Phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ KIM NGÂN

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS Hoàng Thị Kim Quế

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Kim Ngân


1.3.1. Mục đích, ý nghĩa của việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở
xã, phƣờng ............................................................................................ 45
1.3.2. Yêu cầu của việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở ....................... 50
1.4.

CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG, HIỆU
QUẢ CỦA CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Ở CƠ SỞ .............................................................................................. 53


1.4.1. Đảm bảo quyền đƣợc thông tin, quyền đƣợc tham gia quản lý nhà
nƣớc của công dân ................................................................................ 53
1.4.2. Đảm bảo tính phù hợp với đối tƣợng, địa bàn, tính khả thi, tính
hiệu quả của hoạt động PBGDPL ........................................................ 56
1.4.3. Hiệu quả của công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở cơ sở ................. 57
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG, HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY ........ 59
2.1.

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY ........... 59

2.1.1. Một số điểm đặc thù về công tác PB, GDPL ở cơ sở trên địa bàn
thành phố Hà Nội ................................................................................. 59
2.1.2. Những thành tựu, kết quả đạt đƣợc trong công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội .......................... 67
2.1.3. Những hạn chế, khiếm khuyết và nguyên nhân của công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội ......... 82

PB, GDPL

Phổ biến, giáo dục pháp luật

Hội đồng PHCT PBGDPL

Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo
dục pháp luật

Chỉ thị 32

Chỉ thị 32/CP-TW của Ban Bí thƣ về tăng
cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong công
tác PBGDPL

Chỉ thị 27

Chỉ thị 27-CT/TU của Thành uỷ Hà Nội
về trên địa bàn thành phố Hà Nội

Luật PBGDPL

Luật Phổ biến giáo dục pháp luật


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có vị trí, vai trò vô cùng quan
trọng trong sự nghiệp trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Nhiều năm qua công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đã đƣợc

kiện, tụ tập đông ngƣời, cƣỡng chế giải phóng mặt bằng, các xung đột pháp
lý, tội phạm... Trƣớc những đòi hỏi, thách thức của đất nƣớc trong điều kiện
mới thì song hành cùng việc nâng cao chất lƣợng làm luật, xây dựng luật, ý
thức pháp luật của ngƣời dân càng cần đƣợc nâng lên, công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật cho ngƣời dân Thủ đô cũng cần đƣợc chú trọng hơn nữa. Nhận
thức rõ vị trí của Thủ đô Hà Nội, Đảng bộ, chính quyền thành phố một mặt
tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội Thủ đô, mở rộng dân chủ xã hội,
mặt khác, đặc biệt quan tâm đến giáo dục truyền thống văn hoá, ý thức công dân,
ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cho các tầng lớp cán bộ, nhân dân. Để xây
dựng đƣợc môi trƣờng xã hội Thủ đô lành mạnh, đồng thuận, dân chủ và kỷ
cƣơng, kỷ luật, hơn bao giờ hết, lúc này công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có
ý nghĩa, vai trò rất quan trọng, nhất là giáo dục pháp luật tại các xã, phƣờng, thị
trấn – đơn vị hành chính cơ sở, tại địa bàn khu dân cƣ, tổ dân phố, thôn, xóm…
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Phổ biến giáo dục pháp luật ở cơ sở
trên địa bàn thành phố Hà Nội" là rất cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm qua đã có rất nhiều học giả, nhiều công trình khoa học đi
sâu nghiên cứu công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung
nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhiều bộ phận nhân dân nhƣ phổ biến,
giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên, cựu chiến binh, đoàn viên thanh
niên, phụ nữ, nông dân....Có thể liệt kê một số nghiên cứu gần đây nhất nhƣ
2


cuốn “Pháp luật dành cho học sinh”, “Pháp luật dành cho phụ nữ” của Hội
đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội (Hội
đồng PHCT PBGDPL), “Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp
luật” của Bộ Tƣ pháp... Vấn đề nâng cao ý thức pháp luật cũng đã đƣợc nhiều
nhà khoa học nghiên cứu với nhiều công trình khoa học đƣợc công bố nhƣ:
"Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính" của TS. Lê

