ĐỀ TÀI KHOA HỌC
SỐ: 07-CS-2005
NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
TRONG MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI QUA SỐ LIỆU
THỐNG KÊ
1. Cấp đề tài
: Cơ sở
2. Thời gian nghiên cứu : Năm 2005
3. Đơn vị chủ trì
: Viện Khoa học Thống kê
4. Đơn vị quản lý
: Viện Khoa học Thống kê
5. Chủ nhiệm đề tài
: CN. Nguyễn Thị Thái Hà
6. Những ngƣời phối hợp nghiên cứu:
CN. Vũ Thị Mai
CN. Phan Thị Ngọc Trâm
CN. Trần Thị Thanh Hƣơng
308
PHẦN I
dân các cấp qua các khoá đều tăng. Khóa 1999-2004, số nữ là đại biểu hội
đồng nhân dân cấp tỉnh chiếm 22,5%, cấp huyện chiếm 20,7%, cấp xã chiếm
17%20.
Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp uỷ từ Trung ƣơng đến cơ sở chiếm khoảng
10-11%. Tỷ lệ nữ cán bộ công chức ở vị trí chủ chốt nhƣ bí thƣ, phó bí thƣ,
uỷ viên thƣờng vụ các cấp chỉ khoảng 3-8%.
Với tỷ lệ nữ chiếm 70% lực lƣợng lao động trong ngành, cán bộ nữ
ngành giáo dục đã dần khẳng định vị trí của mình trong xã hội.
Trong 5 năm qua tỷ lệ nữ có học hàm giáo sƣ tăng từ 3,5% lên 4,3%,
phó giáo sƣ tăng từ 5,9% lên 7,0%, tiến sĩ khoa học và tiến sĩ tăng từ 12,1%
lên 14,9%.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học phụ nữ Việt nam giữ vai trò quan
trọng có 6,3% cán bộ phụ trách là nữ, 10% đề tài nghiên cứu khoa học cấp
nhà nƣớc do phụ nữ làm chủ nhiệm21. Các cán bộ khoa học nữ đã có nhiều
công trình nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào
quá trình sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, góp phần làm thay đổi công nghệ sản xuất, chăm sóc sức khoẻ,
sử dụng năng lƣợng mới, bảo vệ môi trƣờng…
Trong lĩnh vực văn hoá thể thao nhiều nữ vận động viên đã vƣợt khó
khăn, miệt mài luyện tập đạt nhiều huy chƣơng, lập nhiều kỷ lục tại các kỳ thi
đấu thể thao quốc gia và đã đạt thành tích cao trong các cuộc thi quốc tế.
Không chỉ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, xã
hội, trong thời đại ngày nay, phụ nữ còn có vai trò quan trọng là ngƣời duy trì
và phát triển những giá trị văn hoá gia đình, giữ gìn bản sắc dân tộc, giữ vai
trò chủ yếu trong tổ chức cuộc sống gia đình, chăm sóc, nuôi dạy con.
Chính vì vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam mà trong nhiều năm
qua, Đảng và Nhà đã xây dựng những chiến lƣợc, chính sách tạo điều kiện
cho phụ nữ Việt Nam phát huy đƣợc vai trò và khả năng của mình.
- Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức
khoẻ;
- Nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của phụ nữ trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữ đƣợc giới thiệu và bầu tham gia
lãnh đạo các cấp, các ngành;
- Tăng cƣờng năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Trong từng mục tiêu đều có các chỉ tiêu và các biện pháp thực hiện cụ
thể. Trong phần nội dung đề tài có tóm tắt kết quả thực hiện các mục tiêu
Chƣơng trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ .
22
Các mục tiêu cụ thể xem phần Phụ lục Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu.
