Tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện thọ xuân, tỉnh thanh hoá - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

THI XUN CNG

Tổ CHứC Và HOạT ĐộNG CủA CHíNH QUYềN CấP Xã
TRÊN ĐịA BàN HUYệN THọ XUÂN, TỉNH THANH HOá
Chuyờn ngnh: Lớ lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN MINH TUN

H NI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Thái Xuân Cƣờng


2.1.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hóa ......................................................................................... 47

2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ........................................................... 47


2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Thọ Xuân ................................. 48
2.2.

Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trên
địa bàn huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa ..................................... 51

2.2.1. Thực trạng tổ chức .............................................................................. 51
2.2.2. Thực trạng về hoạt động ..................................................................... 73
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng trên ........................................................ 84
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 90
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA ...... 91
3.1.

Một số phƣơng hƣớng, quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt
động của chính quyền cấp xã ........................................................... 91

3.1.1. Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã phải bám
sát và thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng. ..................... 91
3.1.2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã phải xuất
phát từ yêu cầu cụ thể hoá các quy định mới của Hiến pháp 2013

3.3.3. Đối với huyện Thọ Xuân ................................................................... 120
Kết luận chƣơng 3 ....................................................................................... 121
KẾT LUẬN .................................................................................................. 122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 125


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

ĐTNCS:

Đoàn thanh niên cộng sản

HCCB:

Hội Cựu chiến binh

HĐBT:

Hội đồng Bộ trưởng

HĐND:

Hội đồng nhân dân

HLHPN:

Hội Liên hiệp phụ nữ


Uỷ ban nhân dân

XDCB:

Xây dựng cơ bản


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bộ máy chính quyền ở nước ta, cấp xã là cấp thấp nhất, gần dân
nhất. Xét về vị trí, vai trò, cấp xã được xác định là có vai trò rất quan trọng, vì
đây là nơi trực tiếp đưa các chủ trường, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống.
Ngay từ những ngày đầu khi mới khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Về hành chính: Cấp xã là
gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì
mọi công việc đều xong xuôi…” [33, tr.372].
Lịch sử hình thành và phát triển của nước Việt Nam đã chỉ ra rằng:
Làng, xã là nền tảng của đất nước, tình hình chính trị - xã hội của đất nước có
ổn định hay không phụ thuộc không nhỏ vào sự ổn định ở cấp xã. Thực tiễn
cho thấy ở đâu chính quyền cấp xã vững mạnh, ở đó mọi chủ trương của Đảng,
pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, quyền làm chủ của
nhân dân được bảo đảm và phát huy; còn ở đâu chính quyền cơ sở yếu kém thì
ở đó phong trào quần chúng kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó
khăn. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan mà ở cấp xã việc tổ
chức và hoạt động của chính quyền còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết,
kể cả về lý luận và thực tiễn.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần
đây, các văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã

- “Tổ chức chính quyền Nhà nước ở địa phương - Lịch sử và hiện tại”
của tác giả Nguyễn Đăng Dung, NXB Đồng Nai, 1997
- “Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã" của Ban Tổ chức
Cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước do tiến sĩ Chu Văn
Thành chủ biên, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2000.
- “Tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Tập 2, Tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương”,

