cuối
cùng là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa
người với người trong xã hội
2. Yêu cầu của một bài nghị luận xã hội:
- Đảm bảo kĩ năng nghị luận nói chung: tập trung hướng sâu vào luận đề để
bài viết đúng hướng, chặt chẽ, nhất quán với những dẫn chứng xác đáng, giàu sức
thuyết phục
- Đảm bảo kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội: bài viết phải thể hiện
được những hiểu biết về chính trị - pháp luật, truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo
đức, tâm lí – xã hội…, những tin tức thời sự cập nhật…

+ Mở bài: Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận
+ Thân bài: Giải thích, bình luận hiện tượng ; mô tả thực trạng; hậu quả/kết
quả tác động đến đời sống xã hội; nguyên nhân dẫn đến hiện tượng; giải pháp
+ Kết bài: Đánh giá ý nghĩa của hiện tượng đối với đời sống con người.;
nhiệm vụ bản thân (bài học liên hệ).
- Một số chú ý khi làm dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống:
Để viết dạng bài này, trước hết, học sinh phải biết nhận diện hiện tượng (sự
việc, con người): các biểu hiện, dạng tồn tại, thậm chí cả số liệu cụ thể. Thực hiện
thao tác này đòi hỏi học sinh phải quan tâm và hiểu biết và có suy ngẫm sâu sắc
về các vấn đề tồn tại trong xã hội, các em phải chú ý nghe thời sự hàng ngày, cập
nhật thông tin về các vấn đề trong nước và quốc tế. Những vấn đề xã hội được đặt
ra trong các đề thường là những hiện tượng có ảnh hưởng rộng đến đời sống cộng
đồng đặc biệt là cuộc sống của chính lứa tuổi học sinh
Sau khi nhận diện hiện tượng, cần phân tích hiện tượng ở các mặt nguyên
nhân, hậu quả, tìm ra giải pháp đề giải quyết vấn đề đó. Trong quá trình tích lũy
hiểu biết về hiện tượng, cần chú ý tới cách nói của các phóng viên, bình luận viên
2


trên báo đài, quan tâm tới dư luận xã hội, chịu khó tìm hiểu về cuộc sống xung
quanh. Tuy nhiên khi tiếp nhận thông tin, cần tỉnh táo xem xét, chọn lọc và xử lí
đích đáng trên cơ sở hiểu biết, cố gắng xây dựng một lập trường vững vàng. Khi
phân tích nguyên nhân nên chú ý tới các mặt chủ quan – khách quan, khi đánh giá
hậu quả cần xem xét ở phạm vi cá nhân – cộng đồng, hiện tại – tương lai….
Sau khi phân tích, bình luận về nguyên nhâ, kết/hậu quả, cần đề xuất giải
pháp. Cần xem lại nguyên nhân vì nó là gợi ý tốt nhất để tìm ra các giải pháp.
Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cần là sự bộc lộ vốn hiểu biết, lập
trường thái độ của người viết về các hiện tượng nên bên cạnh việc nắm vững các
bước làm bài, người viết còn phải thể hiện tiếng nói cá nhân, quan điểm đánh giá
rõ ràng, sắc sảo thì bài viết mới có sức thuyết phục cao.