311
Kết quả đánh giá thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ
của phụ nữ đƣợc tổng hợp trên cơ sở báo cáo của các bộ/ban/ngành và các
đoàn thể tổ chức chính trị xã hội mà nền tảng của nó là số liệu tổng kết các
chƣơng trình hành động và số liệu thống kê đƣợc phân loại theo giới. Vậy
thực trạng số liệu thống kê ở nƣớc ta ra sao.
PHẦN II
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA
PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỐNG KÊ
A. THỐNG KÊ GIỚI
Để tiện cho việc phân tích thực trạng số liệu thống kê giới ở nƣớc ta. Ở
đây chúng tôi sẽ điểm qua tình hình thống kê giới trên thế giới trên cơ sở Báo
cáo đánh giá về thống kê giới của Liên Hợp Quốc của các quốc gia và khu
vực cho thời kỳ 1975-2003.
I. Thống kê giới trên thế giới
Báo cáo về thống kê giới đánh giá mặt hạn chế của thống kê giới giữa
các khu vực và các nƣớc qua 3 nhân tố: Thứ nhất là không có năng lực thống
kê phù hợp; Thứ hai là thiếu thông tin cơ bản phân theo giới ; và thứ ba là
Thiếu các khái niệm và phƣơng pháp phù hợp. Báo cáo về thống kê giới đã
đƣa tra các chiến lƣợc và chƣơng trình hành động tập trung vào các hoạt
động:
Tăng cƣờng hệ thống thông tin thống kê quốc gia
Tập trung vào các thông tin chủ đạo về giới trong mọi lĩnh vực liên quan
đến sản xuất số liệu thống kê
Phát triển và hoàn thiện các khái niệm và phƣơng pháp thống kê giới ở
các quốc gia và khu vực .
Những thông tin trên chứng tỏ việc thiếu các thông tin, số liệu thống kê
giới là một tình trạng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở các khu vực và các
nƣớc chậm phát triển. Các nƣớc và các khu vực chậm phát triển số liệu thống
kê giới rất hạn chế, không chỉ thiếu các chỉ tiêu thống kê giới chủ yếu mà còn
chƣa có những khái niệm và phƣơng pháp thống kê giới đúng và đầy đủ.
II. Thực trạng số liệu thống kê giới ở Việt Nam
Theo danh mục Hệ thống các chỉ số trong cơ sở dữ liệu VietInfo 4.0
(1990-2003) thì thiếu số liệu nhiều chỉ tiêu thống kê phân theo giới. Theo các
23
The World‟s Women 2005: Progress in Statistics (Pg vii, ix).
313
Mục tiêu phát triển của Việt Nam thì còn thiếu nhiều chỉ tiêu ví dụ nhƣ các
chỉ tiêu: Tỷ lệ phụ nữ là lãnh đạo trong các bộ, ngành, cơ quan trung ƣơng;
Tỷ lệ phụ nữ là chủ doanh nghiệp; và Tỷ lệ hộ gia đình đƣợc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có cả tên vợ và tên chồng.
chính trị-xã hội, các nhân tố thực tiễn tác động từ nhiều phía đến quá trình
phát triển của phụ nữ, có sự so sánh, cân bằng với nam giới trong các hoạt
động xã hội. Do vậy phải có những thông tin, số liệu thống kê về giới phù
hợp, chính xác, kịp thời. Ở đây vai trò của thống kê giới cần đƣợc quan tâm,
đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức lồng ghép thống kê giới trong thống
kê của các bộ/ban/ngành.
B. PHÂN TÍCH VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA SỐ LIỆU
THỐNG KÊ
I. Vai trò của phụ nữ qua số liệu thống kê về Lao động, việc làm
1. Về lao động
Về lực lƣợng lao động
Theo số liệu điều tra lao động việc làm của Bộ Lao động - Thƣơng binh
và Xã hội 1996-2003, cơ cấu lực lƣợng lao động chia theo giới tính của nƣớc
ta là xấp xỉ nhau. Riêng số liệu lao động nữ của khu vực thành thị năm 2003
thấp hơn nam khoảng 5% (47,47% so với 52,53%).
