BƯỚC đầu tìm HIỂU NHỮNG ĐÓNG góp của PHỤ nữ VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP GIỮ nước từ THẾ kỷ XI – XV - Pdf 31

Chuyên đề
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHỤ NỮ VIỆT
NAM TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC TỪ THẾ KỶ XI – XV
I. MỞ ĐẦU
Phụ nữ thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng là một lực
lượng vô cùng quan trọng trong sản xuất và trong cách mạng. Không phải
đến bây giờ phụ nữ mới thể hiện vai trò to lớn của mình mà ngay từ thời xa
xưa, phụ nữ Việt Nam đã có rất nhiều đóng góp trên hầu hết mọi lĩnh vực.
Ngay từ những buổi đầu dựng nước, phụ nữ Việt Nam đã giữ một vai
trò hết sức quan trọng. Họ đã đóng góp một phần công sức lớn lao vào sự
nghiệp dựng nước và nhất là sự nghiệp giữ nước của dân tộc.
Ngay từ những năm đầu Công nguyên, Hai Bà Trưng đã đứng dậy
khởi nghĩa đánh giặc ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Cuộc khởi nghĩa
do Hai Bà lãnh đạo là một sự kiện vô cùng đẹp đẽ trong lịch sử phát triển
của dân tộc ta nói chung và của phụ nữ Việt Nam nói riêng. Bàn về cuộc
khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo, nhà sử học Lê Văn Hưu đã viết:
“Trưng Trắc, Trưng Nhị là phụ nữ hô một tiếng mà các quận Cửu Chân,
Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng
nước xưng vương dễ như trở bàn tay, đủ biết là tình thế đất Việt ta có thể
dựng được cơ nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước
họ Ngô khoảng trên 1000 năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay… Há chẳng
xấu hổ với hai chị em Trưng Vương là phụ nữ hay sao”.
Qua lời bàn của nhà sử học Lê Văn Hưu, chúng ta thấy được ý nghĩa
cũng như cống hiến to lớn của Hai Bà Trưng và của phụ nữ Việt Nam đối
với lịch sử dân tộc. Mặc dù mang tư tưởng phong kiến chính thống song ông
vẫn nhận thấy được tầm vóc cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và vai trò
của phụ nữ Việt Nam nói chung.
1


Trong chế độ phong kiến, phụ nữ Việt Nam đóng một vai trò hết sức

không những phải chịu sự áp bức về dân tộc, về giai cấp mà họ còn bị áp
bức cả về giới. Phụ nữ lao động là những người bị áp bức nặng nề nhất. Họ
là những “nô lệ của những nô lệ”, bị trói buộc bởi biết bao sợi dây oan
nghiệt của những tập tục hủ lậu, những lễ giáo phản động của bọn vua quan
phong kiến. Ăng-ghen đã rút ra rằng: “Sự đối lập giai cấp đầu tiên biểu hiện
trong lịch sử là sự đối lập, đối kháng giữa đàn ông và đàn bà trong chế độ
hôn nhân cá thể, và sự áp bức đầu tiên xuất hiện cùng một lúc với sự áp bức
của đàn ông đối với đàn bà”.
Ở nước ta, lễ giáo phong kiến mà bọn quan lại đô hộ Tích Quang,
Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp,… ra sức truyền bá vào nhân dân có ảnh hưởng nhất
định đến phong hóa Việt Nam. Ít nhiều nó đã tăng cường sự áp chế trong
gia đình, củng cố chế độ phụ quyền phong kiến. Điều này không thể tránh
khỏi bởi sự phân hóa giai cấp cũng ngày càng sâu sắc trên cơ sở phát triển
nền tư hữu tài sản. Nền tảng tư tưởng chủ yếu của giai cấp phong kiến là
thuyết “Tam cương”, đó là ba giường mối của Nho giáo: đạo vua – tôi, đạo
cha – con, đạo chồng – vợ. Rồi đến “Tam tòng” là những sợi dây oan nghiệt
buộc chặt người phụ nữ Việt Nam vào khuôn khổ chật hẹp của chế độ phong
kiến. Dưới chế độ phong kiến, việc trọng nam khinh nữ là lẽ đương nhiên.
Việc bán vợ đợ con, tệ cưỡng hôn (cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy), chế độ đa
thê,… là những hiện tượng phổ biến trong xã hội phong kiến. Điều đó được
thể hiện ở câu nói cửa miệng của chế độ phong kiến: “nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô”. Hoặc trong luật lệ nhà Lê quy định: “trong 7 lý do cho
3


phép người đàn ông bỏ vợ, có điều người vợ lắm lời, hoặc người mẹ tái giá
thì mất luôn cả quyền làm mẹ với con của chồng trước, ruộng nương tài sản
phải trả cho chồng trước…”.
Ở xã hội xưa, người phụ nữ bị buộc chặt vào cỗ xe “tam tòng”, “tứ
đức”. Trong gia đình, địa vị của người phụ nữ bị mất bình đẳng. Họ không

