ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
--------------------------------------
LÊ NGUYỄN THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI GÂY RA BỞI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN
XÃ GIAO XUÂN, HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
--------------------------------------
LÊ NGUYỄN THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI GÂY RA BỞI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN
XÃ GIAO XUÂN, HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Quang Thành
tháng
Tác giả
MỤC LỤC
3
năm 2014
MỤC LỤC………………………………………………………………………………...
4
DANH MỤC CÁC BẢNG………………………………………………………………..
6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ………………………………………………………..…..
7
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………..
8
1. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………………………….
8
I.1.4. Khái niệm GIS……………………………………………………………… 18
I.2. Tổng quan nghiên cứu về BĐKH và sinh kế người dân……………………………..
19
I.2.1. Các nghiên cứu về BĐKH trên thế giới và Việt Nam……………………… 19
I.2.2. Tổng quan nghiên cứu về sinh kế người dân trên thế giới và Việt Nam...…
21
CHƯƠNG II: NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU………
26
II.1. Nội dung nghiên cứu………………………………………………………………...
26
II.2. Khung khái niệm…………………………………………………………………….
28
II.3. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………… ...
30
II.3.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu…………………………………...
4
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……………………………………….
39
III.1. Tác động của BĐKH tới hiện tượng thiên tai tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh
Nam Định…………………………………………………………………………
39
III.1.1. Đánh giá tình hình bão tại khu vực Đông Bắc Bộ…………………….
39
III.1.2. Các biểu hiện thiên tai những năm qua tại huyện Giao Thủy, Nam Định..
41
III.2. Đặc điểm thực trạng sinh kế xã Giao Xuân………………………………………..
44
III.2.1. Thực trạng sinh kế xá Giao Xuân………………………………………
44
III.2.2. Phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức……………………….
54
III.3. Tác động của thiên tai tới sinh kế người dân xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
Định………………………………………………………………………………
III.5. Những giải pháp cải thiện sinh kế người dân trước những tác động của thiên tai gây nên
bởi BĐKH…………………………………………………………………………
75
5
III.5.1. Các biện pháp ứng phó đã thực hiện…………………………………
76
III.5.2. Các giải pháp thích ứng với BĐKH trong phát triển sinh kế bền vững…
77
III.6. Sử dụng GIS trong việc đánh giá sơ bộ tính dễ bị tổn thương gây ra bởi thiên tai tới sinh
kế người dân……………………………………………………………………….
79
III.6.1. Ứng dụng của GIS trong việc đánh giá sơ bộ tính dễ bị tổn thương gây ra bởi
thiên tai tới sinh kế người dân………………………………………………………
79
III.6.2. Sử dụng WebGis trong việc tính toán các chỉ số dễ bị tổn thương……
80
III.6.3. Kết quả…………………………………………………………………..
84
48
Bảng 3.6: Chi phí của các hộ đầu tư ban đầu - tài sản cố định.........................
49
Bảng 3.7: Trình độ chuyên môn của các hộ trồng trọt……………………...
50
Bảng 3.8: Chi phí của các hộ đầu tư ban đầu - tài sản cố định..........................
51
Bảng 3.9: Các khoản chi phí trồng trọt………………………………………
52
Bảng 3.10: Tổng sản phầm năm 2010 của các hộ trồng trọt………………...
52
Bảng 3.11: Các ngành nghề khác của các hộ có hoạt động sinh kế khác……..
53
Bảng 3.12: Hồ sơ thiên tai……………………………………………………..
57
17
31
Hình 3.1: Số lần xuất hiện của bão từ năm 1962-2010………………………… 39
Hình 3.2 : Số lượng các cơn bão theo thống kê từ năm 1962-2010……………. 40
Hình 3.3: Tỷ lệ % các cấp bão…………………………………………………… 40
Hình 3.4: Thống kê về cấp các cơn bão trong khoảng thời gian từ 1962 – 2010.. 41
Hình 3.5. Lựa chọn phát triển sinh kế trong tương lai…………………………
71
Hình 3.6. Lý do lựa chọn hướng phát triển sinh kế……………………………
72
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đã và đang làm thiên tai ở nước ta có chiều
hướng ngày càng phức tạp, gia tăng nhiều hơn so với những thập kỷ trước về cả quy
mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường. Việt Nam nằm trong
vùng nhiệt đới gió mùa, là một trong năm ổ bão của khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khốc liệt. Trong hơn
65 năm qua, thiên tai đã xảy ra ở hầu hết các khu vực trên cả nước, gây nhiều tổn thất
to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội và tác động xấu đến môi trường,
gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân, thậm chí còn tác động mạnh hơn
đến sinh kế của những nhóm dân cư nghèo nhất sinh sống ở khu vực nông thôn.
Huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là một trong những địa điểm chịu ảnh hưởng
- Sự tham gia của cộng đồng trong việc sử dụng GIS để đánh giá sơ bộ sự tổn
thương của thiên tai tới sinh kế người dân.
3. Dự kiến những đóng góp của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Luận văn tổng hợp các số liệu để đánh giá mức độ tác động của các hiện tượng
thiên tai theo quan điểm của người dân địa phương. Luận văn cũng sử dụng khái niệm,
tiêu chí đánh giá sinh kế bền vững và khung khái niệm về sinh kế bền vững để tìm
hiểu và đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những tác động của các hiện
tượng thiên tai. Đồng thời, luận văn áp dụng xây dựng một công cụ sử dụng GIS để
người dân đánh giá sơ bộ sự tổn thương của thiên tai tới sinh kế người dân khu vực.
- Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích một cách khoa học, luận văn hy vọng mô tả được đầy đủ
sự thay đổi của hiện tượng thiên tai do sự gia tăng BĐKH, những tác động của các
hiện tượng thiên tai đến hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, các hoạt
động sinh kế khác, thu nhập của người dân tại khu vực nghiên cứu, và nhận biết được
những kinh nghiệm và kiến thức bản địa mà người dân tại khu vực nghiên cứu đã áp
dụng trong việc ứng phó trước những tác động đó. Đồng thời miêu tả được sự tham gia
của cộng đồng trong việc sử dụng công cụ GIS trong việc đánh giá sơ bộ tổn thương
của thiên tai tới sinh kế người dân.
10
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Cộng đồng dân cư thuộc xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy,
tỉnh Nam Định.
- Đối tượng nghiên cứu: sinh kế của người dân tại khu vực nghiên cứu (hoạt động sản
xuất nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động khác như
buôn bán, hoạt động phục vụ du lịch sinh thái) và tính dễ bị tổn thương của khu vực
trước tác động của thiên tai.
Luận văn gồm những phần chính như sau:
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN
ĐỐI KHÍ HẬU VÀ SINH KẾ NGƯỜI DÂN
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
12
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SINH
KẾ NGƯỜI DÂN
I.1. Một số khái niệm
I.1.1. Sinh kế bền vững
a. Khái niệm về sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế bền vững về cơ bản được dựa trên nền tảng của khái niệm
phát triển bền vững. Sinh kế (livelihood) được hiểu là có các nguồn dự trữ về lương
thực và tiền bạc để đáp ứng các nhu cầu cơ bản. An ninh (security) được hiểu là được
sở hữu hoặc được tiếp cận các nguồn lực và hoạt động tạo thu nhập để bù đắp rủi ro,
làm giảm các đột biến cũng như ứng phó kịp thời với những bất thường xảy ra. Bền
vững (sustainable) đề cập đến khả năng duy trì hoặc tăng cường năng suất trong dài
hạn. Do đó, một hộ gia đình có thể đạt được an ninh sinh kế bền vững bằng nhiều
cách: sở hữu đất đai, cây trồng và vật nuôi; có quyền được chăn thả, đánh bắt, săn bắn
hoặc hái lượm; có công việc ổn định với mức thu thập đủ trang trải các nhu cầu của
cuộc sống,….Sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép và được coi là phương tiện
để đạt được 2 mục tiêu: công bằng và bền vững.
Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway vào năm 1992 về sinh kế
là: "sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện
sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền
vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế.
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau
và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện. Cùng trên quan điểm đó,
một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc
hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) duy
trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và (iv) không
làm phương hại đến các sinh kế khác.
c. Khung sinh kế bền vững:
a. Các yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững
Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5
nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến
lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các quy trình về thể chế và chính sách, và (v)
bối cảnh bên ngoài (DFID, 2001).
* Nguồn lực sinh kế: Có 5 loại nguồn lực sinh kế: Nguồn lực tự nhiên, nguồn
lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội
14
* Chiến lược sinh kế: là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn
có để kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống.
* Kết quả sinh kế: là những thành quả mà hộ gia đình đạt được khi kết hợp các
nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các chiến lược sinh kế. Các kết quả sinh kế
chủ yếu bao gồm: tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi, giảm khả năng bị tổn thương, tăng
cường an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
* Thể chế, chính sách
* Bối cảnh bên ngoài: Bối cảnh bên ngoài, hiểu một cách đơn giản, là môi
trường bên ngoài mà con người sinh sống. Sinh kế của người dân và nguồn lực sinh kế
của họ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi 3 yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài là: các xu hướng,
chính sách và thể chế nhất định ở địa phương. Những nhân tố này cũng chịu ảnh
hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ. Sự lựa
chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện
tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này
16
Hình 1.2: Khung Sinh kế bền vững của DFID (2001)
Việc phân tích khung sinh kế bền vững sẽ giúp trả lời câu hỏi: nguồn lực sinh
kế nào, chiến lược sinh kế nào, thể chế, chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh
kế bền vững cho các nhóm đối tượng khác nhau.
