TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ TÂN
ĐIEỰ TRA MỘT Sờ CHI so HĨNH THAI,
THẺ Lực CỦA TRẺ TỪ 3 - 5 TUỔI TẠI
TRỮỜNG MẦM NON ĐỐNG ĐA - VĨNH
YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên
ngành: Sinh lý trẻ em
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
HÀ NỘI-2015
NGUYÊN THỊ TÂN
ĐIỀU TRA MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI,
THẺ Lực CỦA TRẺ TỪ 3 - 5 TUỔI TẠI
TRỬỜNG MẦM NON ĐỐNG ĐA - VĨNH
YÊN - VĨNH PHỦC
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC • •
• • Chuyên ngành: Sinh lý trẻ em
Người hướng dẫn khoa học Th.s NGÔ THỊ HẢI YÉN
HÀ NỘĨ-2015
MỎ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là mầm non đất nước, là tương lai của dân tộc. “Cái mầm có xanh thì
cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ được nuôi dưỡng
giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự lập tự cường”. Nhận thấy được tầm quan trọng
đó thì công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn được Đảng, Nhà nước
quan tâm. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này cần nắm chắc đặc điểm về thể lực, trí
tuệ và tâm sinh lý của trẻ em.
Hình thái, thể lực là những đặc điểm phản ánh một phần thực trạng của cơ thế.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số hình thái thế lực của con người
thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã hội, môi trường tự
nhiên. Đáng kể nhất là chế độ dinh dưỡng, quá trình luyện tập thể dục thể thao, thực
trạng ô nhiễm môi trường,... Do đó, việc nghiên cứu các chỉ số hình thái thế lực của
con người nói chung, của trẻ em nói riêng cần được tiến hành thường xuyên và có
sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định.
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng
được nâng cao. Theo đó các chỉ số sinh học của con người cũng có sự thay đổi theo
thời gian và theo lứa tuổi. Việc nghiên cứu các chỉ số về hình thái thế lực liên quan
đến sự sinh trưởng của trẻ mẫu giáo là cần thiết. Nó cung cấp dẫn liệu cho công tác
nuôi dạy trẻ em ở bậc mầm non, cũng như tạo cơ sở khoa học để đề xuất các biện
pháp hữu hiệu nhằm phát triển thế hệ tương lai của đất nước một cách tốt nhất.
Đen nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái thế lực của người Việt
Nam... Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi mẫu giáo còn ít,
điển hình tại trường mầm non Đống Đa - Vĩnh Yên - Vĩnh
Phúc chưa có đề tài nào nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực của trẻ. Là một giáo
viên Mầm non tương lai tôi rất quan tâm đến vấn đề sự tăng trưởng của trẻ nên tôi
5
hoàn thiện về chức năng. Vì vậy, mà ở mỗi lứa tuổi trẻ đều có những đặc điểm phát
triển và thể lực khác nhau.
Tóm lại, chức năng sinh học và xã hội cơ bản của trẻ em lứa tuổi mầm non là
sinh trưởng và phát triến [11].
1.2.
Các chỉ số về thể lực của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Thể lực là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng,
phát triển và khả năng học tập, lao động của con người [10]. Đe đánh giá sự phát
6
triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều cao, cân nặng,
vòng ngực, vòng đầu... Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều cao đứng, cân nặng và
vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất. Từ các chỉ số cơ bản này, người ta có thể
suy ra các chỉ số tổng họp khác như chỉ số pignet, BMI [10, 12, 14].
Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh
vực ứng dụng của nhân trắc học. Chiều cao của mỗi người được quyết định bởi đặc
điểm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện sống [1, 6, 7,
16].
Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong những
năm đầu. Chiều cao của các em tăng trung bình 7cm/năm ở giai đoạn từ 1 đến 3
tuối, và tăng trung bình 6 cm/năm từ 3 đến 6 tuối [3, 5, 10].
Đe theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ em, có thể áp dụng công thức
tính gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ em trên một tuổi [10, 19].
X (cm) = 75 + 5.Ĩ1
Trong đó: X: Chiều cao đứng (cm).
N: Số tuổi (năm).
75: Chiều cao trẻ 1 năm.
5: Chiều cao tăng trung bình/năm.
Cùng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng để đánh
cứu tương đối sớm mà hiện đại cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và
Volanski.
Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tác
phẩm nối tiếng “giáo trình nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lí
thống kê”. Trong các công trình này ông đã đưa đề xuất một số phương pháp và
dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể cho đến nay vẫn được sử dụng.
Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bố sung và hoàn thiện thêm các đề
xuất của ông cho phù hợp với từng nước [11]. vấn đề nhân trắc học còn được thế
hiện qua chương trình của P.N.Baskirov - “nhân trắc học”, Evan Dervael - “nhân
8
trắc học” chương trình của Burak, A.M.Aruwxon. Xong với sự phát triển của bộ
môn di truyền sinh lí học, toán học,... Việc
9
nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn, vấn đề này
được thể hiện qua các chương trình X.Galperin, Tomiemicz, Tarasov, Tommer,
M.Sempe, G - Pedrom, M.P.Rog - Pegnot.