Nhận rõ những yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong hoàn
cảnh và điều kiện riêng của họ, ta sẽ hiểu rõ hơn được phần việc chung của
người phụ nữ dưới thời phong kiến ngày xưa. Ở hoàn cảnh và điều kiện
riêng như thế, họ phải cố gắng vươn lên để đóng góp sức mình vào công
việc chung nhằm giải phóng người phụ nữ, giải phóng dân tộc và giải phóng
giai cấp.
2.2 Phụ nữ Việt Nam và sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm,
bảo vệ và giải phóng đất nước
Chúng ta đều biết, trong hàng ngàn năm có giai cấp ở xã hội cũ, chiến
tranh là hiện tượng thường trực, phổ biến. Chiến tranh làm cho cả dân tộc
phải chịu cảnh đau thương tang tóc. Người phụ nữ Việt Nam cũng phải chịu
chung số phận đau thương và phải sống trong cảnh ngộ đó. Nhưng người
phụ nữ Việt Nam không than vãn, oán trách mà họ nhìn thẳng vào thực tế và
hành động xứng đáng với truyền thống của mình và dân tộc mình.
Khi đất nước có giặc ngoại xâm thì chiến trận là công việc thích hợp
dành cho đàn ông và thường do người đàn ông đảm nhiệm. Nhưng ở Việt
Nam, một hiện tượng lịch sử đáng chú ý là việc người phụ nữ trực tiếp cầm
vũ khí chiến đấu. Phụ nữ Việt Nam đã tham gia bảo vệ Tổ quốc với một ý
thức tự giác, một tinh thần tích cực và có vai trò rất lớn trong sự nghiệp
chống giặc ngoại xâm. Hiện tượng này lặp đi lặp lại trong các thế kỷ và trở
thành một truyền thống, một đặc điểm riêng của phụ nữ nước ta.

5


Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam nói chung và
của phụ nữ Việt Nam nói riêng đã được khơi dậy từ rất sớm bởi những
người phụ nữ kiệt xuất như Hai Bà Trưng, Bà Triệu và sau này vẫn được
những phụ nữ xứng đáng đứng trong hàng ngũ quý tộc góp phần kế thừa. Đó
là những người đã biết gắn bó quyền lợi của giai cấp mình với quyền lợi của

lần tiến hành kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Qua những lúc gian nan, phụ nữ
Việt Nam đã tỏ rõ vai trò quan trọng của mình trước vận mệnh dân tộc.
Không những chỉ lo đánh giặc phương Bắc, nhân dân ta còn luôn luôn
phải lo đối phó với những cuộc quấy nhiễu của bọn giặc phương Nam để giữ
vững bờ cõi đất nước.
Ở thế kỷ XI, Nguyên Phi Ỷ Lan – người con giá Kinh Bắc năm xưa
sau khi được vào triều, chẳng những bà đã ban nhiều chính sách mang lại
nhiều quyền lợi cho nhân dân, mà bà còn là hình ảnh tượng trưng cho sự
thông minh, tài tổ chức của phụ nữ Việt Nam. Trong lúc vua đi đánh giặc ở
phía Nam, bà đã thay mặt vua cầm quyền trị nước, trong được lòng dân, xã
hội ổn định. Điều đó đã làm kích động tinh thần chiến đấu của nhà vua. Sử
sách đương thời có ghi: “Chiêm Thành dâng voi trắng, sau lại quấy nhiễu
biên giới. Ất Dậu, Thiên Huống Bảo Tượng năm thứ hai (1069), mùa xuân,
tháng 2, vua thân đi đánh Chiêm Thành bắt được vua nước ấy là Thế Củ và
dân chúng 5 vạn người. Trận này vua đánh Chiêm Thành mãi không lấy
được, đem quân về đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên Phi giúp việc nội trị,
lòng dân cảm hóa vui vẻ, trong cõi yên tĩnh, tôn sung phật giáo, nhân dân
gọi là Quan Âm. Vua nói: “Nguyên Phi là đàn bà còn làm được như thế, ta
là đàn ông thì được việc gì?” lại đi đánh lần nữa, lần này đánh được”.
“Nước mất nhà tan” là chân lý bất hủ đã được nhân dân ta đúc kết từ
ngàn xưa. Giặc ngoại xâm đến nước ta, chúng không từ một thủ đoạn nào để