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở nƣớc ta vẫn đƣợc duy trì ở mức
cao qua các năm. Năm 2003, tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của nữ là
68,5% và nam là 75,8%. Sự chênh lệch về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế
giữa nam và nữ trong thời kỳ 2000 - 2003 rất ít thay đổi, mức chênh lệch chỉ
khoảng trên dƣới 7%.
Nam giới thƣờng chiếm tỷ lệ cao hơn trong những lĩnh vực có thu nhập
và địa vị xã hội cao, trong khi đó nữ giới thƣờng tập trung ở những nghề có
tiền công thấp, tay nghề và kỹ năng lao động không đòi hỏi quá nhiều.
Về trình độ học vấn
Tỷ lệ không biết chữ chung cho cả hai giới đã giảm từ 5,72% năm 1996
xuống còn 4,24% năm 2003 (giảm 1,48%), với tỷ lệ không biết chữ của lực
lƣợng lao động nam giảm 1,1% và của nữ giảm 1,78%. Tỷ lệ tốt nghiệp cấp
III của lực lƣợng lao động nam tăng từ 15,55% năm 1996 tăng lên 19,93%
Tỷ lệ thất nghiệp nữ năm 1998 là 2,08% đến năm 2003 là 2,63%. Và
cũng dễ dàng nhận thấy có sự khác biệt về tỷ lệ thất nghiệp của nữ giữa 2 khu
316
vực thành thị và nông thôn, ở khu vực thành thị tỷ lệ thất nghiệp của nữ cao
hơn nhiều so với nông thôn (năm 2003 các mức tỷ lệ thất nghiệp nữ cho khu
vực thành thị và nông thôn tƣơng ứng là 6,93% và 1,31%).
II. Vai trò của phụ nữ qua số liệu thống kê về giáo dục, đào tạo
Tỷ lệ biết chữ
Mức độ chênh lệch về tỷ lệ biết chữ giữa nam và nữ không đáng kể ở
vùng Đồng bằng sông Hồng. Số liệu đã chứng tỏ những kết quả đáng tự hào
của nƣớc ta về giáo dục và bình đẳng giới trong giáo dục. Từ mức chênh lệch
tới 24,86% và 27,96% tƣơng ứng với khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên,
trong 8 năm mức chênh lệch đã giảm xuống chỉ còn 4,43% và 5,51%.
Tỷ lệ biết chữ của nƣớc ta tƣơng đối cao, đạt tỷ lệ 92,13% năm 2002.
Trong đó vùng Đồng Bằng Sông Hồng có tỷ lệ biết chữ lớn cao nhất ở cả
nam và nữ, với tỷ lệ tƣơng ứng là 98,33 % và 93,39%. Tây Bắc là khu vực
có tỷ lệ biết chữ thấp nhất ở cả nam và nữ, tƣơng ứng là 88,75 % và 71,32 %.
Khu vực thành thị có tỷ lệ biết chữ cao hơn và chênh lệch về giới thấp hơn so
với khu vực nông thôn. Ở tất cả các vùng và khu vực thì tỷ lệ biết chữ của
nam đều cao hơn so với nữ, tuy nhiên mức chênh lệch giữa nam và nữ tƣơng
đối thấp.
Tỷ lệ đi học
Năm học 2003-2004 tỷ lệ đi học là 102,6% ở nữ và 107,4% ở nam. Ở
bậc trung học phổ thông, tỷ lệ đi học đã giảm xuống rất nhiều so với bậc tiểu
học và bậc trung học cơ sở, năm học 2003-2004 chỉ còn 45,2% nữ và 45,7%
nam. Tuy nhiên so với những năm học trƣớc thì tỷ lệ đi học đã tăng lên và
khoảng chênh lệch về tỷ lệ này giữa nam và nữ ngày càng đƣợc thu hẹp.