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt
hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo
lường được bằng kĩ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm. Công trình đầu tiên
trên thế giới cho thấy sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lứa tuối từ 1 - 25
tuối là một luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754.
Nghiên cứu dọc của Philitbert Gueneaude Montbeilard [17]. Thực hiện trên
con trai mình từ năm 1959 - 1977. Đây là phương pháp rất tốt được ứng dụng cho
đến ngày nay. Sau đó còn có chương trình khác của Edwin Chadwick ở Anh,
tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số
hình thái của con người.
Trong hai năm 1995 - 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và cs nghiên cứu trên 10339
trẻ em từ 1 - 36 tháng tuổi và 11985 trẻ em từ 37 - 72 tháng tuổi tại Hà Nội, Hà Tây,
Hà Bắc, Ninh Bình, Nam Hà. Kết quả cho thấy từ 5 đến 72 tháng tuổi, mức tăng
chiều cao nhanh hơn so với mức tăng cân nặng [3].
Từ năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan [11, 12] nghiên cứu trên trẻ em Hà Nội từ
6 - 17 tuổi cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng của trẻ em lớn hơn so với các
kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỷ 80 trở về trước và so với trẻ em
Thái Bình, Hà Tây cùng thời điếm nghiên cứu. Điều này chứng tỏ, điều kiện sống
đã có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của trẻ em.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số thế lực trên người Việt
Nam khá phong phú. Các công trình có ít nhiều khác nhau nhưng cùng xác định
được hình thái thể lực phụ thuộc vào điều kiện sống, địa bàn nghiên cứu, thời gỉan
nghiên cứu...và có sự biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính.
7
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các chỉ số hình thái thế lực của trẻ mẫu giáo lứa tuối
3-5 tuối của trường mầm non Đống Đa — Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc. Gồm 3 nhóm với
3 độ tuổi khác nhau từ 3 - 5 tuổi.
Trẻ tham gia nghiên cứu ở tình trạng khỏe mạnh không có dị tật về hình thể
hoặc các bệnh mãn tính.
Tống số trẻ tham gia nghiên cứu là 193 trẻ em, trong đó có 97 trẻ nữ và 96 trẻ
nam. Phân bố các trẻ tham gia nghiên cứu theo tuối và theo giới tính thể hiện trong
bảng sau:
97
193
2.2.
Phương pháp nghiên cún
2.2.1.
Các chỉ số được nghiên cửu
- Chiều cao đứng
- Cân nặng
- Vòng ngực trung bình
- Vòng đầu
- Chỉ số BMI
2.2.2.
-
Phưong pháp xác định các chỉ số
8
Chiều cao đứng: được đo bằng thước đo polymer có vạch chia chính xác đến
0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất.
Đe đo chính xác chiều cao cơ thể trẻ thì ta tiến hành đo như sau: Đo vào buối
sáng, khi đo thước dây căng thắng áp sát vào tường nhà, vuông góc với mặt
Chỉ số BMI còn gọi là chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg) / [ chiều cao đứng (m)]2.
Đơn vị của chỉ số BMI: kg/m2.
9
Bảng 2.2. Phân loại BMI đối với nam từ 3 - 5 tuổi
Tuổi
Bách phân vị
Phân
loại
3 tuổi
Béo
phì
Dưới bách phân
vị thứ 5
Suy
dinh
dưỡng
Bình
thường
Bảng 2.3. Phân loại BMI đối với nữ từ 3 - 5 tuồi
BMI
(kg/m
2
)
3 tuôi
< 14
Tuôi
4 tuôi
< 13,7
Bách phân vị
5 tuôi
< 13,5
phân vị thứ 5
Phân
loai
Suy
dinh
dưỡng
Bình
thường
Nguy
cơ béo
phì
Béo
phì
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
-
Các số liệu được xử lý theo toán xác xuất thống kê dùng trong y, sinh học. Việc
tính toán số liệu được thực hiện trên máy tính bằng phần mềm
Microsoft Excel 2007, phần mềm R Ì386 3.0.0. Các số liệu được nhập đầy đủ sẽ
được máy tính xử lý để tính: Giá trị trung bình (X), độ lệch chuấn (SD), p.
- Tính giá trị trung bình:
1
4
n
Chỉều cao của trẻ em nam
Ket quả nghiên cứu chiều cao của trẻ em nam từ 3 - 5 tuối được thế hiện ở
bảng 3.1 và hình 3.1.
Bảng 3.1. Chiều cao của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi
Tuổ
i
3
4
5
Tổn
g
n
Chiêu cao (cm)
XiSD
3
1
3
1
3
4
9
6
Tă
ng
5
6,7
6
7,3
0
112
93
19
74,19
118
10
1
17
61,76
109,03 + 4,85
Tăng trung
bình/năm
Chiều cao (cm)
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện chiều cao của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi
M
g
ax
(1
)
1
7
Mi
n
(2)
(l)(2)
Số trẻ em có chiều
cao trong khoảng
3
4
5
Tổn
g
3
3
3
2
3
2
69,70
90
21
65,63
10
0
17
65,63
66,98
số liệu trong bảng 3.2 cho thấy từ 3 - 5 tuổi, chiều cao của trẻ em nữ tăng dần,
lúc 3 tuổi là 93,59 ± 5,01 cm và lúc 5 tuổi là 107,16 ± 4,22 cm, tăng trung bình 6,78
cm/năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao của trẻ em nữ không đều qua các năm.