dục pháp luật ở cơ sở.
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp của triết học duy vật biện chứng
mácxit, trực tiếp là các phƣơng pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phƣơng
pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các
phƣơng pháp luật học so sánh, điều tra xã hội học, phỏng vấn trực tiếp.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu tƣơng đối có hệ
thống về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trên địa
bàn thành phố Hà Nội. Ngoài ra, luận văn góp phần phát triển những vấn đề lý
luận mà các công trình, bài viết, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến
lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở đã đƣợc đề cập ít nhiều trƣớc đây.
Đặc biệt, luận văn còn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa vấn đề
phổ biến, giáo dục pháp luật với vấn đề phát triển kinh tế xã hội, xây dựng
nếp sống văn hoá, lối sống theo pháp luật trong dân cƣ thành phố Hà Nội, giữ
gìn bản sắc văn hoá truyền thống, thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở.
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp
cho công tác lãnh đạo, những ngƣời trực tiếp tham gia phổ biến, giáo dục
pháp luật nâng cao hiểu biết, trình độ lý luận, pháp lý, nâng cao chất lƣợng,
hiệu quả tuyên truyền đồng thời củng cố niềm tin, nhiệt tình, trách nhiệm của
họ đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở, tại các khu dân cƣ.
Luận văn không chỉ góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả chỉ đạo, tổ
5


chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở, mà còn góp
phần đánh giá đúng thực trạng công tác trên, đề xuất những biện pháp, giải
pháp có căn cứ khoa học để nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động phổ
biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, trên
cả nƣớc nói chung.
7. Kết cấu của luận văn

phạm pháp luật, nhất là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành
chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi
trƣờng, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông… chính là

7


sự tuyên truyền pháp luật. Sự thông tin này không nhằm vào những đối tƣợng
nhất định mà là toàn xã hội. Do vậy việc phổ biến pháp luật bao giờ cũng phải
đƣợc thực hiện đối với những đối tƣợng nhất định, với những nội dung có chủ
định trƣớc, nhằm đạt đƣợc những mục đích nhất định. Xét một cách bao quát
nhất, có thể thấy nội dung của phổ biến pháp luật không chỉ dừng lại ở việc
thông tin về những văn bản pháp luật, mà còn bao hàm cả việc truyền bá các
chính sách pháp luật, các chủ trƣơng của nhà nƣớc về một vấn đề gì đó.
Phổ biến pháp luật, ở mức độ nhất định là đồng nghĩa với tuyên truyền
pháp luật, đều là sự truyền tải thông tin pháp luật, đáp ứng nhu cầu hiểu biết
về pháp luật của các tầng lớp dân cƣ, của các nhóm xã hội. Tuy nhiên, giữa
chúng cũng có những sự khác biệt nhất định. Chẳng hạn, luật thuế đƣợc ban
hành thì sự truyền tải thông tin về luật thuế đó không phải đối với mọi đối
tƣợng đều ở mức độ nhƣ nhau. Đối với đa số nông dân có lẽ thuế môn bài
không cần phải phổ biến vì hầu nhƣ không có liên quan gì đối với họ. Những
ngƣời hoạt động kinh doanh thì ngƣợc lại, họ cần phải đƣợc phổ biến cụ thể,
chi tiết. Cũng có những văn bản, đối với ngƣời nông dân không chỉ dừng lại ở
mức độ tuyên truyền mà cần phải đƣợc phổ biến, họ cần phải đƣợc "quán
triệt" để thực hiện.
Phổ biến pháp luật luôn nhằm những mục đích nhất định là đƣa pháp
luật vào cuộc sống, xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật. Phổ biến pháp
luật ở cơ sở xã, phƣờng cũng có nghĩa là việc giải thích rộng rãi các thông tin
pháp luật cho các tầng lớp dân cƣ trên địa bàn xã, phƣờng để thuyết phục họ
ủng hộ và thực hiện theo pháp luật. Phổ biến pháp luật ở đây là làm cho đông

rộng khối lƣợng tri thức pháp lý, nâng cao khả năng hiểu biết pháp luật một
cách toàn diện, thống nhất đối với chủ thể.
- Hai là, giáo dục pháp luật nhằm khơi dậy tình cảm, lòng tin và thái
độ đúng đắn đối với pháp luật. Để hình thành một lòng tin và đem lại một thái
9