7


thẳng tay bắt giết nhân dân ta từ phụ nữ đến trẻ em. Từ thế kỷ XIII, giặc
Nguyên tràn vào Thăng Long đã làm cỏ cả kinh thành.
Trong cuộc kháng chiến đầu tiên của nhà Trần chống lại quân xâm
lược Mông – Nguyên năm 1258, việc đưa toàn bộ gia quyến, tôn thất của
nhà vua và các quý tộc ra ngoài kinh thành để tạo điều kiện cho triều đình

Vào tháng 3/1288, giặc Nguyên sau khi thua trận phải rút quân về
nước. Đoán trước được ý đồ của giặc, Trần Quốc Tuấn cùng triều đình nhà
Trần đã ra lệnh cho quân bố trí chặn đường rút lui của giặc. Sông Bạch Đằng
xưa – nơi đã ghi chiến công hiển hách của Ngô Quyền, Lê Hoàn lại là nơi
ghi tiếp chiến công của Trần Quốc Tuấn. Nhờ sự chỉ dẫn tận tình của bà bán
nước mà Trần Quốc Tuấn đã bố trí trận đánh ở đây và thu được thắng lợi
lớn. Quân Nguyên bị thua to, Ô Mã Nhi cùng nhiều tướng giặc khác bị bắt
sống, ta thu được 500 chiếc thuyền. Khi bà mất, nhớ công lao to lớn của bà,
vua Trần đã sai người lập đền thờ ngay tại quán nước cũ của bà. Từ đó, nhân
dân gọi đền đó là đền “Vua Bà”.
Một điều khẳng định rằng trong bất kỳ cuộc kháng chiến nào của dân
tộc dù lớn dù nhỏ đều có công đóng góp của những người phụ nữ Việt Nam.
Họ là những người phụ nữ hiền dịu mà dũng cảm, bất khuất mà khiêm tốn
xứng đáng với truyền thống của Bà Trưng, Bà Triệu để lại.
Từ thế kỷ XI – XV, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh
là cuộc kháng chiến lớn mà phụ nữ có rất nhiều đóng góp. Bằng nhiều hình
thức chiến đấu mưu trí như dùng lời ca tiếng hát, dùng mưu nhử giặc vào
chỗ phục kích để tiêu diệt,… phụ nữ Việt Nam đã góp phần tạo nên chiến
công oanh liệt của dân tộc ta ở thế kỷ XV.
Thế kỷ XV, lấy cớ “phù Trần, diệt Hồ”, giặc Minh đã xâm lược và
thống trị nhân dân ta gây nên bao cảnh đau thương cho cả dân tộc mà phụ nữ
là người phải chịu số phận đau đớn nhất. Năm 1406, vua Thái Tổ nhà Minh
9


đã yêu sách bắt dân ta phải nộp “gái đẹp đấm bóp”, chúng đã cướp đi biết
bao người con gái đẹp. Không những thế, chúng còn dã man mổ bụng đàn bà
có thai rồi giết chết cả mẹ lẫn con, cắt tai đem nộp cho chủ tướng. Tội ác của
quân Minh gây ra cho nhân dân ta trời đất không thể dung thứ. Làm sao có
thể kể hết tội ác mà quân Minh đã gây ra cho dân tộc ta, và dù cho chúng ta

sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, bà đã được vua Lê Lợi
phong làm “Kiến Quốc quân Phu nhân”. Khi bà mất, Lê Thánh Tông đã sai
lập đền thờ bà ở làng để ghi nhớ công lao. Năm 1469,sử thần Lê Tung được
cử soạn thần tích của bà đã làm thơ ca ngợi bà như sau:
“Vĩ đại thay người đàn bà giỏi
Chí khí mạnh ngang vạn quân
Giặc Ngô cướp giữ
Ở thành Cổ Lộng
Vua ta khởi nghĩa lên
Bà dốc chí theo về
Quân thiết kỵ hùng mạnh
Thành công như thắt túi
Cầm bút chép sử nước Việt
Bà ngang tiếng với vua Trưng Vương
Miếu đền hưởng tế
Tiếng tăm truyền lại nghìn đời”
Cũng ở cuộc kháng chiến chống quân Minh, một thời gian dài người
ta gọi tránh tiếng “hát ả đào” thành “hát cô đầu” để tỏ lòng quý trọng một
người con gái tên là Đào Thị Huệ làm nghề ca hát ở xã Đào Đặng (Tiên Lữ Hưng Yên). Với nhiệt tình yêu nước và chí căm thù giặc, cô đã dùng mưu
giết chết từng toán quân Minh khi chúng kéo quân về đóng đồn trong xã.