Chiều cao của trẻ em nữ tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 3 đến 4 tuổi (tăng 7,46
cm/năm) và tăng chậm hơn ở giai đoạn từ 4 đến 5 tuối (tăng 6,11 cm/năm). Điều này
phù hợp với quy luật phát triển chung ở trẻ em.
Mức độ khác nhau về chiều cao giữa trẻ em nữ cao nhất với trẻ em nữ thấp
nhất trong cùng một độ tuổi tương đối nhiều, thay đổi từ 17 cm lúc 5 tuổi đến 21 cm
lúc 4 tuổi, và cao nhất là 24 cm lúc 3 tuổi. Tỉ lệ trẻ em nữ có chiều cao nằm trong
khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi là 66,98%. Tỷ lệ này cao nhất lúc 3 tuổi là
69,70% và thấp hơn lúc 4 và tuổi là 65,63%. Điều này cho thấy, trong cùng một độ
tuổi, chiều cao của trẻ em nữ chưa thực sự đồng đều.
Chiều cao (cm) 120
1
94,42 ±3,8
4
3
1
3
4
9
6
102,27+5,
03
109,03+4,
85
Tăng
trung
bình/năm
5
Tông
Nữ (2)
Tăn
g
n
X2
p
(12)
0,8
3
>0,0
5
1,2
2
1,8
6
>0,0
5
>0,0
5
Tă
ng
-
7,4
6
6,1
1
6,7
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn mức tăng chiều cao của trẻ em từ 3 - 5 tuổi
16
2
0
3.2.
Cân nặng của trẻ em
3.2.1.
Cân nặng của trẻ nam
Ket quả nghiên cứu cân nặng của trẻ nam 3-5 tuối được thế hiện qua bảng
3.4 và hình 3.5.
Bảng 3.4. Cân nặng của trẻ nam từ 3 - 5 tuối
rT"\
*
Tuôi
n
3
3
1
3
1
1,94
27
Tăng trung
bình/năm
2,01
Mi
n
(2)
12
(l)-(2)
Sô trẻ em có
cân nặng trong
8,5
77,42
13
10
64,52
1
tuổi (tăng 2,08 kg/năm) và tăng chậm hơn ở giai đoạn 4-5 tuổi (tăng 1,94 kg/năm).
Điều này có thể giải thích do ở giai đoạn 3-4 tuối, tốc độ tăng chiều cao của trẻ em
nam mạnh hơn so với giai đoạn 4-5 tuối.
Mức độ khác nhau về cân nặng giữa trẻ em nam nặng nhất với trẻ em nam nhẹ
nhất trong cùng một độ tuổi tương đối lớn, thay đổi từ 8,5 kg lúc 3 tuổi đến 10 kg
lúc 4 tuổi, cao nhất là 11,5 kg lúc 5 tuổi. Tỉ lệ trẻ em nam có cân nặng nằm trong
khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi tương đối cao 72,80%, tỉ lệ này cao cao nhất
là 77,42% lúc 3 tuổi và thấp hơn là 76,47% lúc 5 tuổi và thấp nhất là 64,52% lúc 4
tuổi. Điều này cho thấy, trong cùng một độ tuổi, cân năng của trẻ em nam khá đồng
đều.
3.2.2.
Cân nặng của trẻ em nữ
Ket quả nghiên cứu cân nặng của trẻ nữ 3 - 5 tuổi được thể hiện qua bảng 3.5
và hình 3.6.
Bảng 3.5. Cân nặng của trẻ nữ từ 3 - 5 tuổi
Tu
ổi
n
3
4
5
гг
л
2
2
Số trẻ em có cân
Mi
n
(2)
10
13
(D
(2)
9,5
13
14
15,
5
nặng trong
khoảng [X ±
SD] (%)
72,73
75,00
84,38
77,37
trẻ
em
nam tăng từ
14,35 + 2,05
kg lúc tuổi 3
tuổi lên 17,75
+ 2,93 kg lúc
5 tuổi, tăng
trung bình 1,7
kg/năm.
Tốc
độ tăng cân
nặng của trẻ
em nữ giảm
dần qua các
năm. Ớ giai
đoạn từ 3 đến
4 tuối, mức
tăng cân nặng
của trẻ em nữ
là
2,18
trẻ em nữ nhẹ
nhất
trong
cùng một độ
tuối tương đối
lớn, thay đối
từ 9,5 kg lúc 3
và đến 15,5 kg
lúc 5 tuổi. Tỉ
lệ trẻ em nữ
có cân nặng
nằm
trong
khoảng giá trị
trung bình ở
các lứa tuổi là
77,37%, thấp
nhất
là
72,73% lũc 3
tuổi
nhất
và