độ đúng đắn, tích cực đối với pháp luật ở mỗi ngƣời cần phải giải quyết nhiều
vấn đề có liên quan, trong đó giáo dục pháp luật là một hoạt động cơ bản.
Chúng ta biết rằng, lòng tin vào pháp luật là lòng tin vào công lý, lẽ công
bằng đƣợc tạo lập bởi chính pháp luật. Lòng tin chỉ có giá trị đích thực khi nó
đem lại một thái độ chủ động trong xử sự phù hợp với pháp luật và đƣợc hình
thành trên một tri thức pháp luật cần thiết (nếu không sẽ là niềm tin mù quáng
phản tác dụng). Giáo dục pháp luật không đơn thuần là chỉ để hiểu biết về các
qui định của pháp luật mà cao hơn nữa là để pháp luật đƣợc “sống” trong tƣ
duy, hành vi của mọi ngƣời, để khơi dậy một tình cảm, lòng tin và thái độ
đúng đắn ở mỗi ngƣời đối với pháp luật, giáo dục tình cảm công bằng, khoan
dung, ý thức trách nhiệm, thái độ không khoan nhƣợng trƣớc các hành vi vi
phạm pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật, pháp chế.
- Ba là, giáo dục pháp luật nhằm hình thành thói quen xử sự theo pháp
luật với động cơ tích cực. Tri thức pháp luật không thể là những nội dung lý
luận thuần tuý mà nó phải đƣợc hiện thực hóa thông qua các hoạt động pháp lý
thực tiễn. Mục đích của giáo dục pháp luật không chỉ cung cấp những kiến thức
lý luận hoặc các qui định pháp luật cụ thể mà quan trọng hơn là tạo lập đƣợc
thói quen xử sự theo pháp luật ở mỗi loại chủ thể trong xã hội. Thói quen này
đƣợc hình thành không phải là thụ động, vô thức mà dựa trên nền tảng của
động cơ về hành vi hợp pháp, tích cực. Trên thực tế, để có thói quen xử sự hợp
pháp không những đòi hỏi con ngƣời ta thu nạp lƣợng kiến thức pháp lý cần
thiết mà còn trải qua quá trình chuyển hóa chủ quan về mặt tâm lý.
- Bốn lภgiáo dục pháp luật, đặc biệt là giáo dục pháp luật ở cơ sở để

cấp độ giáo dục. Theo nguyên lý chung thì nội dung và mục đích của giáo dục
có quan hệ hữu cơ với nhau, vì vậy giáo dục pháp luật phải nhằm định hƣớng
cả về tri thức, tình cảm và hành vi cho đối tƣợng giáo dục. Nhìn chung, nội
dung của giáo dục pháp luật tƣơng đối rộng, mang tính đặc thù riêng cho từng
11


chƣơng trình đào tạo. Chẳng hạn, kiến thức lý luận về pháp luật, các qui định
pháp luật hiện hành, các thông tin về thực hiện, bảo vệ pháp luật, các số liệu
về xã hội học pháp luật, giáo dục mô thức hành vi pháp luật... Các nội dung
cơ bản này lại đƣợc thể hiện phù hợp với kết cấu của mỗi chƣơng trình giảng
dạy khác nhau, theo yêu cầu cụ thể khác nhau.
Hình thức giáo dục pháp luật là cách thức mà nhà nƣớc sử dụng để thực
hiện quá trình tác động có mục đích các nội dung, yêu cầu giáo dục pháp luật
vào ý thức và tâm lý của các chủ thể nhằm định hƣớng cho các hoạt động
pháp lý đối với từng chủ thể và đối với cả xã hội. Do nội dung giáo dục, đối
tƣợng giáo dục khác nhau nên cần đa dạng hoá các hình thức giáo dục,
phƣơng pháp giáo dục mới có hiệu quả. Chẳng hạn, giáo dục pháp luật trong
các nhà trƣờng, thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng, phổ biến pháp
luật, thông qua các hoạt động pháp lý thực tiễn... không nên coi trọng hoặc
xem nhẹ một hình thức nào đó của hoạt động giáo dục pháp luật. Việc lựa
chọn một phƣơng pháp giáo dục pháp luật thích hợp có tầm quan trọng đặc
biệt. Rõ ràng là không thể áp dụng các phƣơng pháp nhƣ nhau cho các loại
đối tƣợng giáo dục, cấp độ giáo dục hoàn toàn khác nhau đƣợc. Tuy nhiên,
cần nhận thấy là hoạt động giáo dục pháp luật có thể mang tính bắt buộc hoặc
không bắt buộc. Vì thế tính chất của các phƣơng pháp giáo dục cũng cần phải
đƣợc nghiên cứu cho phù hợp các đối tƣợng mới đem lại hiệu quả.
Khi tiến hành công tác giáo dục pháp luật cần lƣu ý một số vấn đề có
tính nguyên tắc cơ bản sau:
+ Giáo dục pháp luật cần đƣợc đặt trên cơ sở, nền tảng của quá trình giáo