I.1.2. Quan điểm về tính dễ bị tổn thương
Có rất nhiều những khái niệm dễ bị tổn thương được sử dụng, có thể chỉ ra 3
trường phái về tính dễ bị tổn thương: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa
sinh lý bao gồm phân tích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con
người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động (e.g., Heyman
et al.1991, Alexander 1993); (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương
liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao
gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa (e.g., Blaikie
et al 1994, Watts and Bohle 1993); (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính
dễ bị tổn thương như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như
những tác động thích ứng của xã hội (Cutter 1996, Weichselgartner 2001: 169 ff);
Quan điểm thứ nhất: Quan điểm chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa
sinh lý, bao gồm phân tích điều kiện phân bố của các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà
con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động.
17
18
những ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu, kể cả tính dễ biến đổi khí hậu và các
cực đoan khí hậu. Khả năng dễ bị tổn thương là một hàm số của đặc tính, độ lớn và tỷ
lệ của biến đổi khí hậu và mức biến đổi mà một hệ thống bị phơi nhiễm, tính nhạy cảm
cũng như năng lực thích ứng của hệ thống đó”
Các định nghĩa nói trên đã ngày càng khẳng định sự phát triển của quan điểm
thứ 3, trong đó các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động của con người và
các tác động của thiên tai ngày càng có chiều hướng tăng lên. Do đó, các định nghĩa về
tính dễ bị tổn thương đã dần được cải thiện để thể hiện cách nhìn toàn diện của xã hội,
liên quan đến lĩnh vực tự nhiên và kinh tế xã hội của một hệ thống.
I.1.3. Khái niệm thích ứng
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối
với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương
do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó
mang lại. Đây một khái niệm rất rộng, là một quá trình qua đó con người làm giảm
những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe và đời sống và tận dụng những cơ hội
thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ
động hoặc phản ứng tích cực hoặc có phòng bị trước được đưa ra với ý nghĩa giảm
thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH. Thích ứng còn có nghĩa là tất cả
những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương. Cây cối, động
vật, và con người không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng
hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và giảm thiểu các rủi ro từ
những thay đổi đó.
I.1.4. Khái niệm GIS
Hệ thống thông tin địa lý - Geographic Information System (GIS) là một hệ
thống kết hợp giữa con người và hệ thống máy tính cùng các thiết bị ngoại vi để lưu
trữ, xử lý, phân tích, hiển thị các thông tin địa lý để phục vụ một mục đích nghiên cứu,
biết tới khi nhà khoa học Mỹ, Wallace Broecker sử dụng thuật ngữ này làm tiêu đề cho
một bài báo khoa học của mình. Năm 1987, Nghị định thư Montreal được thỏa thuận,
quy định giới hạn của các hóa chất gây hại đến tầng ozone. Mặc dù không đề cập tới
vấn đề biến đổi khí hậu, song nghị định thư Montreal vẫn có tầm ảnh hưởng lớn hơn
nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí nhà kính.
20
Đại hội đồng Liên hợp Quốc lần đầu tiên đặt sự quan tâm vào vấn đề biến đổi
khí hậu do con người gây ra vào năm 1988 khi có các bằng chứng khoa học về một
mùa hè nóng bất thường ở Hoa Kỳ cũng như nhận thấy sự gia tăng nhận thức của con
người về các vấn đề môi trường toàn cầu và kỳ vọng về sự tham gia của cộng đồng
quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu, đặc biệt là sau các vòng
đàm phán thành công về Nghị định thư Montreal (năm 1987) về các chất làm suy giảm
tầng ôzôn. Cũng trong năm 1988, WMO và UNEP cùng thành lập Ủy ban liên chính
phủ về biến đổi khí hậu gọi tắt là IPCC với nhiệm vụ đánh giá các thông tin khoa học
về biến đổi khí hậu, bao gồm các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với con
người, cũng như các biện pháp giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Năm 1990, IPCC đã công bố báo cáo đánh giá đầu tiên về thực trạng biến đổi
khí hậu toàn cầu. Cũng trong năm 1990, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức phát
động các cuộc đàm phán về Công ước khung về Biến đổi khí hậu.
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro
năm 1992, chính phủ các nước đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến
đổi khí hậu (UNFCCC). Mục đích quan trọng của công ước này là ổn định nồng độ khí
nhà kính trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn chặn được sự can thiệp nguy hiểm của
con người đối với hệ thống khí hậu. Các nước phát triển đồng ý giảm lượng phát thải
khí nhà kính của nước họ xuống mức năm 1990.