2


NXB Tư pháp, Hà nội, 2005.
- “Dân chủ ở xã từ góc nhìn pháp lý” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn,
NXB Công an nhân dân, năm 2006.
- Dân chủ cấp ở địa phương, Sổ tay IDEA quốc tế, do Viện Chính sách
Công và pháp luật (IPL) biên dịch và xuất bản Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà nội, 2014, truy cập tại địa chỉ: />- Cuốn dân chủ trực tiếp, Sổ tay IDEA quốc tế, do Viện Chính sách
Công và pháp luật (IPL) biên dịch và xuất bản Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà nội, 2014, truy cập tại địa chỉ: h1ttp://ipl.org.vn/An-phamda-xuat-ban/Cuon-Dan-chu-truc-tiep-a33.
- Kỷ yếu Hội thảo về tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 2013,
Kỷ yếu Hội thảo do Viện chính sách công và pháp luật và Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp tổ chức, truy cập tại địa chỉ: />Ngoài ra, liên quan đến vấn đề này, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý có
nhiều các bài viết đăng tải trên các tạp chí, trang thông tin điện tử như:
- Tham luận “Thực trạng phân cấp, phân quyền và vấn đề tự quản địa
phương tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Phương tại Hội thảo:“Tổ
chức chính quyền địa phương ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
diễn ra tại Ninh Thuận tháng 4/2013.
- Bài viết “Chính quyền địa phương trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp
1992” của tác giả Vũ Lương đăng trên Tạp chí Cộng sản số 851, T9/2013.
- Bài viết “Các quy định về chính quyền địa phương trong Hiến pháp

động của chính quyền cấp xã ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa nói riêng và
cả nước nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là “Tổ chức và hoạt động của
chính quyền cấp xã”.
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu, đánh giá thực trạng
về tổ chức và hoạt động của chính quyền các xã, thị trấn trên địa bàn huyện

4


Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp
phân tích-tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể và một
số phương pháp khác. Tất cả các phương pháp trên đều được vận dụng trên cơ
sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh, cũng như các phương
pháp tiếp cận khách quan, khoa học khác để từ đó rút ra những kết luận làm
sáng tỏ mục đích của đề tài, phục vụ cho lý luận và thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn giới thiệu tổng thể về quá trình phát triển, thực trạng pháp
luật về cơ cấu tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta qua thực
tiễn huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra một số nhận xét, đánh giá.
- Tác giả luận văn cũng đưa ra những yêu cầu, quan điểm, một số giải
pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trong cả
nước nói chung, ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa nói riêng, phù hợp với
công cuộc cải cách hành chính của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

ra được khái niệm về chính quyền cấp xã, chúng ta cần phải làm rõ quá trình
hình thành, phát triển và những đặc điểm cơ bản của chính quyền cấp xã.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, ngày 02/9/1945, tại Quảng
trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc
lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó đến nay, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và
chính quyền cấp xã nói riêng. Quá trình hình thành và phát triển của chính
quyền cấp xã gắn liền với những giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam,
vì thế chúng ta có thể phân chia như sau:
- Từ 1945 đến 1954: Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra

7


đời, trong điều kiện chưa có Hiến pháp xác lập hệ thống chính quyền các cấp,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77. Sắc
lệnh số 63 ngày 23/11/1945 về tổ chức HĐND và UBHC ở xã, huyện, tỉnh,
kỳ. Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức HĐND và UBHC thành phố,
khu phố. Theo 2 Sắc lệnh này, chính quyền địa phương có 4 cấp: cấp kỳ, cấp
tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong đó cấp tỉnh và cấp xã là 2 cấp chính quyền
hoàn chỉnh có HĐND và UBHC, còn cấp kỳ và cấp huyện chỉ có UBHC.
Chính quyền xã gồm có HĐND và UBHC xã, HĐND do cử tri xã bầu ra, có
quyền quyết định những vấn đề ở xã, nhưng có những vấn đề phải được
UBHC cấp huyện, tỉnh chuẩn y; còn UBHC xã do HĐND xã bầu trong số các
hội viên HĐND. UBHC xã có nhiệm vụ thi hành các mệnh lệnh của cấp trên,
thực hiện Nghị quyết của HĐND cùng cấp, triệu tập các kỳ họp HĐND xã và
giải quyết các công việc trong xã. Đến ngày 09/11/1946, bản Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (gọi tắt là Hiến pháp 1946),
đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