Thứ hai, giáo dục pháp luật là hình thức giáo dục cụ thể. Giáo dục pháp
luật có những nét đặc thù khác một cách tƣơng đối với các dạng giáo dục
khác ở các điểm sau:
+ Một là, giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình. Đó là hoạt
13


động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy
định của pháp luật, làm cho công dân tự giác tuân thủ pháp luật, có ý thức
pháp luật cao, góp phần tăng cƣờng hiệu quả của pháp luật.
+ Hai là, giáo dục pháp luật có nội dung riêng là truyền tải tri thức của nhân
loại nói chung, của Nhà nƣớc nói riêng về Nhà nƣớc và pháp luật mà trong đó
pháp luật thực định hiện hành của Nhà nƣớc là bộ phận cơ bản quan trọng nhất.
+ Ba là, xét trên các yếu tố đối tƣợng, hình thức và phƣơng pháp của
giáo dục pháp luật cũng có nét riêng. Chẳng hạn nhƣ so với các dạng giáo dục
khác thì giáo dục pháp luật là quá trình tác động thƣờng xuyên, liên tục, lâu
dài hơn chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tƣợng giáo
dục. Vì thế, giáo dục pháp luật trở thành sợi chỉ đỏ xuyên qua gia đình, trƣờng
học, các tập thể lao động, các tổ chức Đảng, Nhà nƣớc và Đoàn thể xã hội.
Nhân tố con ngƣời với hành vi và hoạt động hợp pháp đóng vai trò chủ đạo
trong quá trình tác động qua lại giữa những ngƣời giáo dục (chủ thể) với
ngƣời đƣợc giáo dục (đối tƣợng). Ngƣời đƣợc giáo dục là ngƣời chịu sự tác
động có tổ chức, định hƣớng của các thông tin pháp luật. Vì thế, một vấn đề
đặt ra là ngƣời giáo dục phải hiểu đƣợc trình độ, đặc biệt là đặc điểm nhân
thân của ngƣời đƣợc giáo dục pháp luật. Đồng thời, ngƣời giáo dục cần phải
nắm vững tri thức pháp luật, biết cách truyền tải nó và là tấm gƣơng, là hình
mẫu trong việc tuân theo pháp luật.
Từ những phân tích trên có thể kết luận: Phổ biến, giáo dục pháp luật
là những hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể làm công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật tác động lên đối tượng được phổ biến, giáo

có của Nhà nƣớc, và phải là trách nhiệm, là nghĩa vụ của tất cả các cơ quan Nhà
nƣớc, tổ chức xã hội và của mọi công dân; Đồng thời, công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật phải đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, có nề nếp, có hiệu quả. Trên cơ
sở Hiến pháp 1992, cùng với việc Quốc hội thông qua các Luật nhƣ Luật tổ
15


chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Viện
Kiểm sát nhân dân…, các Nghị định về Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt
động của các cơ quan thuộc Chính phủ cũng đƣợc ban hành kịp thời tạo thành cơ
sở pháp lý cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Có thể nói, chƣa bao giờ
các vấn đề xã hội đƣợc “luật hóa” rộng rãi nhƣ hiện nay. Công tác xây dựng
pháp luật, thực hiện và bảo vệ pháp luật là nhiệm vụ theo luật định của nhiều cơ
quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội. Do đó, việc nghiên cứu xác định đúng nhiệm vụ
tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên cơ sở phân tích cơ sở pháp lý của
hoạt động quản lý Nhà nƣớc về tuyên truyền, PBGDPL là cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng trong toàn bộ hoạt động giáo dục pháp luật để nâng cao dân trí pháp
luật cho cán bộ và nhân dân. Điều đó đƣợc thể hiện:
Theo Hiến pháp 1992, Quốc hội có nhiệm vụ và quyền làm Hiến pháp,
Luật, sửa đổi Hiến pháp, Luật; quyết định chƣơng trình xây dựng Hiến pháp,
Luật; thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo pháp luật; còn Hội đồng
nhân dân có nhiệm vụ bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và Luật ở địa
phƣơng. Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ phổ biến
và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội
Sự lãnh đạo của các cơ quan quyền lực Nhà nƣớc đối với công tác PB,
GDPL dựa trên các nhiệm vụ Hiến định nêu trên và đồng thời cũng chính là
cơ sở pháp lý quan trọng để xác định nội dung lãnh đạo của cơ quan quyền
lực Nhà nƣớc ở địa phƣơng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Theo Điều 112 của Hiến pháp 1992, Chính phủ có nhiệm vụ và quyền
hạn tổ chức và lãnh đạo công tác phổ biến, giáo dục Hiến pháp và pháp luật

đoàn kết toàn dân, tăng cƣờng sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong
nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng
Nhà nƣớc chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động
viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến
pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nƣớc, đại biểu
dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nƣớc. [20].
17


Đối với chính quyền địa phƣơng, phổ biến, giáo dục pháp luật đƣợc coi là
nhiệm vụ quan trọng. Ủy ban nhân dân các cấp, đặc biệt là cấp xã (gọi chung cho
các phƣờng, thị trấn) có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện pháp luật trên địa bàn,
tiếp công dân trực tiếp, lắng nghe ý kiến ngƣời dân tại cơ sở. Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định trong lĩnh vực thi hành
pháp luật, Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến
pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên và nghị quyết của mình ở
địa phƣơng. UBND cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên
truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nƣớc cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp. Trong cơ cấu của UBND cấp xã, cán bộ Tƣ pháp luôn giữ vai
trò chủ đạo, tham mƣu giúp UBND cấp xã tổ chức, phổ biến giáo dục pháp luật.
Xã, phƣờng là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi trực tiếp truyền bá
đƣờng lối chủ trƣơng của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc tới nhân dân và
hƣớng dẫn tƣ tƣởng, nhận thức, tình cảm của đông đảo quần chúng nhằm thực
hiện thắng lợi của các chính sách, pháp luật luật đó. Trong bộ máy chính
quyền cấp xã, phƣờng, thì Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nƣớc
ở xã và Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ
quan hành chính Nhà nƣớc cấp xã. Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và
UBND thì trong lĩnh vực thi hành pháp luật, Hội đồng nhân dân cấp xã có
quyền quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, Luật, các văn bản

- Các báo cáo viên, cổ động viên, tuyên truyền viên về pháp luật ở các
hệ thống Đảng, cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội ở cấp xã.
- Các phóng viên, biên tập viên của các báo, đài phát thanh, truyền hình
phụ trách các nội dung liên quan đến pháp luật hoặc các chuyên mục pháp luật.
- Giáo viên dạy pháp luật trong các trƣờng từ phổ thông đến đại học,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, các trƣờng Đảng, hành chính, đoàn thể.
19


Trích đoạn Về hình thức và phƣơng pháp phổ biến, giáo dục phápluật ở cơ sở xã, phƣờng Mục đích, ý nghĩa của việc phổ biến, giáo dục phápluật ở cơ sở xã, phƣờng Yêu cầu của việc phổ biến, giáo dục phápluật ở cơ sở Đảm bảo quyền đƣợc thông tin, quyền đƣợc tham gia quản lý nhà nƣớc của công dân Đảm bảo tính phù hợp với đối tƣợng, địa bàn, tính khả thi, tính hiệu quả của hoạt động PBGDPL
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status