TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
------------------
LÊ THỊ XUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI
THỂ LỰC CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC
XUÂN HÒA - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý ngƣời và động vật
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
------------------
LÊ THỊ XUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI
THỂ LỰC CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC
XUÂN HÒA - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý ngƣời và động vật
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng bảo vệ.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Xuyên
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
---------------------------------------
BMI
: (Body mass index) chỉ số khối cơ thể
CCĐ
: Chiều cao đứng
CS
: Cộng sự
FAO
: (Food and Agriculture Organization) Tổ chức nông lương Liên
hợp quốc
HSSH
: Hằng số sinh học
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Đồ thị thể hiện chiều cao đứng của học sinh.................................. 16
Hình 3.2. Biểu đồ thể hiện CCĐ của học sinh nam theo các nghiên cứu của
các tác giả khác nhau....................................................................................... 18
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện CCĐ của học sinh nữ theo nghiên cứu ............... 18
của các tác giả khác nhau. ............................................................................... 18
Hình 3.4. Đồ thị thể hiện cân nặng của học sinh ............................................ 19
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện cân nặng của học sinh nam theo nghiên cứu của
các tác giả khác nhau....................................................................................... 22
Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện cân nặng của học sinh nữ theo nghiên cứu của các
tác giả khác nhau ............................................................................................. 22
Hình 3.7. Đồ thị thể hiện vòng ngực trung bình của học sinh ....................... 24
Hình 3.8. Biểu đồ thể hiện VNTB của học sinh nam theo nghiên cứu .......... 26
của các tác giả khác nhau ................................................................................ 26
Hình 3.10. BMI của học sinh theo lứa tuổi và giới tính ................................. 27
Hình 3.11. Biểu đồ thể hiện BMI của học sinh nam theo nghiên cứu của các
tác giả khác nhau ............................................................................................. 31
Hình 3.12. Biểu đồ thể hiện BMI của học sinh nữ theo nghiên cứu của các tác
giả khác nhau ................................................................................................... 30
Hình 3.13. Đồ thị thể hiện chỉ số Pignet của học sinh ................................... 31
Hình 3.14. Biểu đồ thể hiện chỉ số Pignet của học sinh nam ........................ 34
theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau ..................................................... 34
Hình 3.15. Biểu đồ thể hiện chỉ số Pignet của học sinh nữ........................... 34
theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau ..................................................... 34
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu về sự phát triển thể lực của con người nói chung cũng như
trẻ em nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ những
thế kỷ trước. Ở Việt Nam việc nghiên cứu lĩnh vực này cũng đã được tiến
hành từ những năm 40 của thế kỷ trước đặc biệt được chú trọng từ sau khi đất
nước thống nhất đến nay.
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đang phát triển rất mạnh
mẽ để theo kịp và hòa nhập với các nền kinh tế khác trong khu vực cũng như
trên Thế giới. Điều này đòi hỏi một nguồn nhân lực có sức khỏe, đủ năng lực,
có trình độ học vấn cao, hiểu biết sâu rộng trong mọi lĩnh vực, năng động với
thời cuộc. Để đáp ứng được nhu cầu này của xã hội thì chất lượng Giáo dục
và Đào tạo đóng vai trò quan trọng. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta coi Giáo dục
và Đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhưng chất lượng giáo dục có đạt được
hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào hình thái thể lực trẻ em nhất là lứa tuổi
6 - 10, ở lứa tuổi này đặt nền tảng thể lực hoàn hảo sẽ là chìa khóa thành công
cho các em trong hoạt động trí tuệ, lao động và thể thao đồng thời cũng là cơ
sở để các em tiếp thu được tốt hơn những kiến thức về mọi mặt.
Trẻ em là nguồn nhân lực mới cho tương lai, đóng vai trò quyết định
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em
ngày càng được cộng đồng quan tâm. Trẻ em bị bệnh không những ảnh hưởng
tới tính mạng mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển về thể lực và trí lực. Các chỉ
số hình thái thể lực, trí lực của học sinh được coi là hai mặt cùng phát triển
trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực tri thức cho đất nước. Các chỉ số thể
lực và trí lực của học sinh không phải hằng định mà có thể thay đổi phụ thuộc
vào đối tượng nghiên cứu và các kỳ điều tra, cùng một độ tuổi điều kiện sống
khác nhau cũng ảnh hưởng tới trí tuệ và các chỉ số sinh học. Vì vậy, việc
1
nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí lực của học sinh cần phải tiến hành thường
của các hệ cơ quan trong cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất, thể lực là một trong
những thông số cơ bản phản ánh sự phát triển sinh học của cơ thể. Nó có mối
liên quan nhất định với tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của con
người. Chính vì vậy, cùng với sự phát triển của y học và sinh học người, việc
nghiên cứu thể lực ngày càng phát triển mạnh mẽ và các chỉ số này từ lâu đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm [4]. Bên cạnh đặc điểm hình thái, thể lực
còn mang tính đặc thù về chủng tộc, giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp được thể
hiện trong môi trường sống nhất định trong mối quan hệ giữa môi trường và
sức khỏe. Các thông số hình thái, thể lực được coi là thước đo sức khỏe và khả
năng lao động của con người.
Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là các chỉ tiêu về hình thái
của cơ thể, trong đó chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực là các chỉ số cơ
bản. Từ ba chỉ số này có thể tính thêm được chỉ số khối của cơ thể (BMI) và
pignet. Bất kỳ một người bình thường nào cũng có mức độ phát triển thể lực
nhất định [5]. Sự phát triển thể lực là quá trình thay đổi hình dáng và các chức
năng của cơ thể con người. Vì vậy các chỉ số này từ lâu đã được nhiều nhà
khoa học quan tâm [8], [9], [10]. Trong mối quan hệ giữa môi trường và sức
khỏe, các đặc điểm hình thái thể lực được coi là thước đo một mặt về sức khỏe,
mặt khác về khả năng lao động của con người. Cùng với sự phát triển của y học
và sinh học, các công trình nghiên cứu về hình thái thể lực được bắt đầu từ rất
sớm trong lịch sử và đến nay vẫn là vấn đề thời sự khoa học về con người nên
việc nghiên cứu hình thái thể lực ngày càng phát triển mạnh mẽ [3].
3
Trong các chỉ số trên chiều cao đứng là chỉ số phát triển thể lực được
nhận biết sớm hơn cả, nó là một trong những kích thước được sử dụng trong
hầu hết lĩnh vực nhân trắc học. Chiều cao phản ánh quá trình phát triển chiều
dài của xương, nói lên tầm vóc của một người. Sự phát triển chiều cao mang
tính chất đặc trưng cho chủng tộc, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của
sống [13].
Chỉ tiêu thứ ba là vòng ngực cũng được coi là đặc trưng cơ bản của thể
lực, mức độ phát triển của lồng ngực có liên quan đến hoạt động hô hấp và
sức khỏe của con người. Số đo vòng ngực nói lên tầm vóc của mỗi con người.
Kích thước vòng ngực liên quan đến sự phát triển của trọng lượng và chiều
cao. Người đầu tiên lưu ý tới số đo vòng ngực là các bác sỹ lâm sàng, ở đầu
thế kỷ XIX. Dần dần, đến cuối thế kỉ XIX, vòng ngực trở thành chỉ tiêu quan
trọng trong các cuộc tuyển chọn binh lính và nhân công lao động [3].
Từ ba chỉ số cơ bản trên có thể tính thêm một số chỉ tiêu khác biểu hiện mối
quan liên quan giữa ba chỉ tiêu đó như chỉ số pignet, chỉ số BMI… Chỉ số
pignet đã được quốc tế thừa nhận từ lâu và được dùng để đánh giá thể lực của
con người và hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Nông lương
Thế giới (FAO) đã công nhận chỉ số khối cơ thể (Body mass index = BMI) là
chỉ số được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người, còn chỉ số
pignet để đánh giá mức độ khỏe hay yếu. Các chỉ số này có ý nghĩa cao trong
việc đánh giá sự phát triển của học sinh.
Nhiều công trình nghiên cứu về thể lực đã cho thấy sự khác nhau giữa
trẻ em thành phố và trẻ em nông thôn, giữa nam và nữ, giữa các giai đoạn
phát triển của cơ thể. Trên thực tế, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc
rất nhiều vào yếu tố, nhóm yếu tố bên trong bao gồm tính di truyền, giới tính,
hoocmôn. Đây là những yếu tố quy định và điều khiển sự phát triển tầm vóc,
thể lực. Những yếu tố nay khó tác động, khó thay đổi.
Nếu như nhóm yếu tố bên trong khó tác động, khó làm thay đổi thì
nhóm yếu tố bên ngoài con người có thể tác động và làm thay đổi. Yếu tố bên
5
ngoài có ý nghĩa hơn với đề tài nghiên cứu vì đây là yếu tố thực tiễn cho phép
ta có thể tác động chủ động để nâng cao tầm vóc và thể lực.