11


Nhớ công ơn giết chết giặc của cô, dân làng đã đặt tên cho thôn cô là thôn Ả
Đào và sau khi cô chết nhân dân đã lập đền thờ cô.
Cũng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh ở thôn Nhân Duệ
(Thanh Oai – Hà Tây), có một ngôi đình thờ một người phụ nữ. Đó là bà
chài nghèo đã cùng với con gái cố gắng chèo thuyền chở nghĩa quân của Lê
Lợi qua sông để tiêu diệt quân Minh ở trận đánh lịch sử Tốt Động năm 1426.

xâm, bảo vệ và giải phóng đất nước. Những đóng góp đó của phụ nữ Việt
Nam có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử dân tộc.
Dân tộc ta là một dân tộc nhỏ bé, đất không rộng, người không đông
lắm nhưng lịch sử tồn tại và phát triển của mình đã phải đương đầu với biết
bao kẻ thù và phải đối phó với không biết bao nhiêu nguy cơ xâm lược của
các nước lớn. Tuy vây, với sự mạnh mẽ và khí phách anh hùng, dân tộc ta đã
vượt qua những thử thách gian khó đó, đứng vững trước mọi cơn bão táp.
Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm anh dũng đó đã sớm tạo ra cho
nhân dân ta và phụ nữ ta một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, một truyền thống
anh hùng đáng tự hào. Khi nói về những đóng góp của phụ nữ Việt Nam, bà
Nguyễn Thị Thập – Nguyên Chủ tich Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã
nhận định: “Trong khi đánh giá thành tích của phụ nức đóng góp vao sự
phát triển xã hội cũ, phụ nữ bị phụ thuộc vào gia đình, phải gánh vác công
việc gia đình nặng nhọc, ít được học tập lại bị kìm hãm nhiều mặt, vậy mà
họ đã cố gắng vươn lên. Điều đó chứng tỏ rằng chị em phụ nữ nước ta có
tinh thần bất khuất, có truyền thống lao động cần cù, có nghị lực và óc sáng
tạo dồi dào”.
Trong chế độ phong kiến, người phụ nữ Việt Nam đã có rất nhiều
cống hiến đối với sự nghiệp chung của dân tộc. Mặc dù vậy, dưới chế độ cũ,
phụ nữ lại rất bị coi thường, bị khinh rẻ. Điều đó càng chứng tỏ sự cố gắng
cũng như vai trò lớn lao của người phụ nữ Việt Nam.
13


2.3 Một số nhận xét và kết luận
Qua việc tìm hiểu một vài nét về địa vị của người phụ nữ dưới chế độ
phong kiến nói chung và trong các thế kỷ XI – XV nói riêng, cùng với việc
tìm hiểu bước đầu những đóng góp của phụ nữ Việt Nam đối với sự nghiệp
giữ nước trong các thế kỷ này, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét bước
đầu như sau:

người phụ nữ Việt Nam vẫn tự tin vào khả năng và vai trò to lớn của mình.
Phụ nữ Việt Nam trong các thế kỷ XI – XV nói riêng và phụ nữ Việt
Nam dưới thời phong kiến nói chung rất xứng đáng được cả dân tộc cũng
như thế giới ca ngợi và khâm phục. Trong các triều đại phong kiến, mặc dù
bị đè nén áp bức bởi những lễ giáo khắt khe, song họ vẫn góp phần công sức
đáng kể vào sự nghiệp giữ nước của dân tộc.
Cho đến thời đại Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam mới có điều kiện để
đóng góp và phát huy vai trò to lớn của mình. Đánh giá công lao to lớn của
phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Non sông gấm vóc
Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực
rỡ”.
Trong xã hội cũ, phụ nữ là người đau khổ nhất, bị áp bức nhiều nhất
do đó dễ nhạy cảm với cách mạng. Hơn nữa phụ nữ lại là lực lượng to lớn
trong nhân dân, không có phụ nữ tham gia thì không có cuộc vận động cách
mạng nào có thể thành công. Chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mới tạo ra được mọi điều kiện cần thiết về
mọi mặt để giải phóng phụ nữ một cách triệt để, thực hiện bình đẳng toàn
diện giữa nam và nữ một cách triệt để, để cho phụ nữ có địa vị xứng đáng
trong xã hội. Chỉ có dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, phụ nữ mới phát huy hết
được năng lực và mới cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ăng ghen (1972), Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước,
NXB Sự thật, Hà Nội.
2. C. Mác – Ăng ghen tuyển tập; tập II, tập XXX (1971), NXB Sự
thật, Hà Nội.
3. Phan Huy Chú (1971), Lịch triều hiến chương loại chí: tập I, tập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status