Tỷ lệ em gái nhập học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học trong nhóm 20% hộ
nhà tuyển dụng còn lƣỡng lự khi thuê phụ nữ làm việc nói chung và trong
nghiên cứu khoa học nói riêng vì ngại rằng họ sẽ nghỉ việc đẻ sinh con. Các
bậc phụ huynh thƣờng không khuyến khích con gái theo đuổi sự nghiệp mà
họ luôn cho rằng có sự phân biệt trong đối xử 24.
Số liệu thống kê đã chứng tỏ còn có sự chênh lệch đáng kể giữa nam và
nữ ở trình độ đào tạo tiến sỹ, đặc biệt ở trình độ tiến sỹ khoa học. Tỷ lệ nữ là
24
Báo Khoa học và phát triển số 43 (27/10-2/11/2005).
318
tiến sỹ và tiến sỹ khoa học chỉ chiếm tƣơng ứng là 14,97 % và 4,58 %. Và tỷ
lệ nữ giới đạt đƣợc các học hàm cũng rất thấp so với nam giới. Các nữ tiến sỹ
và tiến sỹ khoa học đƣợc phong tặng chức danh giáo sƣ chỉ ở mức 4,68% và
3,12% tƣơng ứng.
Ngành giáo dục là một trong số những ngành tập trung nhiều cán bộ có
học hàm và học vị cao. Tỷ lệ cán bộ nữ có học hàm học vị giảm theo chiều
tăng của các cấp học hàm học vị. Tỷ lệ nữ thạc sỹ tƣơng đối cao, chiếm tới
45%, tuy nhiên tỷ lệ nữ có học vị tiến sỹ và tiến sỹ khoa học rất thấp, tƣơng
ứng với 11,7% và 6%.
Kết quả Điều tra các doanh nghiệp toàn quốc năm 2004 chứng tỏ có sự
khác biệt rõ ràng giữa các cấp đào tạo. Càng ở trình độ cao thì tỷ lệ nữ càng
thấp. Ở trình độ thạc sỹ nữ chiếm 25,7% (428/1666), trình độ tiến sỹ (tiến sỹ
và tiến sỹ khoa học) tỷ lệ nữ chỉ chiếm 11,1% (34/305). Doanh nghiệp có vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài thu hút nhiều lao động có trình độ thạc sỹ, và doanh
nghiệp nhà nƣớc tập trung nhiều cán bộ có trình độ tiến sỹ hơn.
Quan điểm về giới theo đánh giá của các nữ trí thức
Trả lời cho câu hỏi tại sao nam giới thƣờng chiếm các vị trí khoa học
Hiện nay, phụ nữ chiếm tỷ lệ 61% những ngƣời có trình độ cao đẳng,
34% những ngƣời có trình độ đại học, 30% những ngƣời có trình độ thạc sĩ,
21% những ngƣời có trình độ tiến sĩ và 4% những ngƣời là tiến sĩ khoa học.
Chính mặt bằng học vấn này đã giúp phụ nữ tham gia ngày càng tốt hơn công
tác quản lý nhà nƣớc.
Phụ nữ có chức vụ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với nam giới, số liệu thực tế
cho thấy tỷ lệ nữ là lãnh đạo cấp bộ trƣởng và tƣơng đƣơng và cấp vụ trƣởng
và tƣơng đƣơng chiếm tỷ lệ tƣơng ứng với 12,5% và 12,1%. Với lãnh đạo các
cấp còn lại, đặc biệt là lãnh đạo trong các đơn vị sản xuất kinh doanh tỷ lệ nữ
giữ cƣơng vị là tổng giám đốc và phó tổng giám đốc đã tăng từ 2,72% lên 4%
trong vòng 15 năm, từ năm 1987 đến năm 2002.