+ Số lượng thành viên các cơ quan trong chính quyền cấp xã tăng lên:
Về số lượng đại biểu HĐND, Khoản 1, Điều 11 Pháp lệnh về việc bầu
cử HĐND các cấp năm 1961 quy định:
Thị trấn và xã miền xuôi có từ 2.000 nhân khẩu trở xuống bầu
cử 20 đại biểu; có trên 2.000 nhân khẩu, thì ngoài số 20 đại biểu tính
cho 2.000 nhân khẩu đầu tiên, cứ thêm 200 nhân khẩu thì được bầu
thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 35 đại biểu.
Thị trấn và xã miền núi và hải đảo có từ 700 nhân khẩu trở
xuống bầu cử 20 đại biểu, có trên 700 nhân khẩu, thì ngoài số 20
đại biểu tính cho 700 nhân khẩu đầu tiên, cứ thêm từ 150 đến 200
nhân khẩu thì được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được
quá 35 đại biểu.
Các thị trấn và xã miền xuôi và miền núi có trên 6.000 nhân

9


khẩu thì có thể bầu tới 40 đại biểu, nhưng số đại biểu thị trấn và xã
không được nhiều hơn số đại biểu HĐND cấp trên trực tiếp.
Các xã dưới 300 nhân khẩu có thể bầu dưới 20 đại biểu [63, Điều 11].
Về số lượng thành viên UBHC, Điều 51, Luật Tổ chức HĐND và
UBHC năm 1962 quy định: “Thành viên UBHC phải là đại biểu HĐND. Các
UBHC xã, thị trấn có từ 5 - 7 người. Ở các xã miền núi có nhiều dân tộc ở
xen kẽ thì UBHC có từ 5 - 9 người” [42, Điều 51].
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của cấp xã được mở rộng thêm, cụ thể là:
Luật Tổ chức HĐND và UBHC 1962 quy định:
HĐND xã và HĐND thị trấn có nhiệm vụ và quyền hạn như
sau: Căn cứ vào kế hoạch kinh tế và văn hoá của cấp trên, quyết
định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích
công cộng của xã, thị trấn. Xét duyệt dự toán và phê chuẩn quyết

+ Giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ tài sản công cộng, xây dựng lực
lượng hậu bị, dân quân, tự vệ và thi hành các công tác quân sự khác;
+ Quản lý các công tác khác do cấp trên giao cho [42, Điều 48].
- Từ năm 1975 đến trước năm 1992: Sau ngày miền Nam hoàn toàn
giải phóng, nước nhà thống nhất, Quốc hội quyết định bỏ khu tự trị, đổi tên
nước… Để có cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước trong bối cảnh đất nước đã hòa bình và thống nhất, nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc đã chuyển sang giai đoạn mới, Quốc hội ban hành bản
Hiến pháp 1980. Điều 113, Hiến pháp 1980 quy định:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và
đơn vị hành chính tương đương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành
phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

11


Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã
chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập HĐND và
UBND [39, Điều 113].
Trên cơ sở Hiến pháp, năm 1983 Quốc hội ban hành luật tổ chức
HĐND và UBND. Theo đó, chính quyền địa phương lúc này chỉ có 3 cấp là
cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã (cấp xã bao gồm xã, phường, thị trấn); vị trí
pháp lý của các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương cơ bản vẫn giữ
nguyên, UBHC được đổi tên thành UBND; nhiệm vụ, quyền hạn của chính
quyền cấp xã giao nhiều hơn trước, cụ thể:
- Theo quy định tại Điều 20 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983,