cực; phê phán những tư tưởng có ý nghĩa tiêu cực; nhận thức rõ những đóng góp hạn chế của của tư tưởng để phát huy và bổ khuyết; phương hướng hành động; rút
ra bài học cho bản thân (có thể chuyển xuống phần kết bài)
+ Kết bài: Đánh giá ý nghĩa tư tưởng, đạo lí được bàn luận.
- Một số chú ý khi làm dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
Khi giải thích khái niệm tùy từng yêu cầu cụ thể mà mức độ và cách giải
thích có thể sẽ khác nhau. Có những đề bài khâu giải thích có thể làm gọn gàng,
đơn giản , nhất là trong các đề bài mà yêu cầu, nhận định không có các khái niệm
phức tạp, khó hiểu hay những hình ảnh có ý nghĩa sâu xa. Nhưng cũng có những
đề bài khâu giải thích làm rất công phu như quan niệm của Viên Mai: “Làm người
không thể không phân biệt giữa nhu mì và nhu nhược, giữa cứng cỏi và cường
bạo, giữa tiết kiệm và keo kiệt, giữa trung hậu và khờ khạo, giữa sáng suốt và cay
nghiệt, giữa tự trọng và tự đại, giữa khiêm tốn và hèn hạ. Mấy cái ấy hình như
giống nhau mà thực là khác nhau”. Nếu không giải thích tường tận, thấu đáo
những mệnh đề trong quan niệm thì không xác định nổi ý nghĩa, phạm vi ý nghĩa
trong quan niệm
Khi phân tích, lí giải để làm sáng tỏ bản chất vấn đề cùng các khía cạnh và
mối quan hệ của nó cần phải tách vấn đề thành từng khía cạnh nhỏ để xem xét,
nghiên cứu. Cách đơn giản nhất là đặt ra các câu hỏi để khảo sát, tìm hiểu.
Khi bình luận, đánh giá, cần nhìn nhận đánh giá ở các bình diện, khía cạnh
khác nhau: ý nghĩa, tư tưởng, ý nghĩa thực tế mức độ đúng – sai, đóng góp, hạn
chế…Từ đó cần nhìn nhận giá trị của vấn đề như một bài học kinh nghiệm trong
cuộc sống và trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tình cảm. Ngoài ra,
học sinh giỏi có thể linh hoạt đề xuất nhiều ý, nhiều bố cục khác miễn là làm sáng
tỏ được vấn đề và có sức thuyết phục cao.
c) Cách nhận diện và cách làm đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học
* Cách nhận diện:
Dạng dề này thường đề cập đến các vấn đề có ý nghĩa xã hội được đặt ra
trong tác phẩm văn học. Các vấn đề xã hội có ý nghĩa trong tác phẩm được đưa ra

Nói xong nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ. Tức thì anh quay lại tiệm
bán hoa hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đem
đó anh lái xe một mạch 300km về nhà mẹ anh và trao tận tay bà bó hoa.
* Cách làm bài
- Bước 1: Phân tích đề: Cần xác định:
+ Yêu cầu về thể loại (hình thức + các thao tác chính)
+ Yêu cầu về nội dung
+ Yêu cầu về phạm vi tư liệu
- Bước 2: Lập dàn ý
+ Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm có vấn đề cần nghị luận; Giới thiệu
vấn đề được đưa ra bàn bạc.
+ Thân bài: Nêu vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học (Vấn đề đó là
gì? Được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?); từ vấn đề rút ra, tiến hành nghị
luận xã hội
+ Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị tác phẩm
và trong cuộc sống con người (ý nghĩa thời sự); rút ra bài học cho bản thân
- Một số chú ý khi làm dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong
tác phẩm văn học
Để làm dạng bài này, người viết trước hết phải nêu và phân tích làm rõ vấn
đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học cùng với các khía cạnh, các phương diện
biểu hiện của nó. Sau khi đã xác định chính xác vấn đề xã hội, cần xem xét ý nghĩa
5


của nó ở thời điểm tác phẩm ra đời rồi mới nghị luận về ý nghĩa của vấn đề đó trong
cuộc sống hôm nay.
Khi bàn về mối liên hệ của vấn đề với cuộc sống hôm nay, ta tuỳ theo tính
chất của vấn đề mà xử lí cụ thể. Có những vấn đề thuộc về hiện tượng xã hội, có
những vấn đề thuộc tư tưởng đạo lí, có những vấn đề vừa mang màu sắc tư tưởng
đạo lí, vừa mang dáng dấp của một hiện tượng đời sống.

sống. Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng đó.
Tìm hiểu đề

6


- Thể loại : Nghị luận về một hiện tượng đời sống, thao tác nghị luận: phân
tích, chứng minh, bình luận…
- Nội dung: Bàn về hiện tượng: Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia
đình, tổ chức thu nhận trẻ em lang thang, cơ nhỡ, kiếm sống trong các thành phố,
thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện,
vươn lên trong cuộc sống.
- Phạm vi tư liệu: đời sống thực tế, sách báo.
Lập dàn ý
a) MB
b) TB: Cần nêu được một số ý cơ bản như sau:
* Thực trạng trẻ em lang thang cơ nhỡ
- Trẻ em lang thang cơ nhỡ là những trẻ ở lứa tuổi vị thành niên bị mồ côi
cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi, do cha mẹ bất hoà, gia đình khó
khăn hay một lí do nào đó mà không có người chăm sóc, nuôi dưỡng, sớm phải
sống lang thang, tự lập.
- Cuộc sống của trẻ em lang thang, cơ nhỡ phần lớn là đói rách, nghèo khổ,
không được học hành đến nơi đến chốn, không được bao bọc, chở che trong vòng
tay yêu thương của cha mẹ hay người thân. Nhìn chung đó là những trẻ em chịu
thiệt thòi, bất hạnh bởi trẻ thơ mà không có tuổi thơ.
- Trẻ em lang thang, cơ nhỡ sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức: luôn bị
đói nghèo, bệnh tật đe doạ; bị bóc lột sức lao động; dễ bị kẻ xấu lợi dụng, lạm
dụng; dễ bị tha hoá; cuộc sống không ổn định; tương lai mờ mịt, bấp bênh….
- Số lượng trẻ em lang thang, cơ nhỡ tăng, có nhiều biểu hiện tiêu cực sẽ
ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của xã hội….