Số liệu về cán bộ lãnh đạo nữ của Tổng cục thống kê, Bộ kế hoạch Đầu
tƣ, Ngân hàng nhà nƣớc cụ thể nhƣ sau:
Tổng cục thống kê: Tính đến tháng 12/2005: Tỷ lệ nữ công chức của
Tổng cục thống kê đạt trên 40%. Tỷ lệ nữ giữ chức vụ trƣởng/cục trƣởng và
tƣơng đƣơng là 8,1%, phó vụ trƣởng là 20%, phó cục trƣởng là 16,7%. Nữ
trƣởng phòng cấp cục chiếm tỷ lệ 25,9%, nữ trƣởng phòng cấp huyện là
15%26.
Bộ kế hoạch và đầu tƣ: Theo danh sách các phó chủ nhiệm, uỷ viên Uỷ
ban kế hoạch Nhà nƣớc, thứ trƣởng Bộ Kế hoạch đầu tƣ thời kỳ 1955-2005,
26
Báo tổng kết Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ thống kê đến năm 2005 và kế hoạch hành động
2006-2010
320
thì toàn bộ 75 ngƣời là nam giới. Và 33 đồng chí, toàn bộ là nam giữ các vị
321
Những số liệu cho thấy mặc dù Đảng và Nhà nƣớc đã có chủ trƣơng cụ
thể, chính sách rõ ràng, song tỷ lệ nữ tham gia quản lý nhà nƣớc còn ít. Tỷ lệ
nữ cán bộ công chức là lãnh đạo trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các
ngành và các cơ quan nghiên cứu khoa học thấp. Nữ lãnh đạo thƣờng chỉ liên
quan các lĩnh vực xã hội.
KẾT LUẬN
Phụ nữ Việt nam có vai trò, vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nƣớc. Đảng và Nhà nƣớc đánh giá cao công lao của phụ nữ,
tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ làm tròn trách nhiệm của mình trong cuộc
sống gia đình và phát huy khả năng, cống hiến ngày càng nhiều cho xã hội
thông qua việc xây dựng các chiến lƣợc, chính sách, chƣơng trình quốc gia vì
sự tiến bộ của phụ nữ.
Kết quả phân tích cho thấy về lao động nữ chiếm gần 50% lực lƣợng lao
động. Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế, trình độ học vấn, trình độ chuyên
môn, lao động có việc làm đều đã tăng ở cả hai giới. Một số ngành nghề
đƣợc coi là thế mạnh của nam giới cũng đã có tỷ lệ phụ nữ tham gia cao nhƣ
tài chính tín dụng, công nghiệp chế biến và khoa học công nghệ. Tuy nhiên
vẫn còn có sự phân bố không đồng đều giữa nam và nữ trong các lĩnh vực
kinh tế, các loại hình kinh tế.
Nam giới thƣờng chiếm tỷ lệ cao hơn trong những lĩnh vực có thu nhập
và địa vị xã hội cao. Sự chênh lệch về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế giữa
nam và nữ trong thời kỳ 2000 - 2003 ít thay đổi. Tỷ lệ lực lƣợng lao động
nam có chuyên môn kỹ thuật của nam tăng cao hơn tỷ lệ của lực lƣợng lao
động nữ. Mức chênh lệch về tỷ lệ việc làm giữa nam và nữ ở thành thị lớn
hơn nông thôn.
Khu vực thành thị có tỷ lệ biết chữ cao hơn và chênh lệch về giới thấp
2. PGS.TS Nguyễn trọng Điều - Vài nét về vấn đề giới và công tác cán
bộ nữ ở nƣớc ta. Tạp chí Quản lý nhà nƣớc số 110 (3-2005)
3. Chiến lƣợc và kế hoạch hành động quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ
4. Cơ sở dữ liệu về Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và mục tiêu phát
triển của Việt nam giai đoạn 1990 - 2003
5. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999
6. Số liệu điều tra lao động việc làm 1998-2003
7. http://www.congdoanbdvn.org.vn/
8. Một số Tạp chí, bản tin, thông tin.
323