Luật tổ chức HĐND và UBND, Luật bầu cử đại biểu HĐND thay thế Luật năm
1983. Theo luật mới số lượng đại biểu HĐND cấp xã từ 15 – 35 [44, Điều 9],
nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm [44, Điều 4], thành lập Ban thư ký HĐND cấp xã
[44, Điều 29]. Đối với UBND thì cơ bản không thay đổi [44, Điều 44, 45, 46, 47].
- Từ năm 1992 cho đến nay: Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Quốc hội
khóa IX, kỳ họp thứ 5, ngày 21/6/1994 đã thông qua Luật tổ chức HĐND và
UBND thay luật 1989. Luật mới quy định HĐND cấp xã có từ 19 - 25 đại
biểu, nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm; không có Thường trực Hội đồng như cấp
tỉnh và huyện mà chỉ có Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND. UBND cấp xã từ 5 7 người, không được tổ chức các cơ quan chuyên môn [45].
Sau khi Hiến pháp 1992 được bổ sung, sửa đổi một số điều cho phù
hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, Quốc hội khóa
đã ban hành Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật bầu cử đại biểu
HĐND năm 2003. Theo các văn bản trên, tổ chức và hoạt động của chính
quyền cấp xã được quy định cụ thể như sau: HĐND cấp xã có số lượng đại
biểu tối thiểu là 15 (xã dưới 1.000 dân) và tối đa không quá 35 [47, Điều 49];
được tổ chức Thường trực HĐND [46, Điều 5]. UBND cấp xã do HĐND

13


cùng cấp bầu ra, có số lượng từ 3 - 5 thành viên [46, Điều 122], giúp UBND
cấp xã có các công chức xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một
chức danh chuyên môn cấp xã [64, Điều 1] và một số cán bộ không chuyên
trách giúp việc.
So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ vị trí
của HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân... Chức năng, nhiệm vụ của
HĐND được khái quát [40, Điều 120] là phù hợp với kỹ thuật của lập pháp.
Thẩm quyền của đại biểu HĐND được đề cao, nhất là quyền chất vấn và
quyền kiến nghị các cơ quan nhà nước ở địa phương [40, Điều 122]). Thẩm

cải cách và phát triển đất nước, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới theo
tinh thần các văn kiện của Đảng và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011). Theo đó, tổ chức và
hoạt động của chính quyền địa phương (gồm cả chính quyền cấp xã) có
nhiều nội dung mới:
Thứ nhất: Đổi tên Chương IX từ “HĐND và UBND” thành “Chính
quyền địa phương”. Việc thay đổi tên chương từ “HĐND và UBND” thành
“Chính quyền địa phương” cho phép nhìn nhận chính quyền địa phương như
là một thực thể tồn tại khá độc lập so với chính quyền trung ương.
Thứ hai: Về phân cấp đơn vị hành chính, theo quy định tại Khoản 1,
Điều 110, Hiến pháp 2013 thì về cơ bản các đơn vị hành chính của nước ta
vẫn chia thành 4 cấp nhưng có bổ sung một số quy định mới như: Có thêm
đơn vị hành chính tương đương với quận, huyện, thị xã, thành phố trong
thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do
Quốc hội thành lập. Khoản 2 Điều 110 Hiến pháp 2013 quy định:
Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị
hành chính phải lấy ý kiến nhân dân địa phương và theo trình tự,
thủ tục do luật định [41, Điều 110]. Có thể nói Quy định này có tính

15


mở về loại hình đơn vị hành chính nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định
của các đơn vị hành chính, tránh tình trạng “nhập – tách” có phần
dễ dãi, thiếu căn cứ, minh bạch, công khai và nhất là thiếu sự tham
gia có tính quyết định của nhân dân như thực tế lâu nay [32, tr.87].
Thứ ba: Về tổ chức chính quyền ở địa phương, khoản 2 Điều 111 Hiến
pháp 2013 quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và
UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị
hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định” [41, Điều 111]. Với quy định này,