Năm 1995, báo cáo đánh giá thứ hai của IPCC kết luận rằng sự cân bằng của
các bằng chứng có thể thấy rõ các tác động không nhỏ của loài người đến hệ thống khí
của các nhà hoạch định chính sách bởi cách tiếp cận hướng vào con người với mong
muốn tạo ra một kỷ nguyên mới của các hoạt động phát triển (Solesbury, 2003).
Từ đầu những năm 1990, các tổ chức tài trợ quốc tế như CARE International,
DANIDA, Oxfam, DFID, UNDP…. đã áp dụng khung sinh kế bền vững để thiết kế
các dự án và chương trình xóa đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên ở vùng nông thôn
và ven biển ở châu Á và châu Phi theo cách tiếp cận hướng vào người nghèo và có sự
tham gia. Cũng có một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững để
phân tích các cơ hội và thách thức về sinh kế của người dân ở khu vực nông thôn và
22
ven biển, từ đó đề xuất những hình thức hỗ trợ sinh kế phù hợp nhằm đạt được mục
tiêu phát triển bền vững.
Trên thế giới, mặc dù sinh kế bền vững đã được nghiên cứu từ khá lâu nhưng
nghiên cứu về mối quan hệ, đặc biệt là tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với sinh kế
vẫn còn ở mức hạn chế. W. Neil Adger, Trung tâm nghiên cứu Kinh tế - xã hội về môi
trường Toàn cầu – đại học East Anglia Vương quốc Anh, là một trong các nhà khoa
học nghiên cứu sâu về tính dễ bị tổn thương do BĐKH. Năm 1999, ông đăng tải
nghiên cứu về tính dễ bi tổn thương về mặt xã hội do BĐKH, bước đầu tài liệu này đã
đưa ra cách tiếp cận tính dễ bị tổn thương về xã hội vào trong đánh giá BĐKH và có
khả năng áp dụng trên quy mô toàn cầu. Cũng trong năm này, W. Neil Adger đã công
bố bài viết về tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội do biến đổi khí hậu trong hoàn cảnh
của Việt Nam. Trong bài viết này, ông đã chỉ ra được nguyên nhân và sự gia tăng tính
dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu tại vùng phía bắc Việt Nam đối với một số các tổ
chức ngành kinh tế trong hiện trạng biến đổi khí hậu [48]. Bài viết đã đưa ra được
phương pháp luận về tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu này
chỉ dừng lại ở việc xem xét các mối đe dọa và tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội do
biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế mà chưa đánh giá một cách toàn diện về
sinh kế người dân theo khung sinh kế bền vững.
Tài liệu này tiến hành lập bản đồ dễ bị tổn thương đối với trường hợp của Tajikistan quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu ở Đông Âu và khu
vực Trung Á.
Tại Việt Nam, cùng với các hoạt động được đầu tư cho nghiên cứu về biến đổi
khí hậu, nhiều hoạt động nghiên cứu về sinh kế và sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí
hậu. Năm 2010, MONRE và UNDP đã xuất bản tài liệu về “Xây dựng khả năng phục
hồi: Chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động biến
đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam”. Tài liệu này đã cho thấy mối quan hệ sinh kế
vùng ven biển và khả năng thích ứng trước tác động của biến đổi khí hậu mà nghiên
cứu điển hình được thực hiện tại hai tỉnh Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế trong khuôn khổ
dự án “Đói nghèo và Môi trường”. Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, UNDP
đã sử dụng khung sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu để phân tích khả
24
năng thích ứng của sinh kế ven biển. Trong báo cáo này, các tác động của biến đổi khí
hậu đã được phân tích cụ thể đồng thời các chính sách, thể chế cũng đã được nhắc đến
trong vai trò thúc đẩy khả năng thích ứng của cộng đồng làm sinh kế ven biển. Kết quả
của báo cáo là đưa ra các khuyến nghị và một chiến lược thích ứng cho sinh kế vùng
ven biển miền trung. Tuy nhiên, các kết quả về năng lực thích ứng còn mang tính định
tính và tính dễ bị tổn thương mới chỉ bước đầu được mô tả.
Năm 2011, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường đã xuất bản tài
liệu hướng dẫn “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp
thích ứng”. Các công cụ sử dụng trong đánh giá tác động biến đổi khí hậu đã được giới
thiệu trong cuốn tài liệu này. Đồng thời các giải pháp thích ứng đặc biệt là thích ứng
dựa vào cộng đồng đã được tập trung phân tích.
Cũng trong năm này, Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai (DMC) đã
liên kết cùng chương trình phát triển liên hợp quốc và Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn xuất bản “Tài liệu kỹ thuật quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi
khí hậu”. Tài liệu cung cấp những kiến thức từ cơ bản đến nội dung chuyên sâu và chi