Ngoài ra còn kể đến vấn đề tâm lý thoải mái dấn đến mọi quá trình làm
đã nghiên cứu về chiều cao, cân năng và một số chỉ tiêu khác của trẻ em từ 1
đến 25 tuổi, kết quả của công trình này được giới nghiên cứu đánh giá cao.
Cũng trong thời gian này P.Monbeilard đã nghiên cứu thực tế trên
chính con trai mình trong suốt 18 năm liên tục. Từ đó đến nay vấn đề thể lực
luôn được nhiều người quan tâm.
Nghiên cứu tầm vóc và thể lực thuộc khoa học Giải phẫu người. Đây là
nghành khoa học phát triển khá sớm để thực hiện ước mơ tự tìm hiểu và tự
khám phá bản thân mình của con người. Cùng với sự phát triển của toán học
các số đo kích thước cơ thể cũng đồng thời được do trên cơ thể người như
chiều cao, cân nặng và VNTB. Việc nghiên cứu bắt đầu ngay từ khi con
người biết đo chiều cao của mình, biết mình nặng bao nhiêu. Nhưng phải đến
đầu thế kỷ XXI nó mới trở thành môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa và tính
chính xác. Trong đó các tác giả dựa vào phương pháp Martin và bổ sung về
mặt lý luận, thực tiễn tùy theo điều kiện mỗi nước. Ở đây có thể kể đến “Học
thuyết về sự phát triển con người” của P. N Baskirop (1962). Ông đã nêu lên
các quy luật phát triển cơ thể ảnh hưởng của điều kiện sống hoặc cuốn “Nhân
trắc học” của Evan Dervael ra đời năm 1964, với những nhận xét toàn diện về
các quy luật phát triển thể lực theo giới tính và lứa tuổi. Ông đã xây dựng các
thang phân loại thể lực theo các chỉ số thể lực dựa vào giá trị trung bình cộng
và độ lệch chuẩn.
Năm 1977, hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập, đánh
dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thể giới.
Từ đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu thể lực con người được tiến hành ở
nhiều nước trên thế giới như Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Rumani, Mỹ,
7
Pháp… Các công trình nghiên cứu đề cập đến một số vấn đề như: Sự phát
triển thể lực và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực ở trẻ em.
Điều này có thể thấy qua các công trình nghiên cứu của Xy Galpperil (1965)
Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp [4] và cs đã nghiên cứu về sự phát
triển chiều cao đứng, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 đến 55
tuổi ở 8 tỉnh thuộc 3 miền của đất nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ
số thu được trong công trình này đều cao hơn hẳn so với các chỉ số nghiên
cứu trước đó.
Đào Huy khuê [10] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng
trưởng , phát triển cơ thể của học sinh từ 6 - 17 tuổi ở thị xã Hà Đông và nhận
thấy, tốc độ tăng tốc tối đa các chỉ số hình thái của nam thường ở giai đoạn 14
- 16 tuổi còn ở nữ là 11 - 15 tuổi. Từ 6 - 9 tuổi, các kích thước của nữ thường
cao hơn của nam và ngược lại từ 16 - 17 tuổi các kích thước của nam lại cao
hơn của nữ.
Năm 1991 - 1995, nhóm các tác giả Trần Văn Dân và cs [2] đã nghiên
cứu các chỉ số kích thước của cơ thể của học sinh ở một số tỉnh, thành phố
như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình. Tác giả nhận thấy, so với dẫn liệu trong
cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” thì sự phát triển chiều cao của trẻ từ
6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt ở trẻ em thị xã, thành phố, còn khu vực nông thôn
chưa thấy có sự thay đổi đáng kể. Theo các tác giả trên, chỉ số pignet cao do
trẻ trong độ tuổi này có xu hướng phát triển ưu thế về phần xương, còn chỉ số
BMI thấp là do trẻ khá gầy, nói lên rằng đây là nhóm tuổi đang lớn nhanh, ưu
thế phát triển là xương, chưa ở giai đoạn tích mỡ.
Nghiên cứu của Trần Thị Loan [11] từ năm 1999 - 2002, trên học sinh
Hà Nội từ 6 - 17 tuổi cho thấy, các chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng,
vòng ngực trung bình của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác từ thập kỷ 80 trở về trước và so với học sinh ở Thái Bình, Hà
9
Tây, ngoại thành Hải Phòng ở cùng thời điểm nghiên cứu. Điều này chứng tỏ,
điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình
thái thể lực của học sinh.
6
88
44
44
7
85
43
42
8
83
42
41
9
83
42
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
*Tiến hành đo một số chỉ số hình thái: chiều cao đứng, cân nặng, vòng
ngực trung bình ở các đối tượng khác nhau.