giải thích, chứng minh, bình luận…
- Nội dung: Qua câu nói của Nguyễn Bá Học -> vai trò của ý chí, quyết tâm
trong cuộc sống con người.
- Phạm vi tư liệu : vốn sống thực tế, sách báo, văn học.
Lập dàn ý
a) MB
b) TB: Cần đảm bảo một số ý cơ bản như sau:
* Bước 1: Giải thích
- Đường đi khó: không chỉ có ý nghĩa cụ thể mà còn là cách nói khái quát về
công việc, sự nghiệp, về đường đời đầy chông gai thử thách.
- Ngăn sông cách núi: là hình ảnh vừa mang ý nghĩa cụ thể, chỉ những
không gian địa lí hiểm trở, vừa có ý nghĩa khái quát về những chướng ngại, thử
thách, khó khăn khách quan
- Lòng người ngại núi e sông: diễn tả những chướng ngại, thử thách, khó
khăn thuộc chủ quan. Bản thân con người chưa thông suốt về tư tưởng, không có
ý chí vàquyết tâm; nhụt chí, nản lòng.
-> Nội dung câu nói: Trong cuộc đời, trong công việc nếu bản thân con
người chưa thông suốt về tư tưởng, không có ý chí, quyết tâm, dễ nản lòng, nhụt
chí thì khó có thể vượt qua được những khó khăn, thử thách.
- Câu nói muốn khẳng định và nhấn mạnh yếu tố tinh thần, tư tưởng của con
người trong cuộc sống cũng như trong công việc. Một khi tư tưởng thông suốt,
tinh thần vững vàng thì sẽ có quyết tâm cao, có ý chí mạnh mẽ để vượt qua mọi
khó khăn, thử thách.
* Bình luận, phân tích, chứng minh
- Ý kiến của Nguyễn Bá Học đã nêu ra một quan niệm sống hoàn toàn đúng
đắn, có ý nghĩa tích cực đối với đời sống con người.
8


- Tại sao Nguyễn Bá Học khẳng định như vậy? Bởi cuộc sống muôn màu

DỰA VÀO CHÍNH MÌNH
Ốc sên con ngày nọ hỏi mẹ của nó: “Mẹ ơi! Tại sao chúng ta từ khi sinh ra
phải đeo cái bình vừa nặng vừa cứng trên lưng thế? Thật là thiệt chết đi được!”
- “Vì cơ thể chúng ta không có xương sống để chống đỡ, chỉ có thể bò mà
bò cũng không nhanh”. Mẹ nó nói.
- Chị sâu róm không có xương cũng bò chẳng nhanh, tại sao chị ấy không
đeo cái bình vừa nặng vừa cứng đó?
- Vì chị sâu róm sẽ thành bướm, bầu trời sẽ bảo vệ chị ấy.

9


- Nhưng em giun đất cũng không có xương, cũng bò chẳng nhanh, cũng
không biến hóa được, tại sao em ấy không đeo cái bình vừa nặng vừa cứng đó?
- Vì em giun sẽ chui xuống đất, lòng đất sẽ bảo vệ em ấy.
Ốc sên con bật khóc nói: “Chúng ta thật đáng thương, bầu trời không bảo
vệ chúng ta, lòng đất cũng chẳng che chở chúng ta”.
- “Vì vậy chúng ta có cái bình”- ốc sên mẹ an ủi con con- “Chúng ta không
dựa vào trời cũng chẳng dựa vào đất, chúng ta phải dựa vào chính bản thân
chúng ta”.
Câu chuyện trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì?
Phân tích đề
- Thể loại: Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học,
thao tác nghị luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.
- Nội dung: Cần phải dựa vào chính mình để tồn tại và phát triển.
- Phạm vi tư liệu: thực tế đời sống
Lập dàn ý
a) MB
b) TB: Cần đảm bảo được một số nội dung cơ bản sau:
- Nêu vấn đề: tóm tắt ngắn gọn -> ý nghĩa: Câu chuyện là ẩn dụ về con





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status