của mỗi cấp chính quyền theo hướng phân cấp mạnh mẽ thì sẽ xác định trách
nhiệm, đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền.
Như vậy, những quy định mới của Hiến pháp 2013 về chính quyền địa
phương khá nhiều sẽ được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức chính quyền địa
phương sắp tới. Vì thế, chính quyền cấp xã cũng được đứng trước cơ hội lớn
trong việc cải cách, đổi mới về tổ chức và hoạt động của mình, tuy nhiên vẫn
còn những vần đề cần làm rõ về chính quyền địa phương nói chung và chính
quyền cấp xã nói riêng như: Địa vị pháp lý của HĐND, UBND, về đại biểu
HĐND, về thành viên UBND, về mối quan hệ của chính quyền địa phương với
cấp uỷ, với MTTQ và các đoàn thể, với thôn, bản…trước khi được quy định
trong Luật để đảm bảo đúng quy định của Hiến pháp 2013 và thực tiễn đang
đặt ra, vấn đề này sẽ được bàn cụ thể hơn trong Chương 3 của Luận văn.
Quá trình lược sử trên cho chúng ta thấy: “Xã, thị trấn luôn là đơn vị
hành chính cơ bản mọi thời kỳ, có cả HĐND và UBND” [70, tr.16]. Chính vì
vậy mà trong thời kỳ, hoàn cảnh nào chính quyền cấp xã luôn được Đảng,
Nhà nước ta quan tâm xây dựng, củng cố để có khả năng làm tốt nhiệm vụ,
bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ cơ sở. Tổ chức bộ máy
chính quyền cấp xã là cơ sở của hệ thống nền hành chính quốc gia, làm cho
bộ máy quản lý nhà nước thông suốt từ Trung ương tới cơ sở, có hiệu lực và
hiệu quả. Chính quyền cấp xã là một bộ phận trong trong bộ máy chính quyền

17


nhà nước, nó có tính liên tục và ổn định để thực hiện nhiệm vụ chính trị của
Đảng, Nhà nước. Trải qua các lần Đại hội Đảng từ khoá VI đến khoá XI,
trong văn kiện của Đảng đều có đề cấp đến công tác tổ chức và hoạt động của
chính quyền cấp xã. Gần đây nhất, kết luận về tiếp tục đổi mới hệ thống chính
trị từ Trung ương đến cơ sở, Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục nêu rõ:
Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của HĐND, UBND xã,

quản lý nhà nước…).
- Hai là: Về tổ chức bộ máy của chính quyền cấp xã không hoàn toàn
giống như các cấp quản lý Nhà nước ở trên, ở xã chỉ có HĐND và UBND
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước theo luật định trên tất cả các mặt chính
trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Do đó, chính quyền cấp xã
chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, là sự
chuyển tải, kết nối giữa các cơ quan Nhà nước các cấp đến với các tầng lớp
nhân dân, vai trò này không thể thay thế được. Đó cũng chính là yêu cầu đặt
ra đòi hỏi HĐND cấp xã phải thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và tiếng nói của người dân ở cơ sở, tiếp nhận, xử lý và phản ánh kịp thời
những yêu cầu, kiến nghị của người dân đối với chính quyền các cấp. UBND
là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính Nhà nước trực tiếp
tại cơ sở phải thực hiện chức năng quản lý một cách bao quát, toàn diện
nhưng đồng thời phải sâu sát, cụ thể và kịp thời giải quyết các sự việc phát
sinh ngay tại địa bàn dân cư, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của người dân
theo đúng quy định của pháp luật.
- Ba là: Ở xã thì hầu hết có nền kinh tế thuần nông nên có các hình thức
tổ chức sản xuất phù hợp với tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp. Vì
vậy, ngoài chức năng quản lý Nhà nước nói chung thì chính quyền xã dưới sự
lãnh đạo của Đảng uỷ còn phải thực hiện tốt chức năng quản lý, định hướng
cho các tổ chức kinh tế và nhân dân phát triển sản xuất kinh doanh (Ví dụ: Xây
dựng quy hoạch các vùng sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đối với Hợp tác

19


Trích đoạn Thực trạng về hoạt động Nguyên nhân của thực trạng trên Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã phải bám Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã phải xuất Về tổ chức của chính quyền cấp xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status