- Chiều cao đứng: Được xác định bằng thước đo chiều cao gắn trên cân
y học Trung Quốc, có vạch chia đến 0,1cm. Khi đo, học sinh ở tư thế đứng
thẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo bốn điểm
là chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo. Tư thế đứng thẳng được xác
định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song
song với mặt bàn cân. Chiều cao đứng được tính theo đơn vị centimet (cm).
- Trọng lượng cơ thể: Được xác định bằng cân đồng hồ của Nhật có độ
chính xác đến 0,1kg. Đo xa bữa ăn khoảng 4h. Khi cân mỗi đối tượng chỉ mặc
một bộ quần áo mỏng, không mang giày, dép, đứng yên ở vị trí giữa bàn cân,
hai bàn chân sát nhau. Trước khi đo bất kì học sinh nào cân đều được chỉnh
để đảm bảo độ chính xác. Đơn vị tính trọng lượng cơ thể là kilogam (kg).
- Vòng ngực trung bình: Được xác định bằng số trung bình cộng của số
đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra cố sức. Vòng ngực được đo ở tư
thế đứng thẳng bằng thước dây vòng quanh ngực vuông góc với cột số xương
bả vai, phía trước quá mũi ức. Như vậy, chu vi đo thước tạo thành nằm trên
mặt phẳng ngang song song với mặt đất. Trước khi đo hướng dẫn đối tượng
hít vào tận lực và thở ra cố sức để đo. Dụng cụ đo là thước dây bằng vải của
Trung Quốc, không co giãn, có chia số tới mm. Đơn vị đo vòng ngực trung
bình là cm
*Tính các chỉ số thể lực:
- Chỉ số pignet được tính theo công thức:
Pignet = Chiều cao (cm) - [Cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)]
12
Đánh giá chỉ số pignet theo Nguyễn Quang Quyền [6]:
BMI càng cao thì sức khỏe càng tốt và ngược lại
BMI ở lứa tuổi 5 - 10 nằm trong: Khoảng < 13 là gầy
Khoảng > 17 là béo
Khoảng 13 ÷ 17 là bình thường
-Phương pháp xử lý số liệu:
Tính toán các thông số theo các thuật toán thống kê xác suất dùng trong
y, sinh học. Để phân tích, đánh giá kết quả, việc tính toán số liệu được thực
hiện trên máy vi tính bằng Microsofl Excel.
13
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Các chỉ số hình thái cơ bản của học sinh trƣờng tiểu học Xuân Hòa
3.1.1. Chiều cao đứng
Chiều cao đứng là một kích thước quan trọng trong nghiên cứu hình
thái người, nó phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể người qua các
lớp tuổi. Các nghiên cứu về lĩnh vực này cho thấy, ở lứa tuổi học sinh, chiều
cao đứng thay đổi theo lứa tuổi và giới tính. Sự tăng chiều cao phụ thuộc vào
sự phát triển của xương (quan trọng nhất là xương chi dưới, xương cột sống).
Ở học sinh chiều cao đứng thay đổi theo chủng tộc và giới tính, phụ thuộc vào
yếu tố di truyền, chịu ảnh hưởng nhất định của môi trường địa lý và điều kiện
xã hội (chế độ dinh dưỡng, điều kiện lao động, thể dục thể thao).
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh trường tiểu học Xuân
Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc Được thể hiện ở bảng 3.1 và hình 3.1.
Bảng 3.1. Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính
Nam (1)
Tuổi
n
0,66
>0,05
7
43
124,23±3,72
6,71
42
122,33±4,09
5,47
1,90
43
138,30±5,10
3,54
41
141,24±6,41
6,84
-2,94
120.00
100.00
80.00
60.00
Nam
40.00
Nữ
20.00
0.00
6
7
8
9
10
Tuổi
Hình 3.1. Đồ thị thể hiện chiều cao đứng của học sinh
Có thể giải thích sự khác nhau về mức tăng trưởng của chiều cao đứng
giữa học sinh nam và học sinh nữ là do quy luật không đồng đều theo giới
tính của trẻ em. Chiều cao đứng là một biến số độc lập không bị ảnh hưởng
bởi các chỉ tiêu khác, có tính ổn định cao và do bộ xương quyết định. Sự tăng
Nguyễn Thị
Lê Thị Xuyên
Tuổi
1975
(2000)
Hiền (2010)
(2015)
6
107,16
112,58
-
117,52
7
111,43
117,35
128,51
138,30
6
106,36
110,35
-
116,86
7
110,64
116,06
114,61
122,33
8
116